Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Xa Ngoài Kia Nơi Loài Tôm Hát

Sáu triệu bản bán ra trên toàn thế giới 58 tuần trong danh sách bán chạy của New York Times Dẫn đầu mục tiểu thuyết bán chạy của Amazon trong năm 2019 Trong nhiều năm, những tin đồn về "Cô gái đầm lầy" đã ám ảnh Barkley Cove, một thị trấn yên tĩnh trên bờ biển Bắc Carolina. Vì vậy, khi nơi này rúng động với cái chết đầy bí ẩn của Chase Andrew, người dân địa phương ngay lập tức đổ dồn nghi ngờ vào cô. Nhưng Kya Clark – cô gái hoang dã ấy có phải là thủ phạm? Thông minh và nhạy cảm, cô đã sống sót sau nhiều năm cô đơn trong đầm lầy, trú ẩn trong lòng mẹ thiên nhiên, kết bạn với mòng biển và học những bài học đắt giá trên bờ cát. Khi trái tim tuổi mới lớn mở ra, cô cũng chạm vào yêu thương với hai chàng trai, bắt đầu một cuộc sống mới cho đến khi điều bất ngờ xảy đến… “Một tiểu thuyết lãng mạn đầy ắp hơi thở thiên nhiên với một cú ngoặt chết người.” — REFINERY29 “Đầy chất thơ… Sức hấp dẫn của cuốn sách đến từ sự liên kết sâu sắc giữa Kya với vùng đất đã là nhà cô, và với mọi sinh vật của vùng đất đó.” — BOOKLIST *** Cuốn sách "Xa ngoài kia nơi loài tôm hát" của Delia Owens là một tiểu thuyết lãng mạn đầy ắp hơi thở thiên nhiên đẹp đẽ và đau đớn. Cuốn sách Xa ngoài kia nơi loài tôm hát (Tên gốc: Where the Crawdads Sing) lấy bối cảnh những năm 1950 về cô gái trẻ Kya Clark ở Bắc Caroline, nước Mỹ. Kya được biết với cái tên "Cô gái đầm lầy" bởi cô sống một mình giữa thiên nhiên, chỉ kết nối với một vài người. Nhưng khi một vụ án mạng xảy ra, tất cả đổ dồn vào cô bé hoang dã và đơn độc ấy. Lấy vụ án làm trung tâm cuốn sách, tác giả Delia Owens dẫn dắt người đọc khám phá vùng ngập nước hoang sơ và vắng vẻ của bờ Bắc Carolina qua đôi mắt của một đứa trẻ bị bỏ rơi. Đây là tiểu thuyết đầu tay của Delia Owens, được xuất bản lần đầu năm 2018, nhưng đã nhanh chóng chiếm được sự yêu mến của đông đảo độc giả. Cuốn sách đạt được 6 triệu bản bán ra trên thế giới, liên tục đứng trong danh sách bán chạy của New York Times suốt 58 tuần và dẫn đầu mục tiểu thuyết bán chạy của Amazon trong năm 2019. Trên Goodreads, cuốn sách nhận được gần một triệu đánh giá khi 88% độc giả nói rằng mình yêu thích cuốn sách. Trên Amazon, tác phẩm của Delia Owens cũng nhận được hơn 111.000 đánh giá, trong đó có hơn 86.000 đánh giá 5 sao. Delia Owens sinh năm 1949, là tác giả, nhà động vật học người Mỹ. Bên cạnh cuốn tiểu thuyết Xa ngoài kia nơi loài tôm hát, bà còn cùng chồng cũ viết ba cuốn sách về thế giới hoang dã tại châu Phi. Tại Việt Nam, Xa ngoài kia nơi loài tôm hát được dịch giả Trương Hoàng Uyên Phương chuyển ngữ. Theo cô, việc chuyển ngữ tựa đề của cuốn sách là một thách thức lớn, khó nhất là làm sao để người đọc hình dung được một không gian hoang vu và xa vắng, văng vẳng âm thanh rất nguyên sơ của các loài hoang dã. Cuốn sách được viết bằng thứ văn phong đặc biệt, đầy sức sống và hoang dại như tự nhiên, nhưng cũng đầy chất thơ và có sức gợi mãnh liệt. Từ chính nội dung tuyệt đẹp đó, tên sách Xa ngoài kia nơi loài tôm hát đã được ra đời. Dịch giả Uyên Phương cũng đánh giá cuốn sách nổi bật nhất với hai điểm: Cuộc sống khắc nghiệt mà cũng đầy chất thơ của Kya ở đầm lầy và bí ẩn vụ án mạng. Vì Kya gần như phải đơn độc sinh tồn nơi hoang dã, tự nhiên đã trở thành người bạn, người mẹ, người thầy của cô bé. Đó là một thiên nhiên rất đẹp, tráng lệ và huyền bí, trù phú mà khắc nghiệt, tàn nhẫn nhưng lại dịu dàng. Người đọc sẽ dễ dàng bị cuốn hút, ngỡ ngàng, rung động và có lúc rùng mình với những bài học từ thiên nhiên đó. Còn về vụ án mạng trong cuốn sách, dịch giả bật mí rằng, có lẽ độc giả sẽ phải suy nghĩ rất lâu về định kiến cũng như sự phán xét của con người. *** MỞ ĐẦU 1969 Đồng lầy chẳng phải đầm lầy. Đồng lầy là một không gian tràn ánh sáng, nơi cỏ vươn lên trong nước, và nước trôi vào trong bầu trời. Dòng chảy chầm chậm quanh co, mang theo quả cầu mặt trời ra đến biển, và lũ chim chân dài lêu nghêu cất mình vụt lên với sự uyển chuyển không ai ngờ đến – thân hình chúng dường như không được tạo ra để bay lượn – trên nền âm thanh cả ngàn con ngỗng tuyết kêu ran. Rồi trong chính đồng lầy, ở đó đây, đầm lầy đích thực len lỏi vào những vùng trũng thấp, ẩn khuất giữa ẩm ướt đại ngàn. Nước đầm lầy tĩnh lặng và tối tăm, nuốt chửng ánh sáng trong cổ họng bùn nhớp nháp. Trong cái hang đó, cả những loài chuyên lẩn lút về đêm cũng hoạt động ban ngày. Nơi đây cũng có tiếng động, tất nhiên, nhưng so với đồng lầy thì đầm lầy tĩnh mịch hơn hẳn vì sự phân hủy là hoạt động chế ngự tất cả. Sự sống mục nát, bốc mùi và trở về thứ mùn thối rữa; một chốn trầm mình sầu bi của cái chết cho sự sống vươn lên. Vào