Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Chết Trong Ngày Chúa Nhật

Trong tháng vừa rồi có một sự kiện, đó là một cuốn tiểu thuyết gần chục năm nay lăn lóc chu du qua cửa các nhà xuất bản nhưng chưa từng được nơi nào đón nhận, đã đến tay người đọc bằng câu thần chú “lưu hành nội bộ”.                Mấy năm trước tôi nghe có nhà phê bình nói rằng văn học Việt Nam những năm gần đây “không có tác phẩm”, họ cũng phủ nhận sự tồn tại của “văn học ngăn kéo”. Tôi thì lười nên vẫn cứ trông chờ những người đọc chuyên nghiệp và chăm chỉ. Thông tin ra sách vẫn ào ào và trong đó rất nhiều tác phẩm “gan ruột” của các cây bút, nhưng tôi vẫn chưa thể quan tâm. Tôi không đọc. Các nhà phê bình hình như đã rút vào “cổ mộ” thì phải, âm thanh từ phía họ không vang đến tôi.                Tôi không nghiên cứu phê bình văn học cũng không làm nghề xuất bản, chuyện nước nhà có hay không có tác phẩm văn học “ra hồn” không phải chuyện của tôi. Tôi không cần vội.                Thế mà tôi đã vội vã đọc “Chết trong ngày Chúa Nhật” ngay khi sách vừa lưu hành. Có mấy động cơ đồng thời. Thứ nhất là cơ hội tìm hiểu khung thẩm mỹ văn chương và mức độ kiểm duyệt (bị phàn nàn bất bình quá nhiều) của các nhà xuất bản hiện tại. Thứ hai là tò mò muốn biết với nhịp văn (đều đều chán ngắt) như ở vài trang hé lộ trước thì người viết chuyển nhịp kiểu gì, còn trong trường hợp cả sáu trăm trang (nghe nói là không hề xuống dòng) vẫn giữ nguyên nhịp như vậy thì thần kinh của tôi có tiếp nhận được suôn sẻ không, trong khi có những người chỉ xem một trang đã bỏ cuộc vì họ sợ đọc một thứ như vậy có thể ảnh hưởng tiêu cực đến cảm hứng đọc văn chương của họ. Thứ ba là… Có động cơ thứ ba nữa không nhỉ? Có chứ! Nhưng động cơ này mơ hồ khó gọi tên ra được, có lẽ đó là linh cảm. *        Vội đọc nhưng không đọc vội. Sau năm ngày tôi mới đọc hết cuốn sách.                Trái với lo ngại của tôi, hóa ra là truyện dễ đọc hơn tôi tưởng rất nhiều, mặc dù đúng là không hề xuống dòng chia đoạn cũng không hề đổi nhịp. Không thiếu những dấu chấm dấu phẩy, tuy vậy tôi không chắc lắm về ảnh hưởng của những dấu câu này tới nhịp văn, bởi vì “đội quân” này thậm chí lơ đễnh ngay cả trong việc giữ gìn trật tự ngữ pháp vốn là nhiệm vụ đầu tiên then chốt của chúng. Dù các dấu chấm dấu phẩy lúc thưa thớt lúc dày đặc thì nhịp văn vẫn thế, vẫn cứ đều đều mà không có chỗ nào khác biệt hoặc nếu có thì cũng không đủ để tôi kịp nhận ra vì tôi đã bị cuốn đi theo nhịp suy tưởng của nhân vật mà không còn đủ sức để tâm đến nhịp văn nữa. Và cứ như thế từ đầu đến cuối. Nhưng bù lại mỗi khi tôi muốn tôi đều có thể dừng lại nghỉ, chỉ cần ghi nhớ trang mình đang đọc dở là trang thứ bao nhiêu, không cần tiếc nuối vì mình đã bỏ không theo kịp cao trào nào đó của truyện. Bởi vì trước sau như nhất cũng chỉ có một thằng cha lải nha lải nhải trong óc hắn ngày này qua tháng khác không có dấu hiệu kết thúc, chỉ có cuốn sách là kết thúc sau hơn sáu trăm trang.                