Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Khói Lửa

Henri Bacbuyxơ (Henri Barbusse, 1873 – 1935) là một nhà văn cách mạng lớn đã đặt nền móng cho phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Pháp. Ông là một chiến sĩ cộng sản kiên quyết bênh vực những kẻ bị áp bức bóc lột, dũng cảm đấu tranh cho tự do và tiến bộ. Hội nhà văn quốc tế đánh giá ông là “người chiến sĩ phản đối chiến tranh đế quốc đầu tiên và lớn nhất trong văn học thế giới”. Và G. Đimitrôp viết: “Tên tuổi của H. Bacbuyxơ sẽ chói lòa trên những lá cờ của hàng triệu người đấu tranh chống lại thế giới cũ, thế giới của sự bóc lột, của sự nô lệ và của những cuộc chiến tranh ăn cướp”.[1]   Henri Bacbuyxơ sinh ngày 17 tháng 5 năm 1873 tại Axnierơ (quận Xen) nước Pháp. Cha ông, Anđriên Bacbuyxơ, là một nhà viết báo và viết kịch. Mẹ, Eni Benxơ, là con một chủ trại ấp người Anh. Bà mẹ chết lúc Bacbuyxơ mới lên ba tuổi.   Lúc còn là học sinh, Bacbuyxơ đã tỏ ra có biệt tài về văn thơ. Năm 1895, sau khi tốt nghiệp đại học, ông chính thức bước vào nghề viết văn, làm báo. Cũng chính năm đó, ông cho xuất bản tập thơ đầu tay, một tập thơ được Catuylơ Mendet (một nhà thơ Pháp nổi tiếng đương thời) hết sức ca ngợi.   Năm 1903, Bacbuyxơ viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên Những người van xin (Les suppliants) và năm 1908 viết cuốn Địa ngục (L’Enfer). Hai cuốn này được các nhà văn Mateclink và Anatôn Franxơ coi là những tác phẩm lớn của một nhà văn có thiên tài.   Trong giai đoạn sáng tác này, Bacbuyxơ đã bắt đầu đi theo phương hướng hiện thực chủ nghĩa, nhưng mãi đến những năm chiến tranh 1914 – 1918, ông mới thực sự bước vào con đường sự nghiệp của một nhà văn và nhà chiến sĩ cách mạng.   Ngày 19 tháng 7 năm 1914, cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Nguyên nhân chủ yếu của cuộc chiến tranh này là những mâu thuẫn nội bộ của chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt là mâu thuẫn giữa bọn đế quốc Anh và đế quốc Đức. Với mục đích đòi chia lại thị trường thế giới, ngay trong những năm 1879 – 1882 Đức đã liên minh với Áo, Hung và Ý nhằm chống lại Nga, Pháp và Anh. Và từ đầu thế kỷ XX, ở châu Âu đã dần dần thành hình hai phe đối địch. Cuộc chiến tranh thế giới năm 1914 đã lôi cuốn 28 nước với số dân trên một tỷ rưỡi, và có đến 74 triệu người bị động viên.   Lúc đó, Henri Bacbuyxơ đã ngoài bốn mươi, đã quá tuổi tòng quân. Nhưng dù tuổi cao, sức yếu, ông vẫn tình nguyện gia nhập quân đội. Ông vào quân đội không phải để phiêu lưu, mạo hiểm mà là để làm bổn phận đối với tổ quốc và nhìn cho rõ thực chất ghê tởm của chiến tranh đế quốc, đặng vạch trần nó, góp phần tiêu diệt nó. Tháng chạp năm 1914, ông được điều ra mặt trận với trung đoàn bộ binh 231, sống với một tiểu đội mà ông đã mô tả sâu sắc trong tác phẩm Khói lửa (Le Feu) bất hủ.   Sau những ngày lăn lộn ở chiến hào, sát cạnh những người lính bình thường, hàng ngày đụng đầu với gian khổ, khủng khiếp và chết chóc, Bacbuyxơ mang về hậu phương một quyển sổ ghi chép bết bùn. Từ quyển sổ tầm thường ấy, bắt đầu từ cuối năm 1915 và sau 6 tháng, Khói lửa ra đời.   Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1916, Khói lửa được đăng dần trên báo Sự nghiệp, (Œuvre), bị kiểm duyệt cắt mất nhiều chỗ, và năm 1917, được xuất bản thành sách. Ngay từ lúc đầu, độc giả đã nhiệt liệt hoan nghênh, mặc dầu những công kích của bọn sô vanh chủ nghĩa. Tác phẩm đoạt giải thưởng Gôncua (Goncourt) và đến nay đã được dịch ra trên sáu mươi thứ tiếng.   Sau Khói lửa, cuốn Ánh sáng (Clarté), ra đời năm 1919, là một tác phẩm khác nổi tiếng của Bacbuyxơ. Ánh sáng có thể được coi là tiếng lòng của tác giả và của cả một lớp người trẻ tuổi đáp lại tiếng vọng của cuộc cách mạng tháng Mười Nga. Viết Ánh sáng, H. Bacbuyxơ đã gửi vào đấy một mối hy vọng: Từ cảnh chết chóc của chiến tranh, do sức mạnh của quần chúng, một thế giới mới sẽ ra đời, trong đó con người được nảy nở toàn diện và cuộc sống thật là tốt đẹp.   Từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, Bacbuyxơ càng ra sức hoạt động chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình. Ông đã thành lập Hội cựu binh và thương binh ở Pháp (năm 1919) và Tổ chức cứu tế của Cựu binh sĩ (năm 1920). Cũng năm 1920, cùng với Raymôn Lơfevrơ (Raymond Lefevre) và Pôn Vayăng Cutuyriê (Paul Vaillant Couturier), ông sáng lập tạp chí Ánh sáng, cơ quan của nhóm Ánh sáng, một nhóm còn có tên là Tổ chức quốc tế của tri thức. Trong những năm đầu, tạp chí Ánh sáng đã có ảnh hưởng khá lớn, được sự cộng tác của các nhà trí thức tiến bộ toàn thế giới.   Từ năm 1917, trong những bài báo và diễn văn của mình, Bacbuyxơ luôn luôn lên tiếng ca ngợi Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa cộng sản. Đến năm 1923, giữa lúc chính phủ phản động Pháp ráo riết đàn áp phong trào của giai cấp công nhân, lùng bắt các nhà lãnh đạo Đảng cộng sản, Henri Bacbuyxơ đã chính thức gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Ông tuyên bố: “Tôi đã lấy tư tưởng của họ làm tư tưởng của tôi thì ngày nay tôi phải chịu đựng những gian nguy mà họ phải chịu”.   Dưới lá cờ của Đảng, H. Bacbuyxơ càng có thêm nhiệt tình và phương hướng đúng đắn đấu tranh cho chân lý, cho sự nghiệp giải phóng những người bị áp bức bóc lột. Tiếng nói chính nghĩa của ông đã không ngớt vang lên tố cáo mọi bất công và tàn bạo. Năm 1925, ông đã kêu gọi chống chiến tranh xâm lược Marôc. Khi bọn thống trị ở Bancăng tiến hành khủng bố trắng đối với nhân dân vùng này, ông đã sang tận nơi điều tra, đã thành lập những ủy ban bảo vệ nhân dân của cuộc khủng bố và lúc về nước Pháp, đã viết bản tố cáo đanh thép Những tên đao phủ (Les bourreaux) (1925).   Cạnh những hoạt động chính trị có ý nghĩa lớn đó, Bacbuyxơ vẫn hăng say tiếp tục sự nghiệp văn học của mình, một sự nghiệp văn học tích cực phục vụ hoạt động chính trị chân chính. Năm 1925, ông cho xuất bản cuốn Những sự trói buộc (Enchainements) một cuốn sách vạch trần nguyên nhân đầu tiên của mọi tội lỗi: nạn người bóc lột người.   Năm 1926, cuốn Sức mạnh (Force), tập truyện ngắn, và năm 1927, cuốn Jêdu (Jésus) của ông ra đời. Cũng trong năm 1927, Bacbuyxơ đã đi thăm Liên-xô, và ở Mạc-tư-khoa, ông đã tham dự vào việc thành lập Tổ chức quốc tế của các nhà văn cách mạng, mà sau này ông là một trong những người lãnh đạo. Khi trở về Pháp, ông đã viết cuốn Đây, người ta đã làm gì cho xứ Georgi (Voici ce qu’on a fait de la Géorgie) (1927). Năm 1928, Bacbuyxơ sáng lập tờ tuần báo Thế giới (Le monde). Tờ báo được coi như là một công cụ để giải phóng trí thức và là cơ quan liên lạc của những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn hóa.   Năm 1932, Bacbuyxơ viết tác phẩm Đời Zôla (La vie de Zola). Trong công trình lịch sử và phê bình văn học này ông đã vạch rõ tác dụng tích cực và những hạn chế của Zôla và của chủ nghĩa tự nhiên trong văn học. Ông cũng đã trình bày tính chất và nhiệm vụ của văn học là phải thật sự hiện thực và phải phục vụ cho sự nghiệp giải phóng con người.   Trong những năm cuối cùng của đời mình, Bacbuyxơ đã ra sức chống chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh đang đe dọa thế giới, mặc dầu sức khỏe của ông ngày càng giảm sút. Ông đã tham dự và lãnh đạo nhiều cuộc hội nghị quốc tế chống chiến tranh và chủ nghĩa phát xít. Năm 1933, ông đã sang tận nước Mỹ nói chuyện trước nhiều cuộc mít-tinh và thành lập Liên đoàn chống chiến tranh và chủ nghĩa phát xít ở châu Mỹ.   Xtalin một thế giới mới nhìn qua một con người (Staline, un monde nouveau vu à travers un homme) ra đời năm 1935, là tác phẩm cuối cùng của đời ông. Trong cuốn sách này, ông đã hết lòng ca ngợi ý chí, tài năng của Xtalin, người đồng chí, người bạn và người kế nghiệp của Lênin.   