buổi sáng ngày 30 tháng Mười năm 1969, xác của Chase Andrews nằm trong đầm lầy, cái đầm hẳn sẽ nuốt chửng nó dần dần, lặng lẽ. Vĩnh viễn che giấu nó. Đầm lầy tường tận mọi điều về cái chết, và không nhất thiết coi đó là thảm kịch, chắc chắn chẳng phải là tội ác. Thế nhưng buổi sáng này, hai cậu bé từ ngôi làng đạp xe đến chỗ tháp phòng cháy cũ, và từ chỗ ngoặt thứ ba trên cầu thang đã trông thấy chiếc áo khoác denim của cái xác kia. *** 1952 Sáng ngày hầm hập cái nóng trời tháng Tám, hơi thở ẩm ướt của đồng lầy giăng màn sương mờ lên những nhánh sồi với cành thông. Trảng cây cọ đứng im đến lạ lùng, chỉ có tiếng vỗ cánh trầm trầm, chậm chạp của lũ diệc cất mình lên từ phá nước. Và rồi Kya, bấy giờ chỉ mới sáu tuổi, nghe tiếng cửa lưới sập lại. Đứng trên chiếc ghế cao, con bé ngừng cọ bợn cháo ngô bám trên nồi và để nồi xuống bồn đầy bọt xà phòng đã xẹp. Chẳng còn tiếng động nào nữa ngoài tiếng thở của con bé. Ai vừa ra khỏi lán vậy nhỉ? Không phải má. Má có bao giờ để cửa sập lại đâu. Ấy vậy mà khi chạy ra hiên, Kya lại thấy má trong bộ váy dài nâu, những nếp xếp li nhịp nhịp víu vào mắt cá khi bà bước xuôi dải đường cát trong đôi giày cao gót. Đôi giày mũi bầu giả da cá sấu. Đôi duy nhất để bà mang ra ngoài. Kya muốn gọi to nhưng biết khôn hồn thì chớ có đánh thức ba dậy, vậy là nó mở cửa ra đứng trên bậc thềm gạch ván. Từ chỗ đó, con bé thấy chiếc vali nhỏ màu xanh lam má xách theo. Mọi ngày thì với sự tin tưởng của một chú chó con, Kya biết má sẽ quay về với chút thịt gói trong giấy nâu dính mỡ hoặc một con gà, đầu lủng lẳng chúc xuống. Thế nhưng bà chưa bao giờ mang đôi giày da cá sấu, chưa bao giờ xách theo hành lý cả. Má luôn luôn nhìn lại từ chỗ lối đi nhỏ gặp đường mòn, một tay giơ lên cao, lòng bàn tay trắng nõn nà vẫy vẫy trước khi bà quay lưng bước tiếp, len lỏi qua những khu rừng đầm lầy cùng phá nước khin khít cỏ đuôi mèo, rồi có lẽ nếu con nước gia ơn, cuối cùng bà sẽ ra đến phố. Thế nhưng hôm nay bà không ngoảnh lại mà cứ dấn bước, loạng choạng giữa những vết lún trên đường. Dáng vóc cao của bà thỉnh thoảng hiện ra qua những lỗ hổng giữa rừng, cho đến khi chỉ còn thấy thấp thoáng màu trắng chiếc khăn choàng qua kẽ lá. Kya vụt chạy đến chỗ nó biết con đường sẽ lộ ra; chắc chắn má sẽ dừng lại vẫy tay từ đó, nhưng tới nơi, con bé chỉ kịp thoáng thấy màu lam của chiếc vali trước khi nó mất hút – cái màu sao mà chỏi giữa cánh rừng mướt rượt màu xanh lục. Một cảm giác nặng nề dày đặc như bùn gòn đen chèn lên ngực con bé khi nó quay lại đợi ở bậc thềm. Kya là đứa nhỏ nhất trong đám anh em nhà này, mấy anh chị lớn hơn nó nhiều, mặc dù sau này con bé không nhớ tuổi của họ nữa. Bọn trẻ sống với ba và má, chen chúc nhau như bầy thỏ nhốt chuồng, trong cái lán thô sơ tạm bợ, hàng hiên có lưới che lỏ mắt dòm ra dưới những tán sồi. Jodie, thằng anh gần Kya nhất nhưng vẫn lớn hơn nó bảy tuổi, bước từ trong nhà ra và đứng sau con bé. Jodie có cùng cặp mắt và mái tóc đen của em gái; thằng nhỏ đã dạy con bé bài hát của lũ chim, tên gọi những vì sao và cách lái thuyền qua đám cỏ răng cưa. “Má sẽ về thôi,” thằng anh nói. “Em hông biết. Má mang đôi dày cá sấu đó.” “Một bà má hông bỏ mấy đứa con nhỏ đâu. Điều đó hông nằm trong bản tính của họ.” “Anh kể với em là cáo cái bỏ con của nó mà.” “Ừ, nhưng con cáo đó bị toạc hết chân rồi. Nó xẻ chết đói nếu cố nuôi cả mình dới bầy con nhỏ. Tốt hơn là nó bỏ đám này, dưỡng thương cho lành lại, rồi đẻ thêm khi có thể nuôi tụi nhóc ra hồn. Má thì đâu có đói, má sẽ quay lại.” Jodie không chắc chắn như nó ra vẻ thế, nhưng vẫn nói vậy vì Kya. Cổ họng nghèn nghẹn, con bé thì thầm, “Nhưng má xách theo cái vali xanh như xắp đi xa lắm.” Cái lán nằm tựa vào trảng cọ lùn, vô số cụm cọ mọc rải rác, tỏa khắp bãi cát tới chỗ chuỗi những phá nước xanh, và ở xa xa là toàn bộ vùng đồng lầy sau đó. Hàng dặm lưỡi cỏ cứng cáp đến độ chúng mọc lên cả trong nước mặn, chỉ bị ngắt quãng bởi những thân cây uốn cong đến nỗi chúng mang hình hài cơn gió. Rừng sồi dồn lại quanh những phía khác của cái lán nhỏ, bao bọc lấy phá nước gần đó nhất, nơi mặt nước giàu sự sống đến sục sôi. Bầu không khí trĩu muối và bài ca mòng biển tràn qua hàng cây dạt tới từ biển cả. Từ thế kỷ 16, việc khẳng định quyền sở hữu một vùng lãnh thổ chẳng thay đổi gì mấy. Những khu đồng lầy có chủ rải rác đó đây không được mô tả trên giấy tờ pháp lý, chỉ được vạch ranh giới tự nhiên – một cây sồi chết ở kia, một con lạch đằng này – bởi những kẻ trốn chạy. Người ta đâu có tự dưng dùng cọ dựng chốn nương thân ở đầm lầy, trừ phi đang trốn kẻ nào đó hay đã cùng đường tận lối. Đồng lầy được bao bởi một đường bờ biển bị xé nham nhở, mà những nhà thám hiểm ngày trước