Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Lỗi Nhịp Trái Tim

Chiều nay, chậm rãi bước bên nhau dạo mát quanh vườn, ngang luống hoa cánh chuồn đang nở rộ, chợt Hạ hỏi anh về sự thắc mắc của mình từ bấy lâu nay.  - Anh à ! Sao nhà mình lại trồng loài hoa dơn sơ, tầm thường như loại cỏ dại này, mà không là hồng, cúc, lan, huệ, lưu ly, cẩm chướng... hay một loài hoa vương giả nào khác hả anh ?  Thiệu Dân hơi khựng lại đúng một giây, rồi nhìn Hạ hỏi dò :  - Em hỏi chi vậy ?  Hạ cũng lấy làm lạ cho cử chỉ không bình thường của anh.  - Sao vậy ? Em có nói sai điều gì à ?  Anh hơi lựng khựng rào đón :  - Nhưng em hứa không được giận anh mới nói.  Hạ nhìn nhìn anh một lúc rồi cũng gật đầu, nhưng phải mất vài giây như suy nghĩ thật chu đáo mọi điều trước khi nói, với gương mặt đanh lạnh.  - Vì ngày trước lúc anh yêu Bích Ly, cô ấy nói rất ghét loài hoa này, vì nó vừa vô duyên vừa không hương sắc . Khi cổ chia tay anh chạy theo người khác, lúc đó anh rất tuyệt vọng chán đời. lại vừa oán hận cô ta, nên anh quyết định trồng nó để trả thù và nhìn nó mà nhớ đời cho sự ngu muội, mù quáng của mình khi đem trái tim nguyên sơ trao cho quỷ dữ.  Hạ nhìn anh lạ lẫm . Lúc này mặt anh dịu lại, nói tiếp :  - Nhưng theo thời gian, anh đã nghiệm ra rằng : cô ta không xứng đáng và thấy mình lúc đó thật trẻ con, nên anh quên ngay cô ấy trước khi cưới em . Rồi dần dần anh lại thấy loài hoa này cũng dễ thương, nên anh bảo chú Tám chăm sóc cẩn thận hơn.  Nói xong, anh nhìn cô nheo mắt :  - Anh đã nói thật tất cả rồi đó, em có tin không ?  Hạ hỉnh mũi.  - Em tin anh, nhưng chưa là tất cả . Vì theo em biết, anh rất đào hoa.  Anh khịt mũi :  - Vậy em còn muốn điều tra gì nữa đây ?  Hạ Ỡm ờ :  - Em muốn anh tự nguyện.  Anh gãi đầu như khó xử :  - Làm sao anh nhớ nổi mà khai.  Hạ trợn mắt kêu trời :  - Trời đất ! Anh yêu hết người đẹp hiện diện trên đất này sao ?  Anh nhăn nhó, giọng ỉu xìu :  - Làm gì có . Chỉ một mình em còn sắp tắt thở rồi, anh đâu dám đèo bồng.  Hạ chì chiết :  - Anh làm như hiền lắm . Về chuyện này còn phải xét lại.  - Thôi mà em, anh "tu" lâu lắm rồi, em không thấy sao ?  Hạ nhìn vào mắt anh nói như tâm sự :  - Em biết anh "ghê" lâu lắm rồi, nhưng không biết tại sao vẫn cứ yêu . Anh thấy em có khờ dại lắm không ?  - Đừng nói vậy, anh buồn chứ em . Yêu anh là em khôn ngoan đó chứ ở mà khờ . Em có biết bao nhiêu người muốn như em mà có được đâu.  - Anh cao giá dữ vậy sao ?  Anh kéo Hạ Ôm vào lòng, âu yếm :  - Nhưng còn thua em xa.  Hạ vùi đầu vào ngực anh, thủ thỉ :  - Anh có biết là em yêu thích loài hoa cánh chuồn nhất trong các loài hoa không ? Nên ngày đầu tiên bước về nhà chồng, luống hoa này đã đập vào mắt em trước nhất và đột nhiên em cảm thấy yêu ngôi nhà và cảnh vật ở đây vô cùng . Tuy hoa không có hương thơm ngào ngạt, mỏng manh dễ vỡ, nhưng rất thanh nhã tinh khôi . Anh nhìn kỹ xem, hoa thật quyến rũ mà lại dễ trồng . Dù bất cứ nơi đâu, chúng cũng sống được.  