Tháng 7 năm 1935, nhận lời mời của các nhà văn Xô-viết, ông lại sang thăm Liên-xô và đã tham dự Đại hội lần thứ 7 của Quốc tế cộng sản. Lúc này, thân thể ông đã suy nhược, lại bị bệnh sưng phổi, nên ngày 30 tháng 8 năm 1935, ông đã từ trần tại Mạc-tư-khoa.   Nhân dân Pháp, nhân dân Liên-xô và nhân dân thế giới hết sức thương tiếc Henri Bacbuyxơ. Suốt trong ba ngày, nhân dân thành phố Mạc-tư-khoa liên tục diễu qua trước linh cữu ông. Sau đó, linh cữu ông được đưa về Pháp và ngày 7 tháng 9 tang lễ đã được cử hành trọng thể ở Pa-ri.   Đối với Việt Nam chúng ta, thân thế và sự nghiệp văn học của Henri Bacbuyxơ đã có ảnh hưởng lớn đến các nhà văn và các nhà hoạt động cách mạng ngay trong những năm trước Cách mạng tháng Tám. Bacbuyxơ đã nghiêm khắc lên án chế độ thuộc địa vô cùng tàn bạo của thực dân Pháp. Đã từ lâu, báo chí Việt Nam đã có những bài giới thiệu H. Bacbuyxơ như một nhà văn dùng nghệ thuật của mình để phục vụ nhân dân, phục vụ chân lý, phục vụ chủ nghĩa xã hội.[2]   Khói lửa mà Henri Bacbuyxơ gọi là “Nhật ký của một tiểu đội” và đề tặng hương hồn những bạn đồng đội đã hy sinh bên cạnh mình ở Cruy và trên sườn đồi 119, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng không những trong sự nghiệp sáng tác của Bacbuyxơ mà cả trong nền văn học hiện đại Pháp.   Có thể khẳng định rằng giá trị chủ yếu của Khói lửa là ở chỗ đã chống đối mãnh liệt chiến tranh đế quốc. Annet Viđan (Annette Vidal), nữ thư ký của H. Bacbuyxơ, đã từng phân tích Khói lửa, coi đó là cuốn tiểu thuyết của chiến tranh, của chiến hào, của người lính, của sự thật và là cuốn tiểu thuyết viết cho nhân dân. Ý nghĩa phản đối chiến tranh đế quốc của tác phẩm biểu lộ trước hết ở chỗ vạch trần sự thật khủng khiếp và cái vô lý của chiến tranh.   Trong Khói lửa, những người phải trực tiếp ra mặt trần phần lớn là công nhân, nông dân và dân nghèo. Lấy tiểu đội của tác giả làm ví dụ: hầu như không có ai là nghệ sĩ, tri thức hoặc tư sản. Dưới bề ngoài bình thường và phức tạp, họ chứa chất những tình cảm dịu hiền, lành mạnh. Họ hết sức thương yêu bố mẹ, vợ con, làng mạc, quê hương, trân trọng giữ từng lá thư nhà để sưởi ấm lòng. Blerơ đã từng chăm chú mài giũa làm chiếc nhẫn tặng vợ, Fuiat những lúc rảnh rỗi đã từng mơ tưởng về quê hương yêu dấu. Pôteclô vì mong thấy mặt vợ mà quên hết mọi gian nguy và trước hoàn cảnh éo le, những ý nghĩ ghen tuông của anh đã pha trộn nhiều niềm tha thứ. Lamuydơ coi trọng tình đồng đội, nhiều lúc quên mình để cứu bạn. “Họ không phải là lính tráng, họ là những con người…”. Nhưng chiến tranh đã bắt buộc người lính làm những điều trái ý muốn và tâm tư của họ. Ở trận địa có khi họ đánh đổi một mạng người lấy một bao diêm, một cặp ống chân lấy một đôi bốt. Họ phải trở thành ích kỷ, phải xoay sở, giành giật lẫn nhau. Có người đã phải kêu lên: “Tiến đến đây, thì ai cũng như thú dữ. Sống mãi như súc vật rồi đến thành súc vật cả nút”… Chiến tranh còn là chia ly, tan tác. Một lá thư của Bikê gửi an ủi mẹ, một bà mẹ suốt đời chỉ sống vì con bị trả về tiểu đội anh khi anh đã vĩnh viễn lìa đời: chiến tranh đã đẩy mẹ anh phiêu bạt không biết đi đâu. Lamuydơ bị đạn đại bác cướp mất Ođôxi và, khi anh được tự do gần nàng, ôm nàng thì nàng đã thành một trong những cái xác rữa nát, hôi thối dưới cái hầm bị sập. Và Pôteclô lìa đời trong lúc hình ảnh vợ anh cười nụ bên cạnh mấy thằng sĩ quan Đức trong căn buồng đầy ánh sáng, ở miền bị Đức chiếm, chưa làm anh hết băn khoăn. Cả một tiểu đội gồm 17 người, đến cuối tác phẩm bị tiêu hao gần hết. Cảm động nhất là cái chết của Mexin Anđrê. “Hắn có sáu anh em… Bốn đứa đã ngoẻo rồi, hai đứa nghoẻo ở Anđat, một ở Sampanhơ và một ở Acgôn…” Và Mexin cũng đã hy sinh.   Trong lúc ấy, bọn giàu sang ở thành thị coi chiến tranh chỉ là một việc bình thường, và cho rằng mỗi người một nghề, chúng ở hậu phương buôn bán, bóc lột làm giàu, công lao cũng không kém những người ra trận!   