Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Mười Lẻ Một Đêm

"Có một người đàn ông và một người đàn bà bị nhốt trong căn hộ trên tầng sáu suốt mười một ngày đêm". Đó là hai người nửa bạn nửa tình nhân mới gặp lại nhau sau hơn mười năm xa cách, và họ muốn trao thân cho nhau, lần đầu tiên. Họ mượn căn hộ của một người bạn - Họa sĩ Chuối Hột - để gặp gỡ, và đã bị nhốt ở đó bởi sự đãng trí ma lanh của ông bạn trời đánh. Chỉ một tình huống trớ trêu ấy mà cả một không gian xã hội rộng lớn đã mở ra, mở ra theo những trải nghiệm quá khứ của ba nhân vật tham gia tấn trò đời: Họa sĩ Chuối Hột, Người đàn ông và Người đàn bà. Tiếp đó là hàng loạt nhân vật khác. Tất cả các câu chuyện đều được kể lại từ ngôi thứ ba số ít; và luôn luôn giọng phát ngôn này bị đan cài, bị đánh lẫn vào giọng của chính các nhân vật đang được nói tới, nó tạo nên một kiểu giọng tưng tửng, giỡn cợt, giễu nhại rất đặc trưng cho văn xuôi Hồ Anh Thái. *** Chất hài hước, nghịch dị trong 'Mười lẻ một đêm' Bằng tiếng cười, tác giả của “Mười lẻ một đêm” đã phanh phui những cái nhẽ ra không có quyền tồn tại song lại nghiễm nhiên đang tồn tại trong cuộc sống. Mặt khác, nhà văn cũng buộc người đọc phải nhận thức một sự thật: cuộc sống này, ở đây, bây giờ, tất cả đều đang ngổn ngang, và chắc hẳn để có một trật tự tương đối, sẽ phải mất không ít thời gian và nỗ lực! 1. Tiểu thuyết Mười lẻ một đêm 1 của nhà văn Hồ Anh Thái có thể khiến người ta phải bật cười, bởi tính chất hài hước của nó. (Tôi không nói đây là cuốn tiểu thuyết hài, vì như thế sẽ sa vào một sự phân loại cực kỳ phức tạp). Cái đó có thể có gì đặc biệt hay không? Tôi cho rằng có. Nếu tôi không nhầm thì kể từ khi Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng ra đời đến nay, văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nói chung và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng đã đánh mất (một cách rất đáng tiếc) tiếng cười hài hước. Suốt một thời gian dài các nhà văn Việt Nam ít cười và cũng ít muốn khiến cho độc giả phải bật cười thông qua tác phẩm của mình. Chúng ta quá trang nghiêm, trang nghiêm đến mức coi sự cười cợt thoải mái là một trò lố, một sự vô bổ và thậm chí là có hại. Khi bắt tay vào việc viết một cuốn tiểu thuyết, nếu tôi không võ đoán, hẳn là các nhà văn của chúng ta đều "hằm hằm" nghĩ đến chuyện tác phẩm của mình sẽ phản ánh cái gì và phản ánh đến đâu, nó có vươn tới phục vụ những nhiệm vụ chính trị xã hội hay không và phục vụ đến đâu, nó có nêu một tấm gương đạo đức hay không và nêu đến đâu, nó có đưa ra một sự cảnh báo hay không và cảnh báo đến đâu... Nói chung, việc sáng tác tiểu thuyết bị đè xuống bởi một cứu cánh quá ư đạo mạo, nghiêm túc; và trong tình thế ấy thì không (hoặc khó) có thể bật ra tiếng cười giòn giã, vang rền, "xả láng". Nếu có chăng, nó chỉ là cái cười gằn, cười mỉa, hoặc cười mà ầng ậc nước mắt mà thôi! 2 2. Trở lại với tiểu thuyết Mười lẻ một đêm của nhà văn Hồ Anh Thái. Ta hãy đọc đoạn mở đầu tác phẩm: "Có một người đàn ông và một người đàn bà bị nhốt trong căn hộ trên tầng sáu suốt mười một ngày đêm. Mười lẻ một đêm và mười lẻ một ngày. Chính xác thì không đúng mười lẻ một đêm ngày, nhưng thực sự là bao nhiêu thì độc giả