Thiệu Dân chưng hửng nhìn cô :  - Sao nào giờ anh không nghe em nói ? Vậy là vô tình anh đã làm được một việc có ý nghĩa cho vợ anh rồi . Vậy thưởng anh đi chứ !  - Hổng dám đâu . Em còn chưa hỏi tội anh ở đó mà thưởng.  Thiệu Dân ngơ ngác :  - Ủa ! Sao kỳ vậy, anh có tội gì ?  - Không phải sao ? Hồi đó anh còn không thèm nhìn mặt em méo, tròn ra sao nữa, chứ ở đó mà nói đến chuyện hoa lá cành . Hơn nữa anh trồng hoa là để trả thù chứ không phải vì em.  Anh nhăn mặt kêu lên :  - Trời ! Vậy mà em cũng nói được . Anh giải thích chuyện này rồi, em còn muốn gì nữa ?  Hạ cười khúc khích khi thấy mặt anh méo xẹo . Anh siết Hạ chặt hơn, thì thầm :  - Định ăn gian anh, phải không ?  Hạ mắc cỡ đẩy anh ra, vì cô biết anh đang muốn hôn cô.  - Thôi đi mẹ nhìn thấy bây giờ.  Thiệu Dân lì lợm :  - Anh không sợ.  Hạ la lên, dọa :  - Anh làm em đau rồi nè.  Anh tưởng thật, buông Hạ ra ngay không dám đùa dai . Anh bảo :  - Vào nhà đi em, sắp tối rồi. Một tuần lễ sau, Vọng Thường từ Đà Lạt vào lại Sài Gòn . Lúc này, Hạ thấy anh buồn hơn, lầm lì như chiếc bóng . Anh thường ra khỏi nhà rất sớm, mà về lại rất khuya, có khi say mèm . Mẹ chồng cô thấy vậy lo lắng hỏi, anh bảo bận giao dịch chuyện làm ăn.  Hôm nay cũng chỉ một mình Hạ Ở nhà, ai nấy đều có công việc riêng . Dì Tư thì đi chợ . Đang ngồi nghe nhạc nơi phòng khách, chợt chuông cửa reo lên . Tưởng dì Tư đi chợ về, Hạ đi ra mở cổng . Trước mặt cô không phải là dì Tư mà là Vọng Thường, cùng với hai người đàn ông lạ, khá thanh lịch và một cô gái thật đẹp . Một nét đẹp rực rỡ nhờ biết tận dụng phấn son và quần áo thời trang đắt tiền . Hạ gật đầu chào rồi cùng họ vào nhà . Vọng Thường làm một màn giới thiệu.  Anh vỗ vai người bạn tên Vĩnh là người đàn ông có nước da nâu đồng thật mạnh mẽ có nụ cười thật duyên . Còn người đàn ông cỡ tuổi Vọng Thường tên Thạch da hơi ngâm, đặc biệt anh ta có đôi mắt thật đen, tia nhìn rất dữ, gương mặt góc cạnh nét đàn ông đượm sương gió phong trần . Còn cô gái có cái tên thật kiêu kỳ : Mỹ Phụng.  Quay qua chỉ vào Hạ, anh nói với mọi người . Nghe thì đơn giản, nhưng tinh ý một tí ai cũng nhận ra bên trong câu nói có phần chua chát :  - Còn đây là Khiết Hạ, vợ anh Thiệu Dân, là chị dâu của tôi đó các bạn.  Anh nhấn mạnh từ "chị dâu" nghe rất nặng.  Hạ miễn cưỡng gật đầu đáp lễ rồi viện cớ để cáo từ.  - Các anh chị cứ tự nhiên, tôi bận chút việc . Xin phép vào trong.  Vọng Thường đưa tay ngăn lại, mắt hơi nheo :  - Hạ ngồi chơi đã, lâu lâu mới có dịp rủ bạn bè về nhà chơi, chẳng lẽ Hạ không nhín chút thời gian nói chuyện cho vui với bạn bè tôi được sao ?  Cách nói chuyện như ra lệnh của Vọng Thường làm Hạ khó chịu . Nhưng trước mặt người lạ, Hạ đành làm thinh nuốt giận.  