Những người muốn giữ gìn cảm xúc trong trẻo tươi sáng lạc quan yêu đời hoàn toàn đúng khi chọn bỏ qua không đọc truyện này. Ngay từ mở đầu, thằng cha nhân vật đã trưng chộ mớ lý sự lằng nhằng câu từ rối rắm, một trong những dấu hiệu điển hình khiến người ta lập tức nghĩ tới những kẻ nốc lắm sách vở chữ nghĩa nhưng không làm ra chuyện gì có kết quả, như khi nhìn đám dây khoai mọc bò tràn lan rậm rạp thì ta biết là không thể mong thu hoạch được củ vậy. Vâng nhưng khoai không phải khi nào trồng cũng để lấy củ, nếu ta được mời xơi lá xơi ngọn thì cũng hãy cứ thưởng thức vì rau khoai dù sao cũng lành. Ái dà cái gì nữa này, giữa rau có sâu? Giữa mớ chữ nghĩa điệu bộ loằng ngoằng bỗng chồi ra những hồi tưởng hoặc mơ tưởng dâm dục cùng những từ bậy bạ tục tĩu. Vậy là bản năng của con thú vẫn còn trong hắn mà chưa bị những khái niệm nuốt chửng. Thôi vậy thì cũng chẳng tệ quá! Mới chỉ chưa đầy chục trang đã vậy, cứ theo dõi tiếp xem hắn thế nào…                Ô hô ai tai nào đâu phải chỉ có khát dục, thằng nhân vật này, à không, bốn thằng này (thì ra là có tới bốn thằng cơ) đã giẫm qua một lằn ranh đạo đức. Bọn chúng thuê chung một cô gái điếm. Ngủ với gái điếm thì chưa có gì đặc biệt, nhưng đây bọn chúng đem cô vào ở chung cùng một nhà và chia phiên hưởng thụ, thế này thì đày ải nhau quá! Ơ nhưng gì thế? Mỗi thằng mỗi tháng chi cho cô điếm nửa tháng lương của mình à, tử tế nhỉ? Giờ thì chả biết là gái điếm hay nàng Bạch Tuyết nữa. Bọn chúng giàu lòng thương xót vậy ư? Thậm chí bọn chúng còn sợ chúng sẽ yêu nàng…                Ô không hóa ra chỉ là trò tự lừa đảo bản thân của thằng “tôi” ấy thôi. Trong tầng tầng lớp lớp ký ức nhập nhoạng của hắn đã hiện ra tội ác kinh hoàng: Cô gái điếm tên Hạnh kia hóa ra không phải là gái điếm được bốn thằng Tùng-Lâm-Hưng-Vũ ấy thuê về, cô ta cũng chưa từng là gái điếm, cô ta bị bọn chúng hiếp dâm tập thể và bắt mang theo làm nô lệ tình dục cho chúng. Cô gái non tội nghiệp chẳng làm sao thoát được…                Thật quái quỷ! Thì ra tôi đã bị thằng “tôi” kia với lải-nhải-tràng-thiên của hắn lừa một vố thật to. Giờ thì tôi không làm sao còn biết được tội ác kia có thật đã từng xảy ra hay không, rốt cục cô Hạnh kia là gái điếm hay nô lệ tình dục sau khi bị hiếp dâm, và cô tên Hạnh là chị gái hay em gái hay bạn gái hay mẹ của một thằng “tôi” nào, cô Hạnh này chỉ là một cô hay là có nhiều cô đều trùng tên Hạnh…                Đã bao giờ quý vị gặp một kẻ mà ngay từ phút đầu tiên y đã cho quý vị cái ấn tượng rằng y là một nhân vật đặc biệt xuất chúng với khả năng tư duy logic cùng lập luận sắc bén đến nỗi dù y có khác lạ sao đó thì quý vị vẫn mở lòng chấp nhận lắng nghe rồi sau vài tiếng đồng hồ hoặc sau một số ngày quý vị mới ngã ngửa ra rằng y là một bệnh nhân tâm thần? Vâng tôi đã từng. Ấy thế mà kinh nghiệm đó chẳng giúp gì cho tôi khi đọc tiểu thuyết này, đến khi vỡ lẽ cái thằng cha nhân vật chỉ là thằng điên đa nhân cách thì tôi đã ngốn hết nửa cuốn sách chứ ít gì đâu!                