Bên cạnh việc mô tả đầy tính chất hiện thực cuộc chiến tranh đế quốc với những thảm trạng và bất công của nó; Khói lửa còn phản ánh được quá trình giác ngộ của những người lính. Lúc đầu, họ hục hặc với tất cả, họ phá phách và đôi khi độc ác. Dần dần sự phản ứng ấy đã hướng được vào đúng chỗ. Từ thái độ đối với bọn nhà báo bồi bút, đến sự phản kháng có ý nghĩa trước cái chết của Caja, và cơn phẫn nộ đối với bọn phục hậu, dần dần, người lính đã thấy rằng “một sự khác biệt bắt đầu hình thành giữa những con người, một sự khác biệt thật sâu xa, không thể dung hòa được… sự khác biệt giữa những kẻ bóc lột và những người phải làm quần quật, phải hy sinh tất cả… còn những kẻ khác thì giẫm đạp lên họ, tiến lên, mỉm cười và toại nguyện…”. Bước đầu giác ngộ giai cấp đã khiến họ có những suy nghĩ đúng đắn về chiến tranh: “… từng đoàn quân chui vào lò sát sinh là để cho một giai cấp đeo lon vàng có thể ghi tên tuổi quí phái của chúng vào lịch sử, để cho những kẻ cũng đeo đầy vàng, cũng thuộc vào một đẳng cấp như bọn kia có thể ôm đồm kinh doanh nhiều hơn để phục vụ cá nhân chúng…” Họ biết mình sinh ra là để làm những người chồng, người cha, làm những con người đúng với nghĩa của nó, chứ không phải để làm những con thú dữ cắn xé nhau, gieo khổ cho nhau. Cái băn khoăn của Mactơrô về bọn lính Đức không thích xung phong mà sao vẫn cứ phải ra trận, câu chuyện của anh lính phi cơ ở trạm cấp cứu về những lời cầu nguyện giống nhau trong một buổi sáng chủ nhật của lính Đức và lính Pháp, càng khẳng định thêm tội ác gây chiến của bọn thống trị bóc lột. Họ đã tự đặt nhiệm vụ phải tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt ở Đức và ở tất cả các nước một khi nó bành trướng đến và phải trừ khử chiến tranh ngay trong lòng tất cả các nước. Mục tiêu chiến đấu của họ là rồi đây phải chống những điều tội lỗi chứ không phải chống riêng một nước nào. Xã hội cần có một sự đổi thay và họ “hé thấy một cuộc Cách mạng nào đó lớn lao hơn cuộc cách mạng kia[3]”.   Khi nắm được thực chất của chiến tranh đế quốc, họ đã xác định được lòng tin, tin ở sức mạnh của mình, tin ở ngày mai tươi đẹp, tin rằng xã hội xấu xa sẽ mất, chiến tranh sẽ bị tiêu diệt và tương lai sẽ rực rỡ, vì mặt trời vẫn tồn tại.   Vạch trần được nguyên nhân của chiến tranh, nêu được những mâu thuẫn xã hội, Khói lửa còn đề cao được mối tình quốc tế mới nhóm trong lòng những người lính bị đưa ra mặt trận. Trong bao nhiêu đau khổ và mất mát chung, lính Đức và lính Pháp dần dần hiểu nhau hơn, bước đầu thấy sự phân biệt chủng tộc là một điều vô lý và bịp bợm. Những người lính Pháp coi việc giết được nhiều lính Đức là một điều tội lỗi hơn là một vinh quang. Và lính Đức cũng thế, cũng chửi rủa chiến tranh, chửi rủa cấp chỉ huy của họ. Ở phần cuối của tác phẩm, những bọn dân tộc hẹp hòi được coi là quân dòi bọ và viên cai Bectrăng đã lớn tiếng ca ngợi Lepnick, một lãnh tụ của nhân dân Đức là “nhân vật đã vươn cao mình lên trên cuộc chiến tranh và sẽ luôn luôn sáng ngời vì lòng gan dạ đẹp đẽ và lớn lao…”   Khói lửa đã nghiêm khắc lên án chiến tranh đế quốc giữa lúc đa số đảng trong Đệ nhị quốc tế phản bội quyền lợi của giai cấp công nhân, chạy theo ủng hộ chiến tranh, giữa lúc bọn Trôtxky đề ra luận điệu lừa bịp “không thắng, không bại” nhằm lợi dụng chiến tranh chống lại bước tiến của Cách mạng. Khói lửa là tiếng nói của sự thật vọng lên từ những chiến hào bùn lầy, tuyết đọng, đầy thiếu thốn, và chết chóc. Khói lửa động viên và tập hợp những lực lượng trước kia còn phân tán để chống chiến tranh một cách tích cực hơn.   