Thấy vậy, anh bạn tên Vĩnh lên tiếng :  - Chị ngồi chơi cho vui, chúng tôi đều quen biết anh Dân cả . Nghe tin ảnh cưới vợ, nhưng đến hôm nay mới biết mặt . Bởi hôm đám cưới, chúng tôi đều bận công tác nước ngoài, nên không dự được . Thôi thì bây giờ gặp mặt làm quen cũng chưa muộn, phải không ?  Thấy Vĩnh cởi mở, Hạ cũng dịu dàng :  - Không có chi . Nếu đã là người quen thì không có gì là muộn cả.  Vọng Thường kín đáo nhìn cô, rồi nhìn các bạn, mời :  - Mời các bạn uống nước.  Anh bưng ly nước cam đưa tận tay Hạ giọng ân cần :  - Hạ uống nước cam đi, rất tốt cho sức khỏe.  Hạ nhận ly nước rồi đặt xuống bàn . Cô thấy ngượng với ba đôi mắt đang tò mò nhìn mình nên đâm cáu . Nhất là Mỹ Phụng, tia nhìn sắc lạnh pha nỗi ghen hờn tức tối.  - Tôi lại không thích uống nước cam . Các anh, chị cứ tự nhiên.  Vọng Thường phật ý nhìn chỗ khác . Mỹ Phụng lại châm chọc :  - Cùng chung dưới mái nhà bao nhiêu năm mà sở thích của chị Hạ, anh cũng không biết thì quá tệ . Bởi vậy anh mới thua.  Vọng Thường trừng mắt nhìn cô, giọng gắt gỏng :  - Ai mượn em nhiều chuyện.  Mỹ Phụng quắc mắt lại anh định gây hấn.  Thấy tình hình hơi căng thẳng, Vĩnh giảng hòa :  - Cho tôi xin đi các bạn . Chỉ một ly nước thôi mà, đâu có gì phải ầm ĩ.  Vọng Thường rít thuốc liên tục, vẻ mặt khó đăm đăm, làm bầu không khí vui vẻ như chùn lại . Lúc này anh chàng tên Thạch mới lên tiếng, mắt nhìn Hạ chăm chăm không cần che giấu :  - Tôi cũng có nghe bạn tôi là Hoàng Đáng ca ngợi về chị khá nhiều, nên mới có dịp diện kiến, quả không sai . Anh Dân thật có mắt tinh đời  Mỹ Phụng xen vào, giọng mỉa mai :  - Tượng đá mà hôm nay còn mở miệng khen thì chị đúng là trên cả tuyệt vời.  Hạ nhíu mày suy nghĩ : "Cô đâu thù oán gì với cô ta, mà sao cô nàng cay cú trong từng lời nói ? Được dịp là cô ta không bỏ qua một cơ hội nào . Đúng là thứ đàn bà lòng dạ hẹp hòi . Hạng người này cũng không nên kết thân làm gì chỉ tổ mang họa vào thân . Vậy mà Vọng Thường và những người bạn của anh sao có thể kết bạn được với cô ta không biết ?"  Dứt dòng suy nghĩ, Hạ buông giọng lạnh lùng :  - Cám ơn lời khen tặng của các anh chị, tôi không dám nhận vì tôi cũng chẳng có gì đặc biệt.  Vừa dứt câu, Hạ đứng dậy dù Vọng Thường đưa mắt nhìn cô không vừa ý.  - Xin lỗi, tôi có chút việc phải vào trong.    Mời các bạn đón đọc Lỗi Nhịp Trái Tim của tác giả Thụy Vũ.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Con Trâu - Trần Tiêu
Từ rằm tháng hai sang đầu tháng ba, lại suốt tháng ba sang tháng tư, không một giọt mưa. Cây cối xơ xác như sau một trận giông tố. Chỉ trừ một vài thứ cây chịu khô, chịu nắng như cây si, cây đa, cây tre là giữ được màu xanh tươi. Bao nhiêu ruộng đồng cao đều nẻ toác. Những cây lúa cằn cỗi đâm tua tủa lên trời những lá cứng, vàng úa, ngọn cháy xém. Không còn kiếm đâu ra nước mà tát. Các ao chuôm cạn khô để phơi đáy bùn phần nhiều phủ cỏ và những cây cúc dại, hoa vàng chóe. Chỉ mười hôm không mưa nữa là đi đời cả một cánh đồng hàng nghìn mẫu. Nếu được cái lạch con ăn thông với cái đầm ở đồng cửa (ruộng