gán cho cái tên “Nghĩa địa của Đại Tây Dương” vì dòng chảy rút xa bờ, những luồng gió dữ và bãi cạn sẽ đánh cho tàu thuyền vỡ nát như mấy chiếc nón giấy dọc vùng bờ sẽ trở thành bờ Bắc Carolina. Nhật ký một thủy thủ viết, “vòng quanh bờ biển… nhưng không thấy lối vào… một cơn bão dữ dội ập tới… chúng tôi buộc phải quay ra để giữ cho mình và con tàu được an toàn, và bị xô đẩy dồn dập bởi một cơn sóng dữ… Đất liền… toàn đồng lầy nối đầm lầy, chúng tôi quay về tàu… Làm nản lòng tất cả những ai sau này tìm tới đây cư ngụ.” Những người tìm đất an cư bỏ qua chốn này, và vùng đồng lầy nổi tiếng đây trở thành một tấm lưới, vớt lên một mớ lộn xộn những tay thủy thủ nổi loạn, nạn nhân đắm tàu, con nợ và bọn người trốn chạy khỏi chiến tranh, thuế má hay luật lệ mà họ không ưa. Những kẻ mà bệnh sốt rét không giết chết hay đầm lầy không nuốt chửng sinh ra một bộ lạc người rừng thuộc nhiều chủng tộc và nền văn hóa, mỗi người có thể đốn trụi một khu rừng nhỏ với một cái rìu và vác một con hươu đi hàng dặm. Như lũ chuột sông, mỗi người có riêng một lãnh thổ, nhưng họ phải hòa nhập với cảnh sống ngoài rìa hoặc đơn giản là một ngày biến mất trong đầm tối. Hai trăm năm sau, nhóm này kết nạp thêm những nô lệ bỏ trốn vào đồng lầy và các nô lệ được trả tự do, không xu dính túi và cùng quẫn, tản mát vào vùng đất ngập nước vì chẳng còn bao nhiêu lựa chọn khác. Có lẽ đó là vùng hiểm ác, nhưng không một tấc đất nào nghèo. Tầng tầng lớp lớp sự sống – cua rù rì ngoe nguẩy, tôm hùm đất sủi bùn, hằng hà chim nước, cá, tôm, sò, hươu béo xị, ngỗng mập núc – chất chồng trên đất hay trong nước. Kẻ không ngại lùng sục tìm bữa ăn sẽ không đời nào chết đói được. Bấy giờ là năm 1952, nên đã bốn thế kỷ liền vùng đất bị giành quyền sở hữu bởi một chuỗi rời rạc những người không có sổ sách nào ghi lại. Hầu hết là trước cuộc Nội chiến. Một vài kẻ khác đến chiếm dụng đất gần đây, đặc biệt là sau hai cuộc chiến tranh thế giới, khi những người đàn ông trở về trong tan nát và túng quẫn. Đồng lầy không giam giữ mà định nghĩa con người họ, và như tất cả những vùng đất linh thiêng, chúng giữ cho bí mật của họ được vùi sâu. Họ chiếm đất mà chẳng ai quan tâm vì không ai thèm muốn nó. Dù sao, nó cũng chỉ là thứ bãi lầy hoang. Cũng như cách họ làm lậu rượu whiskey, cư dân đồng lầy đặt ra luật lệ của riêng mình – không giống kiểu luật khắc vào đá hay ghi lên giấy, mà là thứ luật sâu xa hơn, in hằn trong gen họ. Tự nhiên và cổ xưa, như nở ra từ trứng diều hâu với bồ câu. Khi bị dồn vào đường cùng, bí bách, tuyệt vọng hay bị cô lập, con người trở lại với thứ bản năng nhằm thẳng tới sinh tồn. Nhanh gọn và đích đáng. Chúng luôn là những lá chủ bài vì được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thường xuyên hơn loại gen hiền. Đó chẳng phải đạo lý gì, chỉ là phép toán đơn giản. Giữa đồng loại, bồ câu cũng đánh nhau thường xuyên chẳng kém diều hâu. Hôm đó má không về. Chẳng ai đả động gì tới chuyện đó. Ba lại càng không. Bốc mùi cá và nước dùng, ông khua nắp nồi loảng xoảng. “Bữa tối có gì hả?” Mắt cụp xuống, mấy anh chị em chúng nó nhún vai. Ba chửi thề rồi khập khiễng đi ra, trở vào rừng rậm. Đã có nhiều vụ cãi cọ trước đó; má thậm chí đã bỏ đi một hai lần, nhưng lần nào bà cũng quay về, vơ lấy bất kỳ đứa nhỏ nào để ôm ấp. Hai cô chị lớn nấu bữa tối gồm bánh ngô với đậu đỏ, nhưng không đứa nào ngồi vào bàn ăn như chúng sẽ ngồi với má. Mỗi đứa xúc vội đậu từ nồi, trút đại bánh ngô lên trên, rồi lảng đi ăn ở góc của chúng trên thảm trải sàn hay cái sô-pha sờn cũ. Kya không ăn được. Nó ngồi trên bậc thềm trước hiên nhìn xuống con đường. Người cao so với tuổi, gầy trơ xương, con bé có nước da rám thẫm và mớ tóc đen, thẳng, dày như cánh quạ. Màn đêm buộc nó ngừng trông ngóng. Tiếng ếch ồm ộp sẽ vùi đi tiếng bước chân; dẫu vậy, con bé vẫn nằm trên cái giường ngoài hiên, dỏng tai nghe ngóng. Mới sáng hôm đó, nó hãy còn thức dậy trong tiếng mỡ lợn xèo xèo trên chảo sắt và mùi bánh mì sạm nâu trong lò. Kéo cái quần yếm lên người, con bé xộc vào bếp để bày dĩa và nĩa. Nhặt mấy con mọt trong cháo bỏ ra. Hầu như sáng nào cũng vậy, tươi cười, má sẽ ôm lấy nó – “Chào buổi sáng, con gái đặc biệt của má” – và hai má con sẽ làm hết việc này tới việc nọ, thoăn thoắt như múa. Thỉnh thoảng má còn cất giọng hát dân ca hay đọc vài đoạn thơ cho con trẻ: “Chú heo nhỏ đi chợ lon ton.” Hoặc má sẽ đẩy đưa Kya theo điệu jitterbug nhịp dồn, chân họ giẫm bùm bụp lên sàn gỗ dán cho đến khi tiếng nhạc từ cái radio chạy pin dần tắt ngỏm, nghe như nó đang tự hát cho mình nghe dưới đáy một cái thùng tròn. Vào những buổi sáng khác, má lại nói mấy chuyện người lớn mà Kya không hiểu, nhưng con bé đoán rằng lời nói của má