Thật ra tôi cũng chẳng nhớ tôi phát hiện “tôi” là thằng điên từ đoạn nào từ trang nào, nhưng thôi truy cứu chuyện ấy chẳng ích gì còn làm mất thêm thời gian của quý vị. Tóm lại, có thể gọi cái thằng Vũ-Hưng-Lâm-Tùng ấy là nhân vật Một-Chẻ-Tư Hoặc Bốn-Trong-Một, tức là tính thành một thằng hay bốn thằng đều được. Tại sao lại là bốn mà không phải là ba hay năm? Cụ thể thì trong truyện có vài cách “liệt kê”. Cách thứ nhất: một nhà lãnh đạo cách mạng, một thầy tu, một nhà thơ và một đao phủ. Cách thứ hai: một kẻ độc ác luôn tỏ ra độc ác, một kẻ độc ác luôn tỏ ra tử tế, một kẻ tử tế luôn tỏ ra độc ác và một kẻ tử tế luôn tỏ ra tử tế. Hình như có vài cách nữa mà không rõ ràng chính xác lắm nên tôi quên rồi.                Đã chấp nhận nhân vật đang kể chuyện là kẻ mang bệnh tâm thần với những cơn hoang tưởng thì độc giả không cần phải lo lắng về chuyện mình không sao nắm nổi đầu đuôi câu chuyện mà hắn kể cũng như những nhân vật trong câu chuyện là ai với ai nữa, và cứ thoải mái yên lòng mà nghe hắn tường thuật những hành vi đê tiện phi nhân mà hắn và đồng bọn thực hiện, vì kẻ điên không phải chịu trách nhiệm gì dù tội ác có thật hay tưởng tượng. Cũng chính từ lúc tôi vừa kịp nhận ra Tùng-Lâm-Hưng-Vũ là một thằng hoặc một bọn tâm thần thì mức độ điên rồ, đau đớn, ác độc, kinh tởm, tàn khốc, tuyệt vọng trong câu chuyện cũng tăng dần… Người đọc không còn lo cho nhân vật mà có lẽ cần lo cho chính mình. *        Tôi đã nhận ra cái nhịp văn nhanh đều đều suốt từ đầu đến cuối truyện ấy chính là nhịp mưa. Một trận mưa ngôn từ xối xả trút xuống, mới đầu tưởng không nguy hiểm gì mà ngờ đâu không dừng không tạnh, mây đen cứ tiếp tục kéo đến ngày càng dày càng nặng, nước dâng lên dần thành một cơn lũ làm xói lở và cuốn trôi những gì với ta là cần thiết quý giá, đồng thời làm nổi dềnh lên những thứ bẩn thỉu hôi thối mà không bao giờ ta muốn nhìn muốn ngửi, rồi dần dần đồ quý hay rác rưởi cũng không còn quan trọng nữa vì ngay cả nơi trú ẩn cuối cùng của ta cũng bị cuốn đi…                Những nhân vật trong truyện từ chối mọi hy vọng và mơ ước thanh cao, vì những gì đẹp đẽ không hề có trong đời thực của họ mà chỉ có trong Kinh Thánh. Những biểu tượng ẩn dụ trong Kinh Thánh khi đem ghép vào những tình tiết trong câu chuyện của họ trở thành lố lăng kệch cỡm hoặc chua xót tức cười. Một cơn mưa không đủ dài để nhấn chìm những kẻ chờ chết, một con tàu được làm để phòng ngày tận thế mà dang dở không bao giờ xong, một đường hầm tiêu tốn cả phần dài ngoẵng của cuộc đời đến ngày đào xong thì hóa ra chẳng còn cần dùng vào việc gì, một kẻ rao tin mừng lại là thằng tâm thần làm bạn bè người thân xấu hổ…                Tam Yên, “miền đất hứa” của những thằng “tôi” ấy không có bằng chứng gì về sự tồn tại của nó, nhưng dù bốn thằng Tùng-Lâm-Hưng-Vũ có cãi nhau thế nào thì bọn họ vẫn luôn thống nhất trong việc phải tìm đến Tam Yên, dù không ai trong số họ biết Tam Yên có gì chờ họ ở đó. Đến sẽ biết. Họ tìm hoài không thấy, hoặc không ai chịu chỉ đường hoặc có kẻ chỉ đường nhưng lại là lừa dối. Với những kẻ cho là họ biết Tam Yên ở đâu (những người không tìm Tam Yên) thì Tam Yên khi là một trại cai nghiện, khi là một nhà tù, có khi lại là một trại tâm thần. Khi bọn “tôi” đến Tam Yên thì Tam Yên là một nơi hoang phế chết chóc, nhưng họ đều nhận đó chính là Tam Yên của họ. Điều gì chờ họ ở đó? Một tiếng nói thì thầm bên tai nhận là Đấng Phán Truyền thôi thúc “tôi” hãy giết người mình yêu dấu nhất để hiến tế. “Tôi” hoàn tất việc đó, rồi điều gì xảy ra? “Tôi” nhận ra mình đã bị lừa. Chỉ có thể là ma quỷ chứ không phải Đấng Hằng Hữu nào cả.                