phải theo dõi hết cả cuốn sách mới biết được. Chẳng phải tác giả giữ mánh hay giấu bí quyết gia truyền, mà cái gì cũng phải tuần tự. Đôi khi đọc sách cũng là dịp thử thách lòng kiên nhẫn. Sách dở thì thử thách lòng khoan dung". Có thể thấy, giọng văn ở đây là kiểu giọng phát ngôn tưng tửng, nó được xuyên thấm bởi tính bỡn cợt, giễu nhại. Dường như có một khế ước mà tác giả đã thảo ra trước bạn đọc: "Các anh nên đọc hết cuốn sách này. Đọc xong các anh có thể tin hoặc không, vì những chuyện tôi kể có thể rất nghiêm túc hoặc có thể hết sức tầm phào”. Không đặt mục tiêu thuyết phục độc giả, nhà văn bày ra một cuộc chơi, bước vào cuộc chơi ấy, độc giả có thể vừa thưởng thức, vừa chứng nghiệm, vậy thôi! Và, cuộc chơi này được bắt đầu từ tình huống như vừa kể trên, "Một người đàn ông và một người đàn bà bị nhốt trong trong căn hộ trên tầng sáu suốt mười một ngày đêm. Mười lẻ một đêm. Và mười lẻ một ngày". Còn số mười lẻ một đêm buộc người ta phải nghĩ đến truyện Nghìn lẻ một đêm lừng danh mà người Ba Tư đã cống hiến cho nhân loại, nghĩ đến những chuyện kể được tạo nên bằng sự tưởng tượng cực kỳ phóng túng, bất chấp logic đời sống thực tế. Chất phóng túng ấy có ở Mười lẻ một đêm. Trước hết, nó được thể hiện qua các nhân vật đậm tính nghịch dị (grotesque, mà hầu như tất cả các nhân vật của cuốn sách đều là nhân vật nghịch dị). Họa sĩ Chuối Hột chẳng hạn: "Bốn mươi tám cái xuân xanh là bốn mươi tám mùa cởi mở. Thời trang yêu thích nhất là bộ cánh lúc lọt lòng mẹ". Sở thích - nếu có thể gọi đó là sở thích - khoả thân của Họa sĩ Chuối Hột được tác giả phóng đến cực đại. Ấn tượng nhất có lẽ là hình ảnh này: "Trong một góc nhà gã chống đầu xuống đất hai chân dốc thẳng lên trời, thân người bóng nhẫy, trắng lôm lốp như thân chuối. Tất nhiên là chuối hột trổ hoa ở quãng lưng chừng trời". Đó là cảnh hoạ sĩ Chuối Hột khoả thân tập yoga khi cửa nhà mở ra thông thống! Cảnh này, không hiểu sao cứ khiến tôi phải liên tưởng tới chàng hiệp sĩ xứ Mantra của Cervantes - nhân vật nghịch dị vĩ đại trong văn học thế giới: khi điên cuồng nhớ tới nàng Dulcinea, Don Quijote đã trồng cây chuối, áo sơ mi dốc xuống trùm mặt và chàng ta không hề mặc quần! Nhân vật Bà mẹ cũng đậm chất nghịch dị. Cái dâm của người đàn bà này được mở rộng tới mức quá khổ trên văn bản. Qua năm lần đò và vô vàn những cuộc phiêu lưu tình ái - tất cả đều diễn ra trước cặp mắt của đứa con gái, "con bé phải chứng kiến tất cả các thể loại đàn ông của mẹ" - Bà mẹ quả là mẫu người ham hố nhục dục đến mức vô độ và vô sỉ. "Về làm gì, ở lại đây ngủ cho vui" - đó là câu nói được bà mẹ lặp đi lặp lại với từng đối tác mới trong thú vui xác thịt triền miên vô tận. Cũng có thể coi đó như một dấu hiệu cá biệt hoá nhân vật, giống câu "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi" của cụ Cố Hồng trong văn Vũ Trọng Phụng. Nhẹ dạ, nông nổi, nhiều lầm lạc, con thiêu thân trong lò lửa đam mê - không ít lần tác giả làm người đọc ngỡ tưởng như vậy về nhân vật Bà mẹ - nhưng tất cả ấn tượng ấy phải được xét lại trước một thực tế thế này: "Năm lần lấy chồng, năm lần li dị, mỗi lần li dị được một cái nhà. Chồng đầu tiên được một cái nhà để xe. Chồng thứ hai được chia đôi căn phòng 