cần có chỗ để thoát ra, nên nó thấm lấy từng lời qua da, trong khi tay nhét thêm củi vào lò. Gật gù làm như hiểu rõ. Sau đó là cái nhốn nháo ngược xuôi khi mọi người thức dậy và ăn sáng. Ba không ở đó. Ông chỉ có hai chế độ: im lặng và gào thét. Nên cũng tốt khi ông cứ ngủ, hoặc không về nhà. Thế nhưng sáng nay, má im lặng; nụ cười đánh mất, mắt đỏ hoe. Bà cột thấp ngang trán một cái khăn màu trắng theo kiểu hải tặc, nhưng cái viền thâm tím vàng của một vết bầm vẫn lộ ra. Ngay sau bữa sáng, trước khi chén dĩa được rửa sạch, má đã cho vài món tư trang vào vali và theo lối nhỏ mà đi mất. Sáng hôm sau, Kya lại tới chỗ cũ của nó trên bậc cửa, cặp mắt đen hun hút xoáy xuống con đường như một đường hầm đợi tàu qua. Đồng lầy phía xa bị màn sương bao phủ, sương sà thấp đến nỗi cái gót mềm của nó chạm hẳn xuống bùn. Chân trần, Kya nhịp nhịp ngón chân, xoay xoay ngọn cỏ chọc vào đám ấu trùng kiến sư tử, nhưng một đứa nhỏ sáu tuổi nào có ngồi yên được, chẳng mấy chốc con bé đã la cà tới bãi triều, tiếng nước vỗ liếm láp ngón chân nó. Ngồi xổm bên rìa nước, con bé dõi theo lũ cá tuế vọt qua vọt lại giữa chỗ nắng với chỗ có bóng râm. Jodie cất tiếng gọi Kya từ đám cọ lùn. Con bé nhìn chăm chăm; có lẽ anh nó tới đưa tin mới. Nhưng trong lúc thằng anh len lỏi qua mấy tán lá đầy gai, con bé nhìn dáng đi lững thững của anh và biết má không có ở nhà. “Em muốn chơi thám hiểm hông hả?” Jodie hỏi. “Anh nói anh quá tuổi chơi hám hiểm rồi mà.” “Đâu, anh nói vậy thôi. Hông bao giờ quá tuổi cả. Đua đi!” Hai đứa ùa chạy qua bãi triều, băng rừng cây lao ra bờ biển. Kya ré lên khi thằng anh vọt qua mặt nó và cười nắc nẻ cho tới khi chúng chạy đến chỗ cây sồi lớn chìa ra trên cát những cánh tay khổng lồ. Jodie và anh cả Murph đã đóng vài miếng ván lên cành cây làm đài quan sát và phòng thủ. Giờ thì hầu hết ván gỗ đã sụp xuống, đong đưa một cách nguy hiểm, chỉ dính vào thân cây nhờ mấy cây đinh sét. Thường ngày, nếu Kya có được cho chơi đoàn thám hiểm thì nó cũng phải đóng vai nô lệ, đưa tới cho các anh bánh mì còn nóng lén lấy từ chảo của má. Thế nhưng hôm nay Jodie nói, “Em có thể làm thuyền trưởng.” Kya giơ cao tay phải trong tư thế xông lên. “Đuổi bọn Tây Ban Nha đi!” Hai đứa nhỏ bẻ cây làm kiếm, xộc qua những bụi mâm xôi um tùm, hét váng lên và đâm kẻ thù lia lịa. Rồi – màn tưởng tượng chợt đến chợt tan – Kya bước lại chỗ một khúc cây phủ đầy rêu và ngồi xuống. Im lặng, Jodie đến ngồi cạnh em. Thằng bé muốn nói gì đó để đứa em gái thôi nghĩ về má, nhưng từ ngữ tắt nghẹn, thế là hai đứa lặng ngắm cái bóng loang loáng bơi bơi của lũ gọng vó. Sau khi quay về, Kya trở lại chỗ bậc thềm và đợi thật lâu, nhưng trong lúc nhìn đăm đắm về phía cuối đường, nó không hề khóc. Gương mặt nó bất động, môi mím lại thành một đường mỏng dưới đôi mắt khắc khoải kiếm tìm. Nhưng ngày hôm đó má cũng không trở lại. Mời các bạn đón đọc Xa Ngoài Kia Nơi Loài Tôm Hát của tác giả Delia Owens & Trương Hoàng Uyên Phương (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nơi Ấy Có Anh - Granty (Born)
Nơi ấy có anh - Với một tuổi thơ bất hạnh, phải sống trong một gia đình mà chỉ toàn nuớc mắt, mãi đến khi tình yêu đầu đời chớm nở, cô mới cảm nhận đuợc vị hạnh phúc, nhưng rồi mọi thứ đâu như người ta vẫn uớc mong... *** Bút danh : Granty ( Mọi người vẫn luôn gọi là Born) Ngày sinh: 29/07 ( cung Sư tử ) Sở thích: đọc truyện tranh, viết tiểu thuyết, … Facebook: https://www.facebook.com/granttylove.tran Được độc giả gán cho cái danh “Ác hơn mẹ Cám” sau khi viết tác phẩm đầu tay của mình là “Sẽ để em yêu anh lần nữa” Đề tài sáng tác chủ yếu là tình yêu giữa nam và nữ, xen vào đó là tình bạn, tình cảm gia đình. Luôn là những đề tài lấy từ cuộc sống bên ngoài khi vô tình bắt gặp, mang giá trị hiện thực nhiều hơn hư ảo, thích tô đậm hoàn cảnh nhân vật một cách khắc nghiệt. Khiến các nhân vật của mình trở nên đáng thương, để có thể bán xô chậu, khăn giấy cho đọc giả hứng nước mắt. Đặc biệt thích đặt mình vào vị trí từng nhân vật và diễn tả cảm xúc của họ một cách chân thật, chứ không giấu diếm. *** Buổi chiều mát mẻ, mặt trời tuy chưa xuống núi nhưng ánh nắng không hề gay gắt, dưới một mảnh vườn nhỏ có hai bóng hình một lớn, một nhỏ đang ngồi .....nhổ cỏ. - Ba, con mỏi chân quá hà, mình nghỉ chút nha ba - Giọng một cậu nhóc nhỏ mếu máo nhìn người đàn ông còn khá trẻ bên cạnh mình. Người ba ngó dáo dát về hướng ngôi nhà có màu xanh êm dịu kia rồi gật đầu nói nhỏ: - Ừ, con lại ghế ngồi một chút đi. Ba trông chừng mẹ cho . Thằng bé vui mừng nhảy cẩng lên vỗ tay: - Hoan hô, được nghỉ rồi. Con cám ơn ba. - Đừng la lớn, mẹ con nghe được, lại phạt cha con mình nữa thì khổ - Người cha đưa tay ra dấu cho đứa