Thằng “tôi” ấy có bị điên thật không? Tất cả là do người đọc tự suy đoán chứ tác giả không hề kết luận điều gì. Nhưng chắc chắn là trong mọi câu chuyện của “tôi” có quá nhiều điều dối trá. “Tôi” đã tưởng thế là thật trong cơn điên hay là ngay cả trong cơn điên hắn cũng cố tình né tránh sự thật? Tất cả đều có thể. *        Những độc giả mong đọc văn chương để thưởng thức sự bóng bẩy của ngôn từ hay những cảm xúc đẹp đẽ dịu ngọt thảy đều nên tránh xa tác phẩm này. Những từ ngữ thô lỗ, những triết lý sống sượng nhai lại, những câu thoại cụt lủn đơn điệu… được thằng Một-Chẻ-Tư Hoặc Bốn-Trong-Một thổ ra tràn lan ngập ngụa. Có những khi chẳng thể nào tránh khỏi, hồi ức về người mẹ, người chị, người em gái… với tình thương rất đỗi tha thiết rất đỗi dịu dàng sống dậy nhưng liền ngay đó bị vùi dập trong nỗi xót xa. Đôi chỗ hiếm hoi, khi thằng “tôi” mơ màng nhớ về một người con gái nào đó với cảm xúc trong trẻo, hắn đột nhiên quên mất giọng điệu thô thiển và lúc đó độc giả được thấy những hồi ức tuyệt đẹp, giống như giữa cả màn mây dày xám xịt bỗng hé ra một khoảng trời trong xanh nhưng chỉ trong phút chốc đã bị lấp kín như cũ.                Những câu chuyện không đầu không đuôi đột ngột thay đổi nối tiếp nhau với nhịp văn đều đều hối hả đã gợi lên cho người đọc những trường liên tưởng chồng chất, những nỗi ám ảnh mà tôi không thể phủ nhận rằng chúng rất thật. *        Có lẽ sẽ không nhiều người đọc tiểu thuyết này, bởi vì tuy nó không khó đọc nhưng đọc nó rất khó chịu. Một tác phẩm không chiều chuộng độc giả, không khoan nhượng, không né tránh. Một tác phẩm không dễ viết.                Trước đây tôi chưa từng đọc truyện nào của Nguyễn Nguyên Phước và thậm chí chưa từng biết tới tên anh. Tôi cảm thấy may mắn đã đọc “Chết trong ngày Chúa Nhật”, vì với tôi đó là bằng chứng xác thực rằng trên mảnh đất này những nhà văn vẫn còn đang sống.                Một tác phẩm tự vấn nghiêm khắc, đủ sức nặng để đối thoại.                Tôi không nghĩ tiểu thuyết này của Nguyễn Nguyên Phước sẽ ảnh hưởng đến hình thức hay nội dung chuyện kể của những nhà văn khác, nhưng nó góp phần ảnh hưởng đến việc những câu chuyện có thể không bao giờ kể ra sẽ được kể ra. Một mình nó không đủ là một cơn hồng thủy, nhưng rất có thể nó là tín hiệu mở đầu cho “cơn hồng thủy”.                Tôi tin “Tam Yên” của Nguyễn Nguyên Phước là nơi các nhà văn cất lên tiếng nói bằng những tác phẩm sâu sắc, họ ý thức rõ rằng trên thế giới này họ luôn là những người được tự do nhiều nhất trong công việc của mình, và vì thế họ chỉ có thể đòi tự do từ chính bản thân mình mà thôi.                                                                                                                                                                     03 – 12 – 2019. *** Miên man không chương đoạn, vắng dấu phảy, chuyện-chuyện-chuyện rối đan chồng chéo. Đối thoại. Triết lý. Độc