triều) thì cũng chưa đến nỗi hoàn toàn thất vọng. Khốn nỗi các cụ không dám cho đào, sợ đứt long mạch, động đến làng, đến mồ mả nhà các cụ. Ngày năm ngoái, hôm làng họp về việc cấp điền, ông Rao bàn đến vấn đề đào ngòi xây cống liên tiếp đồng nọ sang đồng kia để phòng đại hạn đã bị các cụ nhiếc móc thậm tệ. Các cụ cho ông là một người thiển cận, chỉ biết việc sờ sờ trước mắt, không nhìn xa đến tương lai, đến dòng dõi con cháu. Rồi các cụ kết luận: - Thầy không am hiểu lý số có khác. Người ta không sợ nguy khi nào người ta không biết cái nguy. Thầy vào hạng người ấy đấy, thầy giáo ạ. Chúng tôi nói thầy đừng giận. *** Trần Tiêu (1900 - 1954) là một nhà văn Việt Nam. Ông là em ruột của Khái Hưng và là "cộng tác viên thân tín" của Tự Lực văn đoàn. Trần Tiêu sinh tại xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Sau khi đậu bằng thành chung,[Ghi chú 1] ông mở trường dạy tư. Trần Tiêu không có ý định viết văn nhưng được sự khuyến khích của Khái Hưng nên cũng bước vào nghề văn khi đã 36 tuổi, và có một vài tiểu thuyết như Con trâu, Chồng con. Sau cách mạng tháng Tám, Trần Tiêu viết tiểu thuyết Làng Cầm đổi mới phản ánh sự thay đổi của làng Cổ Am. Khác với Khái Hưng, Trần Tiêu đi theo cách mạng, làm Ủy viên Hội đồng nhân dân xã Cổ Am và tham gia kháng chiến chống Pháp một thời gian. Sau vì ốm nặng Trần Tiêu trở về Hải Phòng chữa bệnh rồi dạy học tư ở trường trung học Bạch Đằng. Ông mất ở Hà Nội năm 1954, có tài liệu ghi ông mất tại Hải Phòng. Ông là cha của giáo sư, Nghệ sĩ Nhân dân Trần Bảng và ông nội của diễn viên, đạo diễn Trần Lực. Mời các bạn đón đọc Con Trâu của tác giả Trần Tiêu.
Nam Tước Phôn Gôn-rinh - Yuri Dold-Mikhajlik
Câu chuyện kể về sĩ quan tình báo Liên Xô, Lieutenant Goncharenko, dưới cái lốt là Nam tước Heinrich von Goldring, được cử thâm nhập sâu vào sào huyệt của Đức. Anh đã trải qua nhiều tình huống hiểm nguy và căng thẳng trên địa bàn hoạt động rộng khắp: Đức, Pháp, Ý,… Bên cạnh những cuộc đấu trí, những âm mưu, câu chuyện còn kể lại câu chuyện về tình yêu thời chiến. Cũng như những tiểu thuyết tình báo, phản gián khác, việc thưởng thức từng chi tiết và sự gay cấn là quan trọng, chứ không chỉ hiểu tóm tắt nội dung. Nam tước Phôn Gôn Rinh (И один в поле воин) – Iuri Dold-Mikhajlik (Юрий Дольд-Михайлик) Thật ra tựa đề Nam tước Phôn Gôn-rinh (Von Goldring) là do Nhà xuất bản đặt cho bản dịch tiếng Việt. Tựa gốc tiếng Nga có nghĩa là “Một mình trên chiến trường vẫn là chiến sĩ”. Đây là cuốn tiểu thuyết tình báo của Liên Xô, viết về thời kỳ chiến tranh với Đức Quốc xã. Tôi chưa có điều kiện để tìm hiểu xem tác phẩm này có nằm trong danh sách những tiểu thuyết tình báo hay nhất hay không, nhưng có thể nói đây là cuốn sách kinh điển trong thể loại này. Tác giả là nhà văn người Ukraine, cho nên tôi gặp nhiều kiểu phiên âm tên trong tiếng Anh (và cả trong tiếng Việt, tất nhiên). Mikhajlik, Mykhailyk