con nhỏ giọng, rồi đưa mắt nhìn vào nhà, thấy cánh cửa nhà vẫn khép chặt thì thở phào, vội vàng nhanh tay nhanh chân nhổ đám cỏ đang lấn lướt mấy luống rau xanh của nhà họ. - Ba ơi, con đói bụng - Đứa bé lại lần nữa mếu máo kêu lên. - Uống nước đỡ đi con, lát nữa mẹ hết giận rồi vào ăn cơm - Người ba dỗ dành con trai. - Con uống cả ba ly nước luôn rồi nhưng vẫn thấy đói - Thằng bé xụ mặt buồn xo đáp. - Hay là con cứ giả vờ bị đau bụng đi, ba bế con vào, con cứ khóc ầm lên, mẹ thế nào cũng xót con mà tha thứ cho hai cha con mình - Người cha bất đắc dĩ phải dạy con mình nói dối để được tha thứ. Đứa con ngoan ngoãn gật đầu ( cái thằng này, bình thường không chịu ngoan, xúi dại thì lại ngoan ngoãn làm theo) Người cha lập tức phủi tay bế con trai vào nhà kêu vợ: - Bà xã, em mau xem xem, con mình bị đau bụng rồi nè. Nó cứ ôm bụng suốt. Ngân Hằng khẽ đặt con dao sắc thịt xuống bàn, chậm rãi rửa tay sạch sẽ sau đó sờ trán con trai, rồi hỏi: - Con đau ở đâu? - Đau nhiều nơi lắm - Thằng bé cố giả đau nói: - Chỗ này có đau không? - Ngân Hằng sờ nắn phần bụng của thằng bé hỏi. - Dạ đau lắm. - Chỗ này thì sao.... - Dạ đau.... - Còn chỗ này.... - Cũng đau ạ. - Không được rồi. Mẹ nghĩ con bệnh rất nặng, cần đến bác sĩ lấy cây kim to chích thuốc thôi - Ngân Hằng lắc đầu bảo. Thằng bé nghe xong thì tái mặt, nó nhìn ba nó từ nãy giờ không không dám lên tiếng. Mếu máo kêu nhỏ một tiếng: - Ba, con không muốn đi bệnh viện đâu ba. - Lâm Thiên Phong, con đứng lên cho mẹ - Ngân Hằng bỗng đập mạnh lên bàn quát lớn. Lâm Phong và con trai lập tức đứng lên, cả hai cha con không dám hé răng một lời. - Anh đứng tránh ra, để em nói chuyện với con. Tội dạy con nói dối, em sẽ xử lý sau. - Bà xã, anh biết lỗi rồi, tại anh thấy con trai bị mệt quá nên mới.... - Lâm Phong ảo não nói. - Thiên Phong. Nói cho mẹ biết , mẹ phạt con là đúng hay sai. - Dạ đúng. - Nói xem, con phạm phải tội gì đáng bị phạt hả? - Con đem sâu đến lớp hù các bạn nữ. - Tại sao con làm vậy? Thiên Phong quay đầu nhìn ba mình, Ngân hằng cũng trừng mắt nhìn Lâm Phong. Lâm Phong vội vã thanh minh ngay. - Không phải anh xúi con làm bậy đâu. - Ba bảo không được bán đứng bạn bè - Thiên Phong cúi đầu đáp. Lâm Phong vội vàng đến bên con trai bảo: - Con trai à, đều mà bạn con dạy là điều xấu, con không nên học theo, mau nói ra đi nếu không mẹ con sẽ giận đó. - Là chú Sơn Hải và chú Bảo Duy ạ - Thiên Phong liền đáp. Lâm Phong liền ho sù sụ, thầm than trời, biết thế không xúi Thiên Phong nói ra làm gì. Đúng như Lâm Phong dự đoán, Ngân Hằng lập tức gọi điện thoại cho hai cô bạn thân của mình. Lát sau, Lâm Phong nhận được điện thoại trách mắng của hai người bạn: - Tại sao ông không quản lí vợ mình cho chặt hả, có biết tụi này đều bị vợ phạt rồi hay không hả. - Chấp nhận đi - Lâm Phong cũng gào đáp trả - Mình cũng đang chịu phạt đây nè. Đúng là con dại cái mang mà. - Đúng là mũi dại lái chịu đòn - Bảo Duy cũng than thở. Cúp máy, Lâm Phong cùng Thiên Phong lò mò đến gần vợ, mỗi người một bên. Người lay kẻ lắc tay Ngân hằng gọi khẽ: - Bà xã.... - Mẹ.... ... Mời các bạn đón đọc Nơi Ấy Có Anh của tác giả Granty (Born).
Những Ngõ Phố - Tô Hoài
Những Ngõ Phố của Tô Hoài vẽ nên bức tranh sinh động, nhiều màu sắc về con người và những ngõ phố Hà Nội. Ở ngõ phố ấy có cô gái nhảy quyết tâm làm lại cuộc đời bằng việc gánh cát thuê, có người vợ đang phải chống chọi lại với những sợ hãi tủi nhục vì chồng mình là lính ngụy, có cuộc sống đơn sơ của đôi vợ chồng sống bằng nghề nhặt rác... Những con người ấy, trong ngõ phố ấy, đã tạo nên ngõ phố của những nhọc nhằn nhưng tràn ngập niềm vui, đầy ắp tình người và mang đậm chất Hà Nội. Hà Nội những năm 50-60 với đạn bom khói lửa. Hà Nội thời kháng chiến với bao nhọc nhằn, khốn khó nhưng thấm đẫm tình người. Hà Nội với những con người kiên cường bất khuất, sẵn sàng bám trụ để bảo vệ mảnh đất quê hương. Hà Nội, nơi những con đường, ngõ phố,đã đi vào lịch sử như một mình chứng cho một thời kỳ đấu tranh của dân tộc. Cuộc sống bình dị nhưng rất đổi hào hùng của con người Hà Nội đã được tái hiện một cách sinh động và chân thật trong Những ngõ phố. *** Cảm quan hiện thực đầy tinh tế về cuộc sống đời thường cộng vốn hiểu biết giàu có về phong tục và đời viết không ngừng nghỉ đưa nhà văn Tô Hoài lên vị trí không thể nhầm lẫn. Ông gần như là nhà văn cuối cùng thuộc thế hệ những người cầm bút sinh ra và lớn lên trong quãng thời gian dân tộc chuyển mình giành lấy độc lập, chống đế quốc, và xây dựng lại đất nước trải dài trong suốt thế kỷ 20. Như tất cả những đồng nghiệp cùng trang lứa, ông lập tức đối diện với một hiện thực lịch sử “ngoại cỡ” đối với các quy mô tự sự theo cung cách truyền thống, khiến sự lựa chọn về đề tài và bút pháp phải là quyết liệt và dứt khoát ngay từ đầu. *** Những chiếc xe ba gác nối nhau chở lợn ở lò mổ Phà Đen đến các chợ. Người chạy rầm rập, vác cả từng con lợn trắng nhễ nhại vào lẳn xuống quầy giữa chợ đương còn ồn ào.   