thoại. Triết lý. Chửi thề. Triết lý. Bài bạc. Triết lý. Hút chích. Triết lý. Đĩ điếm. Triết lý. Giết chóc. Triết lý. Hồi ức. Triết lý. Mơ mộng. Triết lý. Hoang tưởng. Triết lý. Điên dở. Triết lý. Mắc kẹt. Chạy trốn. Đào thoát. Có hiện thực Việt Nam những năm 90. Có mê cung Kafka. Có viễn tưởng. Có giết chóc kinh dị. Chết trong ngày Chúa nhật của Nguyễn Nguyên Phước là lời mời gọi tôi vào cuộc phiêu lưu trong điệp trùng câu chữ. Tác phẩm đặt tôi bên rìa vực giữa quen thuộc-xa lạ, dễ hiểu-khó lý giải, thô lậu-tinh tế, hời hợt-thâm sâu, nghiêm túc-hài hước, phá cách-chỉn chu, hiện thực-hoang tưởng. Đây là cuộc chơi ngôn từ đầy thách thức. Có lúc tôi trầm trồ, có lúc tôi dừng lại hoài nghi, nhưng đó là sự hoài nghi mang tín hiệu tích cực, hé lộ về con đường tìm đến tự do của viết. Tự do, tự do và tự do. Có lẽ đó là tất cả những gì cuốn sách này, ngôn ngữ cùng nhân vật, đã quăng mình vào một cuộc vặn xoắn, giã nát và vượt thoát để chạm đến tự do. Chết trong ngày Chúa nhật là cuộc đào thoát khỏi bản thể để tự do. Vì sao phải chạy trốn khỏi mình để tự do? Có bao nhiêu lớp khóa vô hình khóa chặt tâm hồn một con người? Những thủ pháp nghệ thuật nào nổi bật trong cuốn tiểu thuyết này, để ta có thể băng qua như băng qua những ngọn núi, dòng sông và cánh đồng, vừa đi vừa ngẫm, để chân ta được neo lại trong những khoảng thời gian đủ dài, để từ từ lật mở, khi khẽ khàng, lúc dữ dội, vừa lạc vào mênh mông, vừa xoáy hút chốn thẳm sâu…? Người đăng: daotieuvu

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đồng Quê - Phi Vân
Đề tài nông thôn trong sáng tác của các nhà văn không phải là điều gì mới lạ. Tuy nhiên, để khắc họa được một bức tranh quê với đủ các diện mạo, màu sắc của nó không phải là điều dễ dàng. Có thể nói, phần lớn chủ đề tác phẩm của các nhà văn miền Nam *** Đây là những bài báo. Bởi thế cách hành-văn cũng như nội-dung đều có tính-cách “nhật-trình”. Lối văn gần như cẩu-thả. Câu-chuyện có vẻ nhất-thời. Nhưng tôi cứ để nguyên cho nhà xuất-bản. Nghĩ rằng: hồi ấy tôi đã để ngòi bút chạy theo dòng ý-tưởng, dầu khéo dầu vụng, cách thuật chuyện cũng được cái đặc-điểm là ghi tâm-trạng tôi lúc viết. Hình-ảnh những nhân-vật trong chuyện - những người đã cùng tôi sống chung - ngày nay đã mờ trong ký-ức. Kể lại một quãng đời phải chăng là sống lại với ngày qua? Có lẽ thế. Nhưng tôi muốn xa hơn: Vẽ một bức tranh phong-tục và tập-quán. Thật là quá cao-vọng. Tự thấy còn thấp-kém, nhưng tôi vẫn cố-gắng. Đây là những bài đầu, tôi ước-mong sẽ có thể viết thêm. Nếu chưa hiến được độc-giả những bài đúng theo nguyên-tắc tôi đã tự vạch, thì xin hẹn lại ở những bài sau. PHI-VÂN *** Phi Vân (1917-1977) là một nhà báo, nhà văn chuyên viết thể loại truyện vừa và tiểu thuyết mang sâu đậm dấu ấn Nam bộ trước 1954. Phi Vân tên thật là Lâm Thế Nhơn, sinh năm 1917 trong một gia đình trung lưu ở thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Ông chuyên viết phóng sự, truyện ngắn cho những tờ báo, tạp chí ở miền Nam trước đây như Tiếng Chuông, Dân Chúng, Tiếng Dân (của cụ Huỳnh Thúc Kháng) và làm chủ bút tờ Thủ Đô thời báo. Ông có lối viết linh hoạt, gọn