Không những về mặt nội dung, mà cả về phương pháp nghệ thuật, Khói lửa là một hiện tượng rất mới, rất đặc biệt, rất có ý nghĩa trong văn học Pháp đương thời. Giữa lúc văn học Pháp và văn học các nước phương Tây nói chung vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, đang ngày càng sa vào những khuynh hướng đồi trụy, không lối thoát, giữa lúc chủ nghĩa tự nhiên còn ảnh hưởng khá sâu sắc đến các nhà văn có khuynh hướng tiến bộ, Khói lửa đã mang nhiều yếu tố của chủ nghĩa hiện thực mới, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ngòi bút của Bacbuyxơ vừa phê phán sâu sắc, vừa gợi lên ý niệm về tương lai, bước đầu gây lòng tin tưởng ở cái mới rồi đây sẽ thắng cái cũ.   Điều chủ yếu là trong Khói lửa, Bacbuyxơ đã sử dụng một ngòi bút hiện thực thật sinh động. Chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi phải xây dựng những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Khói lửa, như tác giả đã gọi, chỉ là một tập nhật ký, một tập ghi chép, không phải là một cuốn tiểu thuyết, không tập trung vào một nhân vật nhất định nào cả. Nhân vật ở đây là cả một tiểu đội binh sĩ, mỗi người một khía cạnh, một sắc thái đúc lại làm thành điển hình người lính Pháp trong đại chiến thế giới lần thứ nhất. Cảnh trong Khói lửa cũng thường thay đổi: khi là những chiến hào lầy bùn, âm u và ghê rợn, khi là chặng đường hành quân dài dằng dặc, khi là chỗ trú quân nơi sơn cước, khi là mặt trận khói đạn mù trời, khi là nơi hậu phương lúc nhúc những bọn phục hậu hèn nhát, khi là một làng đã hoàn toàn bị chiến tranh san phẳng v.v… Những cảnh đó, cộng lại, tiếp nhau, đã khiến người đọc hình dung được phần nào hình ảnh nước Pháp điêu đứng trong chiến tranh và làm thành môi trường hoạt động của nhân vật người lính.   Đối với nhà văn hiện thực, những chi tiết của cuộc sống có tầm quan trọng đặc biệt. Chi tiết đưa vào đúng lúc, đúng chỗ, sẽ phản ánh được cụ thể bản chất của sự vật, nâng cao thêm tác dụng phê phán. Bacbuyxơ đã thành công nhiều ở điểm này. Ông đã mô tả sự thật đúng như sự thật, nhưng đã mô tả có khuynh hướng. Không bỏ sót một tí gì tai nghe mắt thấy, ông đã để cho sự vật tự nói lên kết luận, làm cho người đọc với lương tâm và lý trí của họ, thấy hết những đen tối, xấu xa của chiến tranh đế quốc. A. Ivasenkô, tiến sĩ ngữ văn Liên-xô đã nhận xét: “Bacbuyxơ liên miên bất tận trong những mô tả tàn khốc, vì bản thân thực tại cũng tàn khốc. Ở nhà tự nhiên chủ nghĩa, sự thể hiện tự nó là mục đích; ở nhà hiện thực xã hội chủ nghĩa Bacbuyxơ, mô tả cái gì là đứng trên lập trường của một lý tưởng xã hội nhất định và nhằm phục tùng nhiệm vụ tác động đến thực tại về mặt tư tưởng…”[4]   Quan điểm tôn trọng sự thật vì hiểu được ý nghĩa của sự thật đã được Bacbuyxơ biểu hiện khá rõ rệt trong chương “Những lời văng tục”.   Tính chất hiện thực sâu sắc của Khói lửa thực tế đã tác động mạnh mẽ đến người đọc. Một nữ độc giả bình thường đã viết cho Bacbuyxơ: “Đọc xong tác phẩm của ông, tôi như vừa chui ở chiến hào ra…”[5] Có những lá thư khác, gửi từ mặt trận về đã viết: “Ông đã thét lên tiếng thét của chân lý… Tác phẩm của ông là bức tranh của cuộc đời tối tăm như địa ngục của chúng tôi. Chúng tôi cảm ơn ông đã trả thù cho chúng tôi, đã tố cáo chiến tranh, đã vạch cho chúng tôi một tương lai vô cùng vinh quang…”[6]   Cho đến nay (1962) Khói lửa ra đời đã gần năm mươi năm, nhưng vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong văn học thế giới. Chủ nghĩa đế quốc vẫn còn, nghĩa là vẫn còn âm mưu gây chiến. Các nước đế quốc, cầm đầu là đế quốc Mỹ đang ra sức chạy đua vũ trang, gây tình hình căng thẳng trên thế giới. Các khối quân sự Bắc Đại Tây Dương, trung tâm, Đông nam Á và các khối quân sự khác đang đe dọa nghiêm trọng hòa bình và an ninh chung. Và ngay trên đất nước ta, đế quốc Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh vô cùng tàn khốc đối với nhân dân miền Nam Việt Nam.   Đọc Khói lửa, càng ghê tởm những thảm trạng của chiến tranh, càng căm thù bọn đế quốc gây chiến, nhân dân thế giới càng nâng cao thêm ý chí đấu tranh cho hòa bình. Cái quyết định là lòng người. Khói lửa nhen thêm trong lòng mọi người sự căm ghét chiến tranh, nhất định sẽ góp phần xứng đáng vào việc chặn đứng mọi âm mưu gây chiến. Đối với bạn đọc Việt Nam, Khói lửa sẽ góp phần nung nấu thêm chí căm thù bọn Mỹ – Diệm khát máu, nâng cao thêm quyết tâm đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước.   NGUYỄN TRỌNG THỤ – LÊ VĂN TỤNG   Mời các bạn đón đọc Khói Lửa của tác giả Henri Barbusse.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đường Mòn - Chris Womersley