26m2. Chồng thứ ba căn hộ tập thể tầng hai. Chồng thứ tư được 9m2 phố cổ. Chồng thứ năm khá nhất, giáo sư viện trưởng, căn hộ chung cư chất lượng cao". Việc nâng dần cấp độ đền bù sau mỗi lần li hôn như vậy là một cách phóng đại cho cái tham của Bà mẹ. Để rồi, người đọc không khỏi bật cười trước sự tổng kết của cô con gái: "Mẹ ngửi thấy mùi đàn ông và mùi đất đều chén được"! Có một cặp nhân vật nghịch dị không thể không nói đến trong Mười lẻ một đêm, đó là giáo sư Một tên Xí, giáo sư Hai tên Khoả. Ông Khoả vốn là chồng thứ năm của nhân vật Bà mẹ. Ông khác đời ở cái bệnh cười vô tiền khoáng hậu: "Chỉ định bật lên một tiếng cười thôi thì cứ thế mà cười mãi. Không sao hãm lại được. Hơ hơ hơ hơ. Mãi. Chập dây thần kinh cười". Không có thuốc chữa tận gốc căn bệnh ấy, chỉ có một giải pháp tình thế: "Hễ bật lên tràng cười không tắt được thì chỉ việc tát cho chàng một cái. Đứt luôn". Từ cái bệnh cười ấy của ông mà tác giả cho chúng ta một "xen" hài kịch đáng xem: ông Khoả hướng dẫn luận văn cho nữ sinh viên, đến lúc ra về, sinh viên khẩn khoản xin lại thầy cái chân. "Thầy bật cười khan. Cười khan tức là chỉ cười một tiếng. Chết dở, nãy giờ thầy cho em về mà thầy vẫn giữ đùi em. Thầy cười khan, nhưng bệnh cười vượt quá quy định, bắt đầu nhân ra thành chuỗi cười bất tận. Cô sinh viên hoảng quá. Chẳng biết ứng phó thế nào. Cũng không dám rút chân ra khỏi tay thầy. Đúng lúc nàng (tức Bà mẹ) về. Nàng chồm lên tát vào mặt chồng một cái. Tịt. Nàng hất chân con kia ra khỏi tay chồng. Dứt". Hoạt cảnh này bóc lộ cái dâm, sự bất lực và cả cái quái đản của nhân vật, chính vì thế mà người ta phải bật cười. Từ hình ảnh một ông giáo sư già, tay nắm chân một người con gái trẻ, miệng cười không dứt, người đọc có quyền liên tưởng tới hình ảnh một con đười ươi tay giữ ống tre, nhìn về phía mặt trời cười sằng sặc, như dân gian thường kể, không nhỉ? Đó là ông giáo sư Hai, còn người tạo nên với ông hình ảnh cặp bài trùng, ông giáo sư Một, thì sao? Ngay từ đầu tác giả đã giới thiệu với chúng ta rằng ông là một nhà văn hoá lớn, là người duy nhất trong đám giáo sư tiến sĩ có thể sử dụng tiếng Anh để giảng dạy. Nhưng ngay sau đó, ông đã bị "lật tẩy" bằng chính những hành vi cực kỳ đối nghịch với các chuẩn mực văn hoá hiện hành. Dù không phải là đại biểu được mời tham luận trong một hội nghị quốc tế, ông vẫn "vô tư" phát biểu quá thời lượng cho phép, khiến cho cả chủ và khách đều lâm vào tình thế khó xử, mọi thứ rối tung như canh hẹ. Ông ăn uống trong bữa tiệc chiêu đãi sau hội thảo như trong chốn không người, đúng hơn, như một anh mõ trong xó bếp bần hàn của mình. Và đặc biệt là việc ông "tè bậy" vào chân nhóm tượng đài công nông binh - một công trình văn hoá - đều đều ngày hai lần, và bao giờ cũng khoan khoái, thoả mãn! Nhà văn hoá tiểu tiện vào công trình văn hoá, sự tương phản giữa cái "nó phải là" và cái "nó thực sự là" chính là một tình huống kiểu mẫu để bộc lộ cái hài. Chỉ có điều, cái "nó thực sự là" ở ông giáo sư Một, nhà văn hoá lớn, đã vượt ngưỡng phản văn hoá. Khai thác triệt để sự vượt ngưỡng này qua các hành vi ăn uống, tiêu hoá - vốn liên quan đến phần dưới cơ thể, phần được coi là thô, nặng, đục, uế tạp - của nhân vật, tác giả đã cho ta một hình ảnh đầy chất nghịch dị! (Hãy nhớ lại những nhân vật tương tự trong Gargantua và Pantagruel của Rabelais). 