gàng, pha chút hóm hỉnh, làm cho cho độc giả khóc, cười theo từng cảnh đời, từng nhân vật. Bối cảnh trong các tác phẩm của ông là làng quê Nam bộ xa xôi hẻo lánh với những người nông dân chất phác, cục mịch sống với tập tục cổ hủ, lạc hậu và cuộc sống cực nhọc tối tăm. *** Chỗ hứng-thú của quyển phỏng-sự ấy là nó cho ta thấy những phong-tục cũ-kỹ ở thôn-quê, những tin-tưởng dị-đoan của hạng bình dân lao-động. Nó cho ta thấy những cuộc giao-tiếp, xung-đột giữa bọn điền-chủ và tá-điền, những tâm-hồn mộc-mạc trong bọn nầy và những oai-quyền thế-lực của bọn kia. Đọc qua, chúng ta thấy mình len-lỏi chốn đồng quê, đang mục-kích những cuộc tụ-họp chơi-bời, những cảnh cần-lao rộn-rịp. Thỉnh-thoảng như đưa lại giọng hò trầm bổng trong đám gặt, như phất lại mùi thơm thanh-đạm của lúa vàng. Tác-giả lại còn dắt ta đi quanh co trong những sông rạch ở vùng Bạc-liêu, Cà-mau và sau mấy ngày dạo chơi mệt-mỏi, tác-giả dừng lại cho ta thấy một cảnh-sắc êm-đềm: trên bờ sông Trẹm, lững-lờ mấy làn khói trắng bốc lên và dưới hàng dừa xanh tươi, một thiếu-phụ ẵm con đứng đợi chồng về, lâu-lâu đuổi bầy gà đang bới trên giồng rau cải. Hoặc giữa đêm trường vắng-vẻ, chiếc thuyền xuôi mái theo Rạch Bần, tác-giả mời ta trông lên bờ sau hàng dừa nước âm-u, một vài ánh đèn le-lói; nghe từ xa đưa lại tiếng chày giã gạo, tiếng chó sủa đêm… Cho được kể lại rất tài tình những điều quan-sát rất kỹ-càng, làm cho ta như nghe, như thấy, lúc cảm, lúc vui, tất phải nhờ một ngọn bút tỉ-mỉ mà linh-hoạt, một giọng văn thành thật mà hữu-duyên, một cách viết tự nhiên, không rườm-rà mà đầy đủ. Ông Phi-Vân đã gồm cả mấy điều kiện ấy: Quyển phỏng-sự của ông như một tấn tuồng gay-cấn đặt trong cảnh trí xanh tươi; hay là - muốn nói cho rõ hơn - nó là một “nông kịch” chia ra nhiều lớp: có hồi hộp, có vui cười và và sau rốt kết cuộc rất thương-tâm, khiến cho độc-giả phải ngậm-ngùi cảm động. Có lẽ đó là bài luân-lý sâu sắc mà tác-giả không muốn chỉ cho rõ-ràng, để ta tự hiểu ngầm mà thương hại cho hạng nông dân lao-lực. Họ chỉ sống một cuộc đời mộc-mạc, siêng-năng; nhưng mãn kiếp phải làm nạn nhân cho bọn giàu sang thế-lực. Mà cả thảy chúng ta, theo như tác-giả nói lại là “nạn nhân của một thời-kỳ”; cho nên đối với mọi người ta nên để lòng thương hại và thứ dung, và nên cầu nguyện cho chốn đồng quê được chút vui tươi yên ổn… (Trích lục một đoạn bài diễn-văn của giáo-sư Nguyễn-văn-Kiết chủ-tịch của Hội Khuyến-học Cần-thơ đọc trong dịp lễ phát giải thưởng văn-chương Thủ-khoa Nghĩa năm 1943).   Mời các bạn đón đọc Đồng Quê của tác giả Phi Vân.
Doña Bárbara - Rómulo Gallegos
Rómulo Gallegos, tác giả của Doña Bárbara, là nhà viết tiểu thuyết nổi tiếng không những ở Venezuela – Tổ quốc ông – mà cả ở Trung và Nam Mỹ. Người đọc và nhà phê bình ở nhiều nước đều nhiệt liệt hoan nghênh tác phẩm của ông. Sinh năm 1884 và lớn lên trong một gia đình nghèo, Rómulo Gallegos, sau khi học xong trung học, phải đi làm “nghề gõ đầu trẻ” để kiếm sống. Với tư tưởng tiến bộ và nhiệt tình gắn bó với vận mệnh của đất nước, ông tham gia hoạt động chính trị rất sớm chống chế độ quân phiệt, độc tài Gómez đã bán rẻ quyền