Một tên tội phạm vặt, Lee, thức dậy trong một nhà trọ tồi tàn với bên mạng sườn bị dính đạn và một vali tiền bị đánh cắp. Hắn mơ hồ nhớ lại làm thế nào mà lại đến được đây. Không lâu sau, hắn gặp Wild – một bác sĩ đang cố thoát khỏi cuộc sống bất hạnh của chính mình, và hai người đàn ông bắt đầu một cuộc sống mới an toàn ở vùng ngoại ô. Khi rời bỏ thành phố, họ có một thói quen khó chịu là nhớ lại quá khứ quen thuộc trước đây dẫu họ cố tìm mọi cách lẩn tránh. Lee bị ám ảnh bởi việc kiện tụng ở trong tù trước đây, trong khi Wild lại chạy trốn khỏi vụ kiện tụng của việc cho nhầm thuốc. Nhưng Lee và Wild không đơn độc: họ bị tên gangster già Josef, người đang tìm cách lấy lại số tiền bị đánh cắp và thương lượng với Lee về sự an toàn của chính mình, bám đuôi khắp các vùng đất xa lạ. Cuối cùng, cả ba người đàn ông đó đều buộc phải đương đầu với những bi kịch mà họ đã tìm cách trốn chạy. *** Lee dần thoát khỏi cơn mộng mị, tâm trí hệt như người chết đuối trồi lên từ đáy đại dương. Cơn ác mộng hắn vừa trải qua đầy rẫy cảnh náo loạn, kích động và những pha bủn rủn chân tay. Căn phòng lặng im như tờ, như thể đang chờ hắn mở mắt. Lee nằm cứng đờ, bất động như tượng đá sau vườn, tròng mắt động đậy sau mi mắt khép hờ. Hồi bé, đêm nằm trên giường Lee cũng sợ đủ thứ. Trong bóng tối, cậu bé Lee cố thở thật khẽ để thứ ẩn mình trong bóng đêm ngoài kia không phát hiện ra cậu. Lee chỉ hít vào rồi thở ra thật nhanh, những tưởng bầy ma quỷ lẩn quất ngoài đường lớn hẻm nhỏ chuyên rình bắt trẻ con ăn thịt không thể nhìn thấy mình. Thậm chí hồi lên mười bốn tuổi, có thời kỳ Lee thức suốt đêm với cảm giác sợ sệt ấy. Cậu vật vã, lăn lộn suốt. Thấy thế, Claire, chị gái cậu lại đến bên giường, ôm chặt hai vai em, chờ cho đến khi thằng bé nín khóc. Cô chị chẳng nói chẳng rằng. Hai chị em đều biết nói gì cũng bằng thừa, nhất là sau những gì chúng đã phải trải qua. Lúc này, Lee cố hết sức nằm yên. So với thế giới bên ngoài, hắn muốn mình thật nhỏ bé. Hắn e rằng cảm giác khó chịu khi thức giấc sẽ tác động đến cả ngày dài đang chờ hắn. Hắn cần ngày bình yên. Lee nằm yên thêm giây lát. Bọt khí ấm nóng lục bục trong phổi hắn. Lee lặng lẽ liếm cặp môi khô nẻ. Lát sau, hắn thả lỏng cho nhịp thở đều hơn và mở mắt. Căn phòng lạ trải ra trước mắt hắn như được phủ bằng tấm màn đỏ máu. Nắng mai lọc qua tấm màn cửa mỏng nhẹ như sa. Kia là tường nhà sơn màu vàng nhạt, kia là mấy khung cửa sổ bằng nhôm. Chỉ cần nhìn qua cũng biết đây là phòng trọ. Hình như da và xương không còn là thứ tạo nên cơ thể hắn. Người hắn bây giờ chắc ghép từ vật liệu vô cơ, như vải bạt, dây kẽm, gỗ vụn... ai đó lấy trộm ngoài đường mang về dùng băng keo bó lại một cách tạm bợ. Các khớp xương hắn ê ẩm và một cơn đau nhức nhối dai dẳng nằm ở đâu đó trong cơ thể mà ngay lúc này hắn chưa thể định vị chính xác. Lee nhớ đã có lần hắn mặc áo quần dính máu nằm trên giường chờ hồn về với xác, chờ đầu óc tỉnh táo để hiểu hoàn cảnh hắn đang lâm vào. Từ đó đến bây giờ đã mấy tiếng đồng hồ hay mấy ngày trôi qua rồi? Thi thoảng, tiếng một phụ nữ trung niên lại vang lên ở đâu đó trong căn phòng vắng. Bà ta cúi xuống nghe xem hắn còn thở hay chăng. Chắc bà ta tưởng hắn đã về chầu diêm vương rồi. Lee ngửi thấy mùi thuốc lá và phấn sáp rẻ tiền thoảng từ cơ thể bà. ... Mời các bạn đón đọc Đường Mòn của tác giả Chris Womersley.