Chỉ một lúc những tiếng động hối hả cuối cùng trong năm đã nhạt dần, rồi im. Các chợ Khâm Thiên, chợ Đuổi, chợ Hôm, chợ Cửa Nam, cảnh chen lấn quanh quầy thịt lợn lúc nãy đã tan hết. Năm mới từ từ đến trên những bước tiếng giày, tiếng guốc đi thong thả khác lúc nãy, người ta bắt đầu chơi đón giao thừa. Đêm ba mươi năm ấy, vừa sôi nổi, vừa dùng dắng. Đôi khi chần chừ. Tùy ở mỗi người vội vã hay ung dung, ở người thành phố hay người đợi tàu dòng dài ngoài ga Hàng Cỏ về Tết xa. Từ năm về Hà Nội, Tết nào Trử cũng ở lại ăn Tết không về nhà. Trử cũng không nghĩ mình chưa có vợ. Trữ chỉ nhớ, mình còn có một người chị ruột. Không biết lưu lạc đâu, còn sống không. Khi nhỏ, ở bộ đội, rồi ở cơ quan trên Việt Bắc về. Trử đã có một chương trình chơi giao thừa. Trử nghĩ thế. Phong phú và linh hoạt đấy. Người ta ăn mặc tinh tế. Đóng cái áo đại cán cài khuy cổ, hay “bị” để ý. Chợ Giời ở bờ hồ Thiền Cuông, ra đấy sắm Tết. Có hai vạn, vừa tậu được cái áo vét tím nhã nhặn. Thêm ba nghìn tiền chữa, đã biến được cái áo vừa phom. Tiện quá. Càng khuya, người các phố càng đổ ra, chen chân trong làn sương và khói hương chảy lùa dưới những hàng cây hai bên hè nhộn nhịp đêm tất niên. Người đông nghịt đi vòng hồ. Năm gần đây, cả đêm bị thiết quân luật. Tối đến, vùng hồ Hoàn Kiếm chỉ trắng nhởn bóng điện bóng nước. Không có người. Hà Nội giải phóng, đền Ngọc Sơn trở lại nền nếp người đi giao thừa lễ đền và quanh hồ, nô nức người đi chơi suốt đêm. Chân cầu Thê Húc, đống đá Tháp Bút, sang đền Bà Kiệu, lồi lõm những cây gạo, cây si, cây đa, dãy đèn le lói như đom đóm bám bờ ao đêm hè. Những ông thầy xem thẻ, đoán số, xem bói, không biết từ xó nào mò ra, xúm xít, nhấp nhem trong hốc tối. Tiếng xuýt xoa khấn khứa, tiếng đồng tiền gieo quẻ rè rè... Bao nhiêu ông thầy còn tiếc rẻ cố ăn mày lộc thánh được lúc nào hay lúc ấy dường như trôi cả về chỗ này. Người ta có cảm tưởng đâu đâu ở chợ Sắt dưới Hải Phòng, ở cây đa Cửa Quyền, ở đền Hàng Trống, ở đền Quan Thánh, các gốc đa, gốc đề, gốc si, gốc đại um tùm không còn ai ngõi đến cửa thầy, các thầy lần mò đến đây. ... Mời các bạn đón đọc Những Ngõ Phố của tác giả Tô Hoài.
Mai Mối Cho Tối Nếu Em Có Thể - Susan Elizabeth Phillips
Cuộc sống với Annabelle gói gọn trong hai tiếng THẢM HỌA: từ công việc, tình cảm cho đến bộ tóc đỏ bất trị! Nhưng cơ hội đổi đời đã tới: cô tiếp quản công ty mai mối từ người bà đã khuất. Tất cả những gì cô phải làm là thuyết phục bằng được anh chàng độc thân nóng bỏng nhất Chicago trở thành khách hàng của mình. Tại sao một đại diện thể thao đẹp trai, mạnh mẽ và giàu có như Heath Champion lại cần đến bà mối, nhất là một thảm họa biết đi như Annabelle? Đúng, cô thú vị, cô có một vẻ hấp dẫn kỳ quặc. Nhưng cái Heath đang tìm kiếm là biểu tượng thành công cuối cùng - một người vợ hoàn hảo. Và người ta có cần một bà mối ngoại hạng để tìm được một người vợ ngoại hạng? Gợi cảm, sắc sảo và hài hước - Mai mối cho tôi nếu em có thể thỏa mãn những kỳ vọng của độc giả đối với tiểu thuyết của một nhà văn đã năm lần được vinh danh trong giải RITA - giải thưởng uy tín của Mỹ nhất cho dòng tiểu thuyết lãng mạn. *** Bộ sách Chicago Stars gồm có: It Had to Be You (Vì đó là em) [Chicago Stars #1] - Susan Elizabeth Phillips Heaven, Texas [Chicago Stars #2] - Susan Elizabeth Phillips Nobody's baby but mine [Chicago Stars #3] - Susan Elizabeth Phillips Dream a Little Dream [Chicago Stars #4] - Susan Elizabeth Phillips This Heart of Mine [Chicago Stars #5] - Susan Elizabeth Phillips Mai mối cho tôi nếu em có thể [Chicago Stars #6] - Susan Elizabeth Phillips *** Susan Elizabeth Phillips sinh tại Ohio (Hoa Kỳ), tốt nghiệp ngành Nghệ thuật Sân khấu tại Đại học Ohio, rồi dạy kịch nghệ và tiếng Anh tại một trường phổ thông cho đến khi sinh con đầu lòng và trở thành bà nội trợ. Từng cùng bạn thân Claire Lafkowitz hợp tác viết một tiểu thuyết lãng mạn lịch sử, nhưng sau đó Phillips độc lập sáng tác và thu được thành công rực rỡ. Các tiểu thuyết của bà đều nằm trong danh sách bestseller của tờ USA Today và New York Times. Bà là tác giả duy nhất năm lần đoạt giải Sách của năm và chủ nhân giải Thành tựu trọn đời do Hội các nhà văn lãng mạn Mỹ trao. Hiện bà sống tại ngoại ô Chicago với chồng và hai con trai lớn. *** Pippi giơ chiếc máy ghi âm lại gần môi và hét lên. “Alô! A lô! A lô!” “Nó hoạt động rồi,” Heath nói từ chiếc ghế xô pha ở phía bên kia căn phòng giải trí đa phương tiện. “Cháu