lợi kinh tế quốc gia cho tư bản nước ngoài và đàn áp tàn bạo nhân dân. Bắt đầu viết văn thật sự khi đã hơn ba mươi lăm tuổi, ông cho xuất bản tác phẩm đầu tay Reinaldo Solar (1920). Ngoài nhiều truyện ngắn, các tác phẩm khác gồm có Cây leo (1925), Doña Bárbara (1929), Canaima (1935), Cantaclaro (1934), Anh da đen khốn khổ (1937), Cũng trên mảnh đất ấy (1943), Cọng rơm trong gió (1952), Nổi loạn (1946). Đấu tranh không mệt mỏi cho tương lai tươi sáng của đất nước bằng cả hành động chính trị và tác phẩm văn học có tính chiến đấu sâu sắc, Rómulo Gallegos được bầu làm tổng thống Venezuela năm 1948, nhưng chẳng bao lâu ông bị các phe phái phản động lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự. Ông mất năm 1960. Đánh giá sáng tác văn học của Rómulo Gallegos, nhân dân nước ông và người đọc nước ngoài đặc biệt ca ngợi tính chiến đấu trong tiểu thuyết của ông nhằm cải tạo xã hội, giải phóng con người, chiến thắng thiên nhiên khắc nghiệt. Nổi bật hơn cả là Doña Bárbara được in lại rất nhiều lần ở Tây bán cầu, được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước thuộc các lục địa khác. Thảo nguyên bao la của Venezuela ngót sáu mươi năm trước đây, “Những dòng sông rộng không tưới cho đất trồng trọt, cũng không đưa đẩy thuyền bè ngược xuôi”, với những cuộc săn dồn bò hoang, săn cá sấu, bắt ba ba, tìm mật ong, đốt phá đồng cỏ trên phạm vi rộng cũng như những buổi liên hoan nhảy múa vào mùa chia đàn súc vật được miêu tả thật đặc sắc dưới ngòi bút của ông. Con người thảo nguyên cường tráng, chất phác, dũng cảm mà thiên nhiên hoang vu tạo nên và rèn luyện được dựng lên rất sắc sảo trong tác phẩm của ông. Tố cáo chế độ thống trị bất công, lên án bọn cầm quyền tàn bạo, vạch trần bọn ăn cướp Bắc Mỹ vừa trơ trẽn vừa nham hiểm trên đất Venezuela, tác giả tỏ ra là một nhà văn hiện thực sâu sắc, gây ấn tượng mạnh đối với người đọc. Nhưng đấu tranh bằng con đường nào để đất nước ông “sẽ có ngày trù phú và vui tươi” thì Rómulo Gallegos không vạch ra được. Con mụ địa chủ ác bá Doña Bárbara, tham lam cực kỳ, lại tự nguyện từ bỏ trang trại mà nó tạo nên bằng mọi thủ đoạn và đam mê hơn cả tình yêu say đắm, rồi lưu lạc nơi đâu chẳng ai biết nữa. Thằng cướp đất, cướp súc vật Bắc Mỹ cũng tự nguyện rời bỏ cơ ngơi nó chiếm được và đi kiếm ăn nơi khác khi thấy láng giềng của nó giăng dây thép cương quyết bảo vệ đất đai và súc vật của mình. Đó là do ông bị hạn chế trong quan điểm đấu tranh giai cấp gay gắt trong thời đại ngày nay để giải phóng xã hội, cải tạo con người, là ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng – những hạn chế rất dễ hiểu vào những năm 1925-1930. Dù sao, với những ưu điểm nổi bật của nó, nhà nghiên cứu văn học Đức Ulrich Leo đã đánh giá Doña Bárbara “là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất, vừa khỏe khoắn vừa mềm mại, vừa rộng lớn vừa thâm thúy, vừa hùng tráng vừa trữ tình… có thể so sánh với bất kỳ tác phẩm văn học hiện đại nào.” NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP PHÚ KHÁNH ... Mời các bạn đón đọc Doña Bárbara của tác giả Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn.