Lẩu Chú Mèo Ở Nông Trại - Hành Trần
Lẩu - Chú Mèo Ở Nông Trại là câu chuyện kể về một chú mèo sinh ra ở thành phố bị bán về nông thôn. Từ đó mèo con phải làm quen với cuộc sống ở quê, và cũng từ đó chú kết bạn được với nhiều người bạn mới như gà, chó, chim sâu, cây khế... Xuyên suốt cuốn sách là những bài học về tình bạn và cuộc sống mà mèo con học được. *** Lẩu là một con mèo thành phố. Nó nhớ rõ như vậy. Nó vẫn nhớ như in ngôi nhà mà nó được sinh ra cùng bốn anh chị em khác. Mèo mẹ là một con mèo lai lông dài và có cái lưỡi mềm mại ấm áp. Mèo mẹ là người duy nhất không phân biệt Lẩu và các anh em khác. Bởi lẽ, mèo mẹ vẫn âu yếm và vuốt ve nó. Tất nhiên Lẩu còn quá bé để hiểu vì sao con người lại phân biệt nó với các anh em khác như vậy. Nhưng nhiều lần đang lim dim thưởng thức bầu sữa mẹ, nó thấy một bàn tay thô bạo tóm gáy nó lên soi mói, nó biết chắc đấy là bà giúp việc. Bà chép chép miệng: “Tự nhiên lại nảy nòi ra cái con mèo ta này…” Hình như người ta chê nó xấu. Khi uống nước ở bát nước to màu tím, có lúc Lẩu len lén soi mình, nó thấy mình cũng không đến nỗi nào. Lông vàng như tia nắng, đôi mắt to và cái tai rộng, nó hài lòng với bộ lông ngắn vì nó là con mèo duy nhất mèo mẹ không phải nhắc nhở cẩn thận khi đi vệ sinh để khỏi dây bẩn vào bộ lông như bốn anh chị em lông dài và trắng muốt khác. Một tối se se lạnh, Lẩu đang co người rúc vào mèo mẹ, lim dim giấc mơ ngọt ngào thì nghe tiếng khe khẽ. Đấy là tiếng của bà chủ. Bà bảo bà giúp việc cần giải quyết bớt lũ mèo con, trước khi cô chủ nhỏ trở về vào tuần sau. Bà giúp việc cười khùng khục. Lẩu không biết giải quyết bớt là gì, nó cũng không nghe được gì thêm, vì nó đã buồn ngủ lắm rồi. Lẩu định bụng sẽ hỏi mèo mẹ vào sáng hôm sau khi ngủ dậy. Cứ thế nó thiếp đi vào giấc ngủ ngọt ngào. ... Mời các bạn đón đọc Lẩu Chú Mèo Ở Nông Trại của tác giả Hành Trần.
Mong Manh Tình Đầu - Born
Tình đầu, đẹp như một đóa hoa tầm xuân chớm nở vào một sớm cuối đông. Nhưng, chỉ một cơn gió nhẹ thôi cũng khiến những cánh hoa rụng rơi, tản mác. Thiên Vi và Duy Phong - hai trái tim thuần khiết thuở nào trước những con sóng dữ cuộc đời, không biết từ bao giờ đã chắp vá đầy những vết sẹo mãi chẳng lành. Quá khứ luôn không ngừng bị đào xới, sai lầm luôn không ngừng lặp lại và những vết cứa trong tim luôn không ngừng rỉ máu. Nhưng, còn rỉ máu nghĩa là còn ấm nóng, còn ấm nóng nghĩa là còn thương yêu. Là sẽ có một ngày sau cơn giông bão, bầu trời bỗng sáng trong và cõi lòng chợt bừng tỉnh. Thì ra, yêu thương vẫn ở ngay đó thôi. Thật gần! "Phía sau lưng họ là những cơn gió, thế nhưng chẳng ai thấy lạnh lẽo. Bầu trời sau cơn mưa xuất hiện một cầu vồng rực rỡ, đẹp như một giấc mơ." *** Nắng vàng rộn rã giữa sân trường, từng lớp từng lớp học sinh dắt xe ra khỏi cổng trường, ai nấy đều hớn hở. Trên bệ đá dưới tán cây bàng, một nữ sinh đang ngồi ngẩng đầu nhìn bầu trời đầy nắng qua kẽ lá. Đôi mắt trong trẻo, gương mặt ngây thơ của nữ sinh khiến khung cảnh xung quanh trở nên tươi đẹp lạ thường. Vẻ đẹp tinh khiết của cô khiến nhiều nữ sinh ghen tị, mấy bạn nam muốn đến bắt chuyện nhưng dường như chưa đủ dũng khí. Bỗng một nam sinh đến gần cô, tươi cười hỏi: - Đang chờ xe à? - Không. Mình đang chờ Dạ Thảo – Cô nhỏ nhẹ đáp lời. - Vậy mình về trước đây. Mai gặp nhé – Nam sinh vẫy tay tạm biệt rồi rời đi. Cô cũng mỉm cười vẫy tay với cậu bạn cùng lớp. Nụ cười của cô bạn khiến mấy nam sinh khác ngẩn ngơ. Phía sau mấy nam sinh bỗng vang lên tiếng nói nhẹ nhàng nhưng cũng đủ để khiến họ giật mình quay đầu nhìn lại. Một gương mặt tròn đang đanh lại, ánh mắt nhìn họ giễu cợt, giọng cao vút: - Cho qua coi. Vừa nói cô bạn mặt tròn vừa ung dung bước qua họ một cách kiêu căng, còn hất tung mái tóc dài cột đuôi gà của mình về phía sau. Đám con trai nghẹn họng, lặng lẽ bỏ đi. Thiên Vi đang định lấy sách ra đọc thì thấy bạn mình bước tới, vẻ mặt rõ là chảnh chọe. Cô phì cười, khẽ hỏi: - Sao thế? Trưng vẻ mặt này cho ai xem vậy? - Thì mấy cái tên lóc chóc đó chứ ai? – Dạ Thảo hí hửng đáp. - Ai? - Thiên Vi ngơ ngác nhìn quanh. - Mấy cái đuôi – Dạ Thảo hững hờ đáp. - Oa oa… Không ngờ đó nha – Thiên Vi reo lên – Đã chọn được anh nào chưa? Dạ Thảo khẽ lườm Thiên Vi rồi thở dài đáp: - Ai mà thèm ngó tới mình chứ?! - Sao lại nói thế? – Thiên Vi tròn mắt nhìn Dạ Thảo. - Mình như vầy thì… – Dạ Thảo nhìn lại bộ dạng tròn trịa béo tốt của mình, vẻ mặt càng buồn bã hơn. Thiên Vi thấy bạn tủi thân như vậy cũng buồn, Dạ Thảo hơi mập nhưng gương mặt tròn trịa của cô vẫn mang nét dễ thương đáng yêu, hơn nữa Dạ Thảo rất tốt bụng, chẳng ai trong lớp vì ngoại hình của cô mà chán ghét cô cả. ... Mời các bạn đón đọc Mong Manh Tình Đầu của tác giả Born.