có thể nói nhỏ hơn một chút được không?” “Tên tôi là Victoria Phoebe Tucker…” con bé thì thầm. Và rồi quay lại với âm lượng bình thường của nó. “Tôi năm tuổi, và tôi sống tại khách sạn Plaza.” Con bé lén nhìn Heath một cái, nhưng anh vừa xem bộ phim Eloise với nó, và anh chỉ mỉm cười. “Đây là chiếc máy ghi âm của hoàng tử và chú ấy nói tôi phải trả lại.” “Chết tiệt, đúng là cháu phải trả lại.” Đáng lẽ con bé sẽ xem trận đấu của đội Bít Tất với anh trong lúc câu lạc bộ sách gặp nhau trên gác, nhưng con bé thấy chán. “Chú hoàng tử vẫn còn giận vì tất cả những chiếc điện thoại tôi lấy khi tôi mới chỉ có ba tuổi,” con bé nói vào trong máy ghi âm. “Nhưng tôi chỉ là một đứa bé, và mẹ đã tìm thấy hầu hết và trả chúng lại.” “Không phải tất cả.” “Vì tôi không thể nhớ được đã để chúng ở đâu!” con bé tuyên bố, ném cho anh cái nhìn thách thức của một tiền vệ nhỏ tuổi. “Cháu nói điều đó khoảng một triệu lần rồi.” Lờ anh đi, con bé tập trung vào những gì nó đang làm. “Đây là những điều tôi yêu. Tôi yêu mẹ và bố và Danney, bác Phoebe và bác Dan và tất cả những anh chị em h của mình và hoàng tử khi chú ấy không nói về những chiếc điện thoại và Belle và tất cả mọi người trong câu lạc bộ sách trừ Portia, vì bác ấy không để tôi cầm hoa khi bác ấy cưới Bodie vì họ chạy tốn với Vegas Heath cười lớn. “Họ chạy trốn.” “Họ chạy trốn,” con bé lặp lại. “Và Belle không muốn Portia tham gia câu lạc bộ sách, nhưng bác Phoebe cố nài vì bác ấy nói Portia cần…” con bé không thể nhớ được, và con bé nhìn Heath. “Tình bạn với những người phụ nữ không có tính cạnh tranh,” anh nói với một nụ cười. “Và, như thường lệ, bác Phoebe đã đúng. Chính vì thế, bằng sự sáng suốt của mình, chú đã thuyết phục bác Phoebe trở thành cố vấn của Portia.” Pippi gật đầu và tiếp tục nói chuyện phiếm. “Hoàng tử quý Portia. Portia từng là bà mối, nhưng giờ bác ấy làm việc cho chú ấy, và hoàng tử nói bác ấy là người đại diện thể thao chết tiệt giỏi nhất chú ấy từng biết, và, nhờ bác ấy, bộ phận thể thao mới của phụ nữ đang ngày càng phát triển.” “Cô ấy là đại diện thể thao giỏi thứ ba,” anh nói. “Sau Bodie và chú. Và không được nói chết tiệt.” Con bé lún sâu hơn vào chiếc ghế bành lớn, bắt tréo hai bàn chân giống y hệt anh. “Hoàng tử trả cho Portia rất nhiều tiền vì món quà cưới dành cho Annabelle. Mẹ nói đó là món quà ngớ ngẩn, nhưng Belle nói hoàng tử đã tặng thứ cô ấy thích nhất trên đời, và giờ Portia cho Belle lời khuyên trong việc làm thế nào để trở thành bà mối.” Con bé nhăn trán. “Chú tặng cho Belle cái gì làm quà cưới thế?” “Dữ liệu từ công ty cũ của Portia.” “Chú nên tặng cô ấy một con chó con.” Heath cười lớn, rồi cáu kỉnh nhìn chiếc ti vi. “Đừng có lúc nào cũng xoáy bóng chứ, đồ ngốc!” “Tôi không yêu đội Bít Tất,” Pippy nhấn mạnh. “Nhưng tôi yêu bác sĩ Adam và Delaney vì họ để tôi cầm hoa trong đám cưới, mẹ của Belle khóc và nói Belle là bà mối giỏi nhất trên thế giới. Tôi yêu Rosemary vì cô ấy kể chuyện và trang điểm cho tôi. Bây giờ Rosemary cũng đang ở trong câu lạc bộ sách thì Rosemary cũng sẽ ở trong câu lạc bộ, vì Rosemary cũng cần có bạn nhiều như Portia, và rồi Belle nói cô ấy quá hạnh phúc để có thể tiếp tục gi lại sự say đắng xưa.” “Cay đắng.” “Đây là những gì tôi không yêu.” Con bé lại len lén nhìn về phía Heath. “Tôi không yêu Trevor Granger Champion. Thằng bé có chiếc bỉm to tướng ở bẹn.” “Lại bắt đầu rồi đây.” Heath chuyển cái gối tựa trong tay lên vai anh. Con bé bỏ chiếc máy ghi âm xuống, bò ra khỏi cái ghế bành to, và trèo lên trên xô pha cạnh anh, săm soi em bé đang ngủ với vẻ khó chịu. “Trevor nói với cháu nó ghét vì chú bế nó suốt. Nó nói nó muốn chú đặt…nó…xuống!” Vì Trevor chỉ mới sáu tháng, Heath nghi ngờ khả năng ngolf ngữ của thằng bé cao đến thế, nhưng anh tắt tiếng ti vi đi và hướng sự chú ý sang cô bé năm tuổi đang ghen tị. “Chú tưởng chúng ta đã nói về chuyện này rồi.” Con bé dựa vào anh. “Nói lại với cháu đi.” Anh vòng cánh tay rảnh rỗi quanh vai con bé. Pip không hài lòng trừ phi tất cả những người đàn ông trong thế giới tự do hoàn toàn chịu sự sai khiến của con bé, điều con bé rất hay làm. “Trev chỉ là em bé. Em ấy rất tẻ nhạt. Em ấy không thể chơi với chú như cháu được.” “Và em ấy là thằng bé khóc lóc to tướng.” Heath cảm thấy nhu cầu phụ tử ủng hộ tính nam nhi của con trai mình. “Chỉ khi em ấy đói bụng thôi.” Pippy nâng đầu lên. “Cháu nghe thấy họ di chuyển trên lầu. Cháu nghĩ đã đến lúc ăn tráng miệng rồi.” “Cháu chắc không muốn xem nốt trận đấu với chú chứ?” “Thực tế đi nào.” Đó là câu nói mới nhất của con bé, và nó sử dụng câu này mỗi khi bố mẹ nó không có mặt. ... Mời các bạn đón đọc Mai Mối Cho Tối Nếu Em Có Thể của tác giả Susan Elizabeth Phillips.