hay Mikhailik đều được dùng, và hình như tác phẩm này chưa được dịch ra tiếng Anh. (Đây cũng chính là điểm thú vị của người đọc sách Việt Nam: sách Nga Xô hay Âu Mỹ gì cũng có cả!?). Cuốn sách này cũng đã được dựng thành phim tên “Xa Tổ quốc” (Вдали от Родины / Far from the Motherland) năm 1960. Tôi đọc bản tiếng Việt do NXB Thanh Niên tái bản năm 1982, gồm 2 tập dày cộp, do Trọng Phan – Hà Bắc dịch. Đã gần 30 năm nên giấy đã trở nên đen, chữ khá nhòe. Hy vọng sẽ có những lần tái bản đẹp hơn để các bạn thưởng thức. ***     Cách đây hơn 40 năm, năm 1960, lần đầu tiên cuốn "Nam tước Phôn Gôn-rinh" của Mỉ-khai-lich in ra đã gây được dư luận tốt trong đông đảo bạn đọc trẻ tuổi nước ta. Đây là một trong mười chuyện tình báo hay nhất của Liên Xô cũ, trước năm 1959.         Nội dung chủ yếu của cuốn sách: Dựa vào một chuyện có thật, tác giả dựng nên hình tượng người báo Xô-viết nhân vật Nam tước Phôn Gôn-rinh - nhận mệnh lệnh tình báo chiến lược của Bộ Tư lệnh Hồng quân Liên Xô vào hoạt động tận sào huyệt của bọn phát-xít Đức, trong Chiến tranh thế giới thứ hai.         Một mình hoạt động trên một chiến trường rất rộng, từ Liên Xô qua Đức, sang Pháp, đến I-ta-li-a, người tình báo Xô-viết gặp vô vàn khó khăn, nhiều lúc tính mệnh tưởng chừng như nghìn cân treo sợi tóc. Nhưng nhờ vào thông minh và lòng dũng cảm, người chiến sĩ ấy đã chiến đấu và thắng trở trong niềm hân hoan của nhân dân và Hồng quân Liên Xô.         Tục ngữ Nga có câu: "Một trên chiến trường không phải là chiến sĩ".Tác giả viết tác phẩm này, xây dựng nên hình tượng Nam tước Phôn Gôn-rinh và đặt tên cho tác phẩm của mình: "Một mình trên chiến trường vẫn là chiến sĩ"  (И один в поле воин). Tên sách "Nam tước Phôn Gôn-rinh" là Nhà xuất bản chúng tôi đặt năm 1960. Điều đó biểu thị thái độ của người đã khẳng định bản lĩnh của con người Xô-viết, khẳng định sức mạnh chân lý và chính nghĩa của cuộc chiến tranh chống phát-xít, do Liên Xô cũ tiến hành, để cứu loài người khỏi họa diệt vong.         Và, điều đáng nói hơn cả ở cuốn này tác giả lý giải cái cội nguồn làm nên bản lĩnh và mạnh của người báo Xô-viết. Đó là tình yêu nồng nàn đối với Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và tình cảm quốc tế thắm thiết. Như thế, yêu tổ quốc và tình cảm quốc tế trong sáng là nội dung tư tưởng chủ đê nổi bật của tác phẩm. Tác phẩm này đã được xưởng Mốtxphim đưa lên màn ảnh với cái tên "Xa Tổ quốc", do Bôn-đa-súc, một nhà hoạt động nổi tiếng của nền điện ảnh Xô-viết đạo diễn.         Cuốn "Nam tước Phôn Gôn-rinh" lần đầu ra ở nước ta cách đây đã hơn 40 năm. Nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng, chúng tôi cho tái bản cuốn sách với hy vọng bạn đọc vẫn tìm được ở đây sự say mê với nhân vật "Nam tước Phôn Gôn-rinh". NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN          Mời các bạn đón đọc Nam Tước Phôn Gôn-rinh của tác giả Yuri Dold-Mikhajlik.