Ngựa Chứng Đầu Xanh - S. E. Hinton
Ponyboy mười bốn tuổi, gai góc và hoang mang, nhưng đằng sau vẻ bất cần là một tâm hồn nhạy cảm. Theo Ponyboy, thế giới này chỉ có hai loại người, Mỡ và Soc – dân Soc có tiền, có thể thoát khỏi hầu như mọi tội, với thái độ ngạo mạn khó ưa; dân Mỡ, ngược lại, sống ở khu ổ chuột và luôn phải cẩn thận đề phòng. Ponyboy là Mỡ, luôn tự hào về điều đó – cho tới một đêm khủng khiếp khi Johnny giết chết một thằng Soc. Cơn ác mộng bạo lực bắt đầu, bạo liệt cuốn Ponyboy vào một vòng xoáy hỗn loạn của sự kiện và cảm xúc, khiến hình ảnh về thế giới hai cực trong mắt cậu tan rã như bụi tro. Và rồi, trước khi thời niên thiếu kết thúc, Ponyboy đã nhận ra: sự đau đớn luôn giống nhau, dù là với Soc hay Mỡ đi chăng nữa.   Câu chuyện đầy sức mạnh về những chú ngựa chứng trẻ tuổi này được viết khi tác giả mới 17 tuổi và kể từ lần xuất bản đầu tiên năm 1967, Ngựa chứng đầu xanh đã trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất lịch sử ngành xuất bản với 14 triệu bản tính đến 2005, và mỗi năm lại có nửa triệu bản nữa thêm vào con số đó. Một tác phẩm kinh điển dành cho tuổi thiếu niên. *** Khi từ bóng tối của rạp chiếu phim bước ra ngoài ánh nắng rực rỡ, tôi chỉ có hai thứ trong đầu: Paul Newman và một cuốc xe về nhà. Tôi ước gì mình trông giống Paul Newman - anh trông gai góc còn tôi thì không - nhưng tôi nghĩ bề ngoài của mình cũng chẳng đến nỗi nào. Tóc tôi màu nâu nhạt, hoe hoe đỏ còn mắt thì có màu xám ánh xanh lá. Tôi ước gì mắt mình xám hơn, vì tôi ghét hầu hết mấy gã mắt xanh lá, nhưng tôi phải bằng lòng với cái mình có thôi. Tóc tôi dài hơn tóc nhiều thằng con trai khác, cắt vuông vắn sau đầu, để dài phía trước và hai bên, nhưng tôi là một thằng Mỡ(1) và hầu hết hàng xóm tôi chẳng mấy khi nghĩ đến chuyện cắt tóc. Hơn nữa, tôi trông hay hơn khi để tóc dài. Tôi phải đi bộ về nhà một quãng dài mà không người đi cùng, nhưng dù gì thì tôi cũng thường đi một mình, chẳng vì lý do nào ngoại trừ vì thích được yên ổn xem phim, để có thể thả hồn vào trong bộ phim và sống với nó cùng diễn viên. Xem phim với một ai khác làm tôi có chút không thoải mái, cứ như có người nhìn qua vai khi ta đọc sách vậy. Tôi thì khác như vậy đó. Ý tôi là, anh ba tôi, Soda, mười sáu tuổi sắp lên mười bảy, chưa bao giờ giở lấy một cuốn sách, còn anh hai Darrel, mà bọn tôi gọi là Darry, làm việc muộn và vất vả đến độ chẳng còn đâu thời gian mà quan tâm đến đọc truyện hay vẽ tranh, vậy nên tôi chẳng giống hai anh. Và chẳng có đứa nào trong băng bọn tôi cảm hiểu phim ảnh và sách vở như tôi cả. Có lúc tôi đã nghĩ rằng mình là kẻ duy nhất trên đời này hiểu. Nên tôi làm việc đó một mình. Ít nhất Soda cũng cố hiểu, và cảm hiểu được nhiều hơn Darry. Nhưng nghĩ kỹ thì anh khác với bất cứ ai; anh hiểu mọi sự, gần như vậy. Ví dụ như anh chẳng bao giờ hò hét với tôi suốt như anh Darry, hay đối xử với tôi như thể một đứa lên sáu chứ không phải đã mười bốn tuổi rồi. Tôi quý Soda hơn bất cứ ai, kể cả là bố mẹ. Lúc nào anh cũng vô tư lự và cười toe toét, trong khi anh Darry lại nghiêm khắc, cương nghị và chẳng mấy khi nở miệng cười. Nhưng mặt khác, Darry đã trải qua rất nhiều thứ trong hai mươi năm cuộc đời, anh trưởng thành quá nhanh. Sodapop sẽ chẳng bao giờ chịu lớn cả. Tôi chẳng biết thế nào thì hay hơn nữa. Tôi sẽ sớm biết ra thôi. ... Mời các bạn đón Ngựa Chứng Đầu Xanh của tác giả S. E. Hinton.