Kiếm Sống - Macxim Gorki
Macxim Gorki (1864 – 1934) là nhà văn vĩ đại của giai cấp vô sản, là ngọn cờ đầu của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Trong cuộc đời hoạt động văn học gần nửa thế kỷ, ông đã để lại một sự nghiệp chói lọi, một di sản sáng tác khổng lồ, nó là niềm tự hào của nhân dân Nga và của cả loài người tiến bộ. Truyện ngắn Macxim Gorki có sự kết hợp hài hoà yếu tố lãng mạn và hiện thực. Ở đó có sự gắn bó máu thịt của ông với nhân dân và đất nước qua các giai đoạn cách mạng. Trong truyện ngắn Macxim Gorki bộc lộ niềm khao khát tự do và ca ngợi ý chí hào hùng, bất khuất của con người, phơi bày tính chất tàn bạo của chế độ xã hội – chính trị trước cách mạng, cái chế độ giết chết mọi cái có sức sống trong con người; quá trình trăn trở, tự ý thức đầy gian khổ của các tầng lớp “dưới đáy” để vươn tới sự đổi đời; đề cao và thi vị hoá lao động: phê phán lối sống và tâm lý ươn hèn của tầng lớp trí thức tiểu tư sản và tư sản; những truyện ngắn triết lý, những truyện có tính chất tự thuật… Danh tiếng của Gorky như giọng văn học duy nhất từ những tầng lớp đáy xã hội và như một người ủng hộ nhiệt thành cho cuộc cải cách xã hội, chính trị và văn hoá Nga (tới năm 1899, ông công khai liên kết với phong trào Dân chủ xã hội Mác xít) khiến ông trở nên nổi tiếng trong cả giới trí thức và số lượng ngày càng gia tăng các công nhân "có ý thức". Ở trung tâm của mọi tác phẩm của ông là một niềm tin ở giá trị vốn có và khả năng của con người (личность, lichnost'). Ông đưa ra các cá nhân đầy sức sống, nhận thức về phẩm giá tự nhiên của họ, và có cảm hứng từ nhiệt tình và ý chí của họ, những người chống lại các điều kiện sống đang ngày càng tồi tệ đi quanh mình. Tuy nhiên, cả các tác phẩm cũng như những bức thư của ông cho thấy một "con người không ngừng nghỉ" (một người thường xem xét lại mình) đấu tranh để giải quyết những tình cảm về đức tin và thái độ hoài nghi trái ngược bên trong, tình yêu cuộc sống và sự phẫn nỗ với sự tầm thường và nhỏ mọn của thế giới con người. Mời các bạn đón đọc Kiếm Sống của tác giả Macxim Gorki.
Chỉ Là Chuyện Thường Tình - Tâm Văn
Cô bé lọ lem cũng có hoàng tử yêu thương, đóa hoa dại xuân sang cũng sẽ nở. Lần đầu gặp gỡ, cô là cô nữ sinh gày gò xanh xao, chẳng ai chú ý tới, bị người ta lãng quên. Tô Hàng, 14 tuổi, như vầng thái dương, xuất hiện trong cái thế giới ảm đạm của cô, mang đến cho cô những hơi ấm đầu tiên. Rồi cuối cùng mới nhận ra rằng, anh không phải là người thuộc về cô, mà chỉ là người khách qua đường. Lần đầu gặp gỡ, anh là cậu thiếu niên ngỗ ngược lầm lì ít nói, với bảng thành tích gây lộn, trốn học lẫy lừng. Là cô đã nắm lấy tay anh, đem đến cho anh tình bạn và niềm an ủi. Từ đó, hình bóng nhỏ bé và yếu ớt đó nhẹ nhàng xâm chiếm tâm tư anh, kéo dài tới tận 18 năm. Có biết bao mối tình khắc cốt ghi tâm, biết bao thâm tình sâu nặng, lúc đó cũng chỉ là chuyện thường tình. Vận mệnh xoay vòng, trải qua bao thăng trầm, ai mới là người có thể khiến cô sống chết không buông tay? *** Thanh Y bước xuống lầu, trong phòng khách, bố và dì Kiều đang ngồi đối điện, câu được câu chăng, chuyện phiếm với nhau. Từ sau khi Trác Thanh Liên trở về, bố sẵn sàng tâm thái chuẩn bị về hưu, mọi việc lớn nhỏ trong công ty đều giao cho anh lo liệu. “Bố, dì Kiều, chào buổi sáng!”, cô mỉm cười cất tiếng chào. “Con xem xem mấy giờ rồi, vẫn sớm quá nhỉ?”, ánh mắt trách móc của bố lướt một vòng quanh cô con gái, “Trang điểm cầu kỳ thế này, lại định ra ngoài đàn đúm với lũ bạn đầu trâu mặt ngựa hay sao?” Dì Kiều đưa mắt ra hiệu với chồng, mềm mỏng: “Y Y, cơm sáng và cả cơm trưa con đều chưa ăn, nhất định là đói rồi.Trong bếp dì vẫn để phần cơm, để dì đi hâm lại”. Nói rồi, dì toan dợm chân đứng dậy. Bố liền đưa tay ngăn lại: “Chẳng phải đã có thím Trương rồi sao? Những việc thế này đâu cần em phải động tay vào?” "Thím Trương hôm nay xin nghỉ nửa ngày, cháu thím ấy bị ốm”. Nói rồi dì Kiều gạt tay chồng ra, bước vào bếp. Thời buổi này, làm mẹ kế đâu có đễ, người giúp việc cũng khó mướn. ... Mời các bạn đón đọc Chỉ Là Chuyện Thường Tình của tác giả Tâm Văn.