Võ Sĩ Lên Đài - Ma Văn Kháng
Võ sĩ lên đài là tiểu thuyết với những câu chuyện và chi tiết có thật, hấp dẫn... ít ai biết về tuổi trẻ của một thời hào hùng. Chuyện xảy ra tại Hà Nội những năm chống thực dân Pháp sau ngày toàn quốc kháng chiến. Cuộc đấu tranh của các thanh thiếu niên Việt Nam yêu nước chống bọn thực dân cùng những kẻ cơ hội thông qua môn thể thao quyền Anh, âm thầm và quyết liệt. Các thiếu niên, theo năm tháng dần trở thành thanh niên, giàu tình cảm và sâu sắc, một mặt chăm chỉ học hành, mặt khác bí mật tham gia các hoạt động yêu nước, chống xâm lược và việt gian ngay trong thành phố. Trong cuộc chiến vì cái đẹp của môn quyền Anh, một biểu trưng của tinh thần thượng võ, lòng can đảm, tinh thần bất khuất của ông cha đã được thấm nhuần và thể hiện qua các cuộc giao đấu của Nhân và Tùng, có cả thắng và thua, nhưng họ đã tìm thấy bài học lớn: có thể thất bại để tìm lại sức mạnh nội lực của mình. Tiểu thuyết dựa trên những chi tiết có thật về cuộc đời của Phạm Xuân Nhàn, võ sĩ quyền Anh nổi tiếng những năm 50 của thế kỷ trước (ông đã từng là võ sĩ vô địch quốc gia, tham dự Á vận hội năm 1954 tại Manila, Philipinnes). Một giai đoạn kháng chiến với cách thể hiện sinh động cuộc sống học đường của thiếu niên học sinh Hà Nội đô thành trong thời kỳ Pháp tạm chiếm, các hoạt động thể thao, thi đấu, những câu chuyện và chi tiết có thật ít ai biết vì chưa có tài liệu sách báo nào nói tới…, tất cả đã làm nên giá trị đặc biệt cho cuốn tiểu thuyết mới của nhà văn Ma Văn Kháng. *** Cuốn sách đã được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt thành, đặc biệt về mặt cung cấp và hiệu đính các tư liệu chuyên môn, kỹ thuật của bác sĩ y học thể dục thể thao Phạm Xuân Nhàn, cựu võ sĩ quyền Anh, vô địch Quốc Gia, tham dự Á Vận Hội năm 1954 tại Manila-Philippin. Được xuất bản lần này, cuốn sách một lần nữa là lời tri ân của tác giả với bác sĩ - võ sĩ Phạm Xuân Nhàn. *** Ma Văn Kháng lao động văn chương như một người H'Mông trồng bắp trên núi, lặng lẽ, cần cù, kiên nghị. Không ồn ào to tiếng với ai. Nét mặt anh cũng có cái vẻ chất phác núi rừng, ít nói, ít tranh luận, nghe ai nói nhiều chỉ gật đầu, hơi như ngơ ngác nữa. Độc giả văn chương quen biết anh bằng tập Xa phủ (1969), tập truyện đầu tay, xinh xinh và đáng yêu như những chú thỏ non trong rừng rậm. Và sau đó thì đều đặn, năm in một tập, năm in hai tập, ở các Nhà xuất bản Văn học, Thanh niên, Phụ nữ, Công an nhân dân, Lao động và Kim đồng. Tính đến Đồng bạc trắng hoa xòe là ấn phẩm thứ mười một của anh trong vòng thập niên trở lại đây, thuần về miền núi. Văn học miêu tả dân tộc miền núi, nói nghiêm túc, mới chỉ có sau Cách mạng tháng Tám, trong kháng chiến Việt Bắc. Những tiểu