Lỡ Yêu Người Hoàn Hảo - Susan Elizabeth Phillips
Bằng câu chuyện hài hước, tác giả chứng minh rằng những người tính cách trái ngược luôn tạo sức hấp dẫn với đối phương. Tình đầu hay tình cuối / 9 bí quyết để trở thành nhà văn ăn khách Câu chuyện bắt đầu bằng việc Lucy Jorik chuẩn bị kết hôn với Ted Beaudine - ngài thị trưởng trẻ tuổi, điển trai, tài năng và giàu có của thị trấn Wynette. Đó là người đàn ông hoàn hảo được tất cả phụ nữ trong thị trấn ngưỡng mộ. Đám cưới sẽ diễn ra tốt đẹp nếu không có sự xuất hiện của Meg Koranda - cô bạn thân chuyên gây rắc rối của Lucy. Meg đến Wynette để tham dự đám cưới của Lucy với vai trò phù dâu. Nhưng ngay từ lần đầu tiên gặp Ted, bằng linh cảm của một người bạn thân Meg đã một mực quả quyết rằng anh chàng này chẳng hợp với Lucy chút nào. Vốn mê Ted như điếu đổ, nhưng chẳng hiểu tại sao Lucy lại nghe theo lời khuyên của Meg và hủy bỏ hôn lễ vào phút chót. Từ đây, Meg chính thức trở thành kẻ thù của Ted và cả thị trấn Wynette - nơi tôn sùng thị trưởng của họ không khác nào một vị thánh. Lúc này, một rắc rối khác tiếp tục xảy đến với Meg. Vì muốn cô con gái ba mươi tuổi của mình tự lập, dừng việc rong chơi vô bổ suốt ngày và dựa dẫm vào người khác, bố mẹ Meg đã khóa các tài khoản của cô. Nợ tiền phòng, bị Ted gây khó dễ, cộng thêm việc không tìm được ai giúp đỡ, Meg đành phải ở lại Wynette làm công để trừ nợ. Từ một cô tiểu thư quen hưởng thụ, bỗng chốc Meg trở thành một nhân viên phục vụ phòng cỏn con và suốt ngày bị bắt nạt. Không còn cách nào khác cô đành nhẫn nhịn và chăm chỉ làm việc để sớm có tiền  quay trở lại Los Angeles.  Do hiểu nhầm Ted là một người đàn ông trăng hoa, nên Meg đã ghét cay ghét đắng anh chàng và suốt ngày tìm cách chơi xấu. Nhưng càng ở lâu bên Ted cô mới nhận ra anh là một người đàn ông tuyệt vời hơn cả những gì thiên hạ vẫn đồn đại. Tình yêu đã chớm nở giữa hai con người hoàn toàn trái ngược này. Đây cũng là lúc những rắc rối mới xảy đến. Đầu tiên là việc đám phụ nữ ở Wynette, đặc biệt là những cô nàng đang để ý đến Ted không thể chấp nhận được chuyện anh yêu Meg. Tất cả đều cho rằng Meg đã dùng thủ đoạn để quyến rũ ngài thị trưởng đẹp trai của Wynette. Họ tìm đủ mọi cách để chơi xấu Meg. Không chỉ có vậy, Spencer Skipjack - ông chủ lớn nhất trong dự án đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng ở Wynette cũng để ý đến Meg. Điều đó đồng nghĩa với việc Ted phải đứng giữa hai lựa chọn khó khăn là bảo vệ người con gái anh yêu hay nghĩ cho tương lai của thị trấn Wynette. Chỉ có dũng cảm đứng lên đương đầu với mọi khó khăn mới đưa họ đến một cái kết hạnh phúc. Susan Elizabeth Phillips không còn xa lạ với những độc giả yêu thích dòng văn học lãng mạn Mỹ. Các tác phẩm nổi tiếng của bà xuất bản ở Việt Nam gồm: Trời sinh quyến rũ, Tình đầu hay tình cuối, Con của riêng tôi, Mai mối cho tôi nếu em có thể, Vì đó là em... Các tiểu thuyết của Susan đều nằm trong danh sách best-seller của tờ USA Today và New York Times. Bà là tác giả 5 lần đoạt giải "Sách của năm" và từng nhận giải "Thành tựu trọn đời" do Hội các nhà văn lãng mạn Mỹ trao tặng. *** Bộ sách Wynette, Texas gồm có: Fancy Pants (Wynette, Texas, #1) Lady Be Good (Wynette, Texas, #2) Glitter Baby (Wynette, Texas, #3) First Lady (Wynette, Texas, #4) - Tình Đầu Hay Tình Cuối What I Did for Love (Wynette, Texas, #5) - Lỡ Yêu Người Hoàn Hảo Call Me Irresistible (Wynette, Texas, #6) The Great Escape (Wynette, Texas, #7) *** Lời tác giả Mỗi cuốn sách tôi viết đều có một đời sống độc lập, nhưng điều đó không ngăn cản các nhân vật trong tác phẩm này lang thang vào trong một tác phẩm khác. Rất nhiều người bạn cũ đã bước vào trong cuốn sách này - Francesca và Dallie Beaudine từ Fancy Pants; Nealy Case và Mat Jorik từ First Lady; Fleur và Jake Koranda từ Glitter Baby (Bé Cưng Lấp Lánh); Kenny Traveler và Emma (ối chà... Công nương Emma chứ) từ Lady Be Good, và cuốn này còn bao gồm cả câu chuyện tình yêu có một không hai của Torie và Dex nữa. Bạn có thể thấp thoáng bắt gặp hình ảnh Meg ngày xưa trong What I Did for Love (Tình đầu hay tình cuối) và gặp phiên bản thời trẻ của Ted trong cả Fancy Pants lẫn Lady Be Good. Và, phải, Lucy Jorik xứng đáng có một cái kết hạnh phúc. Khi viết những dòng chữ này, tôi đã đang làm việc cật lực với câu chuyện của cô ấy rồi. Tôi cần phải cảm ơn sự động viên của rất nhiều người, trong đó có biên tập viên và người bạn thân quyến rũ khôn cưỡng của tôi, Carrie Feron; đại diện lâu năm của tôi, Steven Axelrod, những người cổ vũ tuyệt vời của tôi ở Harper Collins, William Morrow và Avon Books. Đúng vậy, tôi biết rõ ràng tôi may mắn biết bao khi được tất cả các bạn cùng sát cánh bên tôi. Tôi không biết mình có thể làm gì nếu không có trợ lý tài năng Sharon Mitchell, người đã giúp hết thảy mọi chuyện được trôi chảy. Vô cùng cảm ơn cố vấn golf độc nhất vô nhị của tôi, Bill Phillips. Ngoài ra còn có Claire Smith và Jessie Niermeyer vì đã chia sẻ “Những câu chuyện từ xe đồ uống” của họ. Nhiệt liệt hoan hô những bạn văn thân thiết của tôi: Jennifer Greene, Kristin Hannah, Jayne Ann. Krentz, Cathie Linz, Suzette Van và Margaret Watson, cùng tràng pháo tay đặc biệt dành cho Lindsay Longford. Xin được gửi những cái ôm nồng nhiệt tới những người bạn tôi mới quen trên Facebook cùng tất cả những người ủng hộ tuyệt vời đã gửi tin nhắn cho tôi! SUSAN ELIZABETH PHILLIPS Mời các bạn đón đọc Lỡ Yêu Người Hoàn Hảo của tác giả Susan Elizabeth Phillips.