thuyết đường rừng của Lan Khai trước kia (Tiếng gọi của rừng thẳm, Truyện đường rừng, Suối đàn), ít nhiều của Thế Lữ (Vàng và Máu, Một đêm trăng), chỉ là những truyện mượn rừng núi nhằm gây một cảm giác ly kỳ rùng rợn. Người đặt nét bút đầu tiên khai phá vùng núi cao trong văn học Việt Nam phải kể là Nam Cao với Ở rừng (1948). Đấy mới chỉ là những phác thảo trong những trang nhật ký duyên dáng của anh, nhưng bóng dáng người miền núi hiện ra đã thật là có tình và đáng yêu. Rồi Nam Cao mất, chưa kịp làm gì thêm cho miền núi nữa. Cùng sống với Nam Cao là Tô Hoài, có Núi Cứu quốc (1948). Vẫn chỉ là những nét phác thảo. Phải đến năm 1953, cái vùng đất biên cương núi non trùng điệp vòng phía Tây Bắc Tổ quốc mới lấp lánh trong văn học Việt Nam với Mường Giơn giải phóng và Vợ chồng A Phủ. Và sau nữa thì tiểu thuyết Miền tây (1967) khẳng định mảng văn học miền núi trong bức tranh toàn cảnh văn học cách mạng Việt Nam là không thể không chú ý được, là đã đóng chốt vào rồi. Nhà văn Tô Hoài với ngọn bút lão luyện và tài hoa, đã chấm phá bức tranh thủy mạc về người về cảnh miền núi chinh phục chúng ta từ nhiều năm nay. Con dế mèn phiêu lưu đã xòe cánh trên vùng Tây Bắc... một lời khen rất có duyên về anh, và chứng tỏ cái uy thế tuyệt đối của anh về địa bàn miền núi. Lúc ấy Ma Văn Kháng vẫn còn là cậu học trò cần cù học, đọc và lầm lũi như chú bé dân tộc theo mẹ đi chợ, đi theo con đường của Nam Cao, Tô Hoài khai phá. Tiếp bước cha anh... đấy là truyền thống dân tộc. Tác phẩm Đồng bạc trắng hoa xòe (tiểu thuyết, 1979 Vùng biên ải (tiểu thuyết, 1983) Người Thợ Mộc Và Tấm Ván Thiên Gặp Gỡ Ở La Pan Tẩn Trăng non (tiểu thuyết 1984) Phép lạ thường ngày Thầy Thế đi chợ bán trứng Mưa mùa hạ (tiểu thuyết 1982) Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết, 1985) Võ sỹ lên đài Thanh minh trời trong sáng Hoa gạo đỏ Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết 1989) Đám cưới không giấy giá thú Đám cưới không có giấy giá thú (tiểu thuyết, 1989) Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết 1992) Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986) Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn 1988) Giấy trắng (tiểu thuyết) Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988) Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992) Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994) Ngoại thành (truyện ngắn 1996) Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập 1996) Vòng quay cổ điển (truyện ngắn 1997) Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (hồi ký 2009) Một mình một ngựa (Tiểu thuyết 2007) Một Chiều Dông Gió Một Nhan Sắc Đàn Bà Trốn Nợ Mời các bạn đón đọc Võ Sĩ Lên Đài của tác giả Ma Văn Kháng.
Đường Một Chiều - Nguyễn Mộng Giác
Đường Một Chiều là một cuốn tiểu thuyết tình cảm, phản ảnh một góc nhỏ xã hội miền Nam trong thời chinh chiến, tất cả xoay quanh câu chuyện về một vụ thảm sát khó hiểu diễn ra ngay trong nhà của thiếu tá Lộc.  Nhân vật chính là một sĩ quan cấp tá của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông đồn trú xa nhà với chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng một tiểu đoàn tác chiến. Gia đình ông gồm Thúy, vợ ông, bé Ly, 14 tuổi con riêng của bà Thúy và 2 đứa con nhỏ. Ngoài ra, hạ sĩ Ninh, được vợ chồng ông xem như em, ở chung nhà, vừa làm nhiệm vụ tài xế vừa làm quản gia cho gia đình. Chính Ninh là người mở ra thảm kịch gia đình cho thiếu tá Lộc. Toàn bộ nội dung cuốn sách là những phiên xử, những góc khuất trong mối quan hệ của Ninh với các thành viên trong gia đình Lộc, những suy nghĩ của người nhà nạn nhân cũng như bị can, những tình tiết giả thiết mà báo chí, luật sư thêm vào trong vụ thảm sát. Sự việc cuối cùng rồi sẽ ra sao? Liệu Lộc có tha thứ cho cấp dưới của mình? Liệu Ninh có bị xử đúng tội theo như pháp luật? Liệu các con của Thúy có thôi ám ảnh trước cái chết của mẹ mình? Đường Một Chiều là một tác phẩm khá nổi bật của Nguyễn Mộng Giác và xứng đáng là một trong những tác phẩm xuất sắc của nền văn học chế độ Sài Gòn cũ. *** Nguyễn Mộng Giác (1940 - 2012) là nhà văn Việt Nam. Năm 1981, ông rời quê hương, định cư tại Hoa Kỳ vào cuối năm 1982, và rồi mất tại đây vào tháng 7 năm 2012. Ông sinh ngày 4 tháng 1 năm 1940 tại thôn Xuân Hòa, xã Bình Phú, quận Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn), tỉnh Bình Định, miền Trung Việt Nam. Thời kháng chiến chống Pháp 1946 đến 1954, ông học tiểu học và trung học tại vùng kháng chiến. Sau Hiệp định Genève 1954, ông tiếp tục học tại trường Cường Để (Quy Nhơn), trường Võ Tánh (Nha Trang), rồi học năm chót của bậc trung học tại trường Chu Văn An (Sài Gòn). Sau khi học một năm ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ông ra Huế học Đại học Sư phạm ban Việt-Hán. Năm 1963, ông tốt nghiệp thủ khoa, khóa Nguyễn Du. Ngay năm ấy, ông được điều đến giảng dạy tại trường Đồng Khánh ở Huế. Năm 1965, đổi ông vào Quy Nhơn làm Hiệu trưởng trường Cường Để. Năm 1973, thăng ông làm Chánh sở Học chánh tỉnh Bình Định. Năm 1974, chuyển ông vào Sài Gòn làm chuyên viên nghiên cứu giáo dục Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa cho đến 1975. Về sự nghiệp văn chương, ông bắt đầu viết văn từ năm 1971, đã cộng tác với các tạp chí: Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Ý Thức. Năm 1974, truyện dài Đường một chiều của ông được giải thưởng Văn Bút Việt Nam dưới thời Việt Nam Cộng hòa . Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, việc sáng tác của ông tạm gián đoạn. Đến năm 1977, ông cầm bút trở lại, và bắt đầu viết bộ trường thiên tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ, và hoàn thành vào năm 1981. Tháng 11 năm đó (tức sau khi vừa viết xong bộ truyện trên), ông cùng con trai vượt biển. Chuyến vượt biển thành công, ông đã đến được đảo Kuku của Indonesia. Trong mấy tháng ở đây, ông đã viết được một số truyện ngắn mà sau này xuất bản thành cuốn Ngựa nản chân bon, và tập I của bộ trường thiên tiểu thuyết Mùa biển động. Tháng 11 năm 1982, ông đến Hoa Kỳ, định cư tại Nam California[3], rồi cộng tác với các báo: Đồng Nai, Việt Nam Tự Do, Người Việt, Văn, Văn Học Nghệ thuật ở nước ngoài. Từ năm 1986, ông làm Chủ bút tạp chí Văn Học ở California, Hoa Kỳ. Đến tháng 8 năm 2004, ông phải ngưng công việc làm báo vì phát hiện mình bị ung thư gan. Sau nhiều năm dài chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo, ông đã qua đời lúc 22 giờ 15 phút ngày 2 tháng 7 năm 2012 (ngày giờ địa phương ở California, tức sáng ngày 3 tháng 7 năm 2012 giờ Việt Nam) tại tư gia ở thành phố Westminster (Orange County, California, Hoa Kỳ), thọ 72 tuổi.   Mời các bạn đón đọc Đường Một Chiều của tác giả Nguyễn Mộng Giác.