3. Còn có thể nói về chất nghịch dị - và từ đó gây cười - ở một số nhân vật khác trong Mười lẻ một đêm. Tựu trung, nó được hình thành từ việc tác giả chú ý nhặt ra một (hoặc một vài) thói tật và sự lập dị, bơm phồng lên, tô đậm vào, biến nó thành một tồn tại bất bình thường trong đời sống bình thường, một sự lộ liễu quá mức hình dung sẵn có về đối tượng. Và chính từ những nhân vật nghịch dị này mà tác giả đưa chúng ta vào những phạm vi hoạt động xã hội cũng đầy tính nghịch dị. Với họa sĩ Chuối Hột, chúng ta đặt chân tới hội họa đương đại, nơi mà nghệ thuật sắp đặt (installation) và nghệ thuật trình diễn (performance) đang rùm beng khua chiêng gõ mõ. Nó là cái gì thế? Xem nhé: "Bày mấy cái chậu nhựa trên vỉa hè. Treo lủng lẳng trên mỗi chậu một cái nón. Rồi cầm vòi nước tưới lên nón cho mưa rơi xuống chậu. Thế là hoàn chỉnh một tác phẩm. Ngũ Hổ cởi hết mở hết, đóng độc cái khối ngồi thế kiết già trong công viên. Bảo một thằng Tây đối tác đi qua từng vị cởi mở, lấy gậy gõ lên từng cái đầu trọc. Gõ một cái thì cái đầu trọc lại kêu cốc một cái kêu boong một cái. Thế là được một sô". Khoan hẵng bàn về chuyện đó là nghệ thuật hay không nghệ thuật. Điều chắc chắn là những hoạt động này không trở thành mục đích của chính nó. Như Họa sĩ Chuối Hột giảng giải, thì: "Sắp đặt và diễn là để thu hút. Người ta thấy là lạ ngô ngố ghê ghê kinh kinh, người ta xúm lại xem. Cái ú ớ khờ khạo vớ vẩn lại làm cho người ta thinh thích nhơ nhớ. Tên tuổi ta được lưu vào bộ nhớ của công chúng. Từ đó công chúng đếu đâu cũng để ý tìm tên tuổi ta. Từ đó công chúng mới xem tranh ta mua tranh ta. Đến đó mới là mục đích". Với nhân vật người đàn ông và chuyến đi dọc theo đất nước của anh, chúng ta tham dự hội Lim, nơi có "anh hai đi giày tây, chị hai đi giày khủng bố"; chúng ta lên vùng cao vào chợ văn hoá Bắc Hà, nơi mà những sơn nữ người Mông, người Dao đã biết sỗ sàng đòi tiền khách du lịch mỗi khi khách định chụp ảnh; chúng ta tới Đà Lạt, thành phố ngàn hoa với thác Cam Ly ngày một ít nước, còn rác rưởi thì vứt như thể đó là bãi tập trung rác cho cả khu vực! Theo chân Người đàn ông đưa con sang nước ngoài du học, chúng ta biết đến cảnh những du học sinh con các ông to bà lớn tụ bạ với nhau để chơi đêm, tán chuyện, đánh bài đánh bạc, hút hít chích choác, và "thực hành tiếng Việt đến mức điêu luyện" trên xứ sở của Anh ngữ! Với hai ông giáo sư khả kính Khoả và Xí, tác giả đưa chúng ta vào lãnh địa của khoa học xã hội nhân văn đương đại, nơi mà khá nhiều giáo sư đầu ngành "mãi mãi dừng lại ở trình độ cử nhân bổ túc công nông. Có thêm cái lanh cái ma cái xảo của cá tính. Có thêm kiến thức tham khảo khoa học xã hội Đông Âu đến những năm 1980". Tóm lại, đó là những ngụy khoa học gia với đầy những cố tật: uyên bác rởm, tham quyền cố vị, lừa bịp người đời và cũng tự huyễn hoặc chính mình (nhưng điều nguy hiểm là họ lại được một bộ phận đông đảo trong xã hội coi như là những giá trị!). Theo con đường "một bước lên bà" của nhân vật Người đàn bà, người đọc được khám phá một phần những "bí sử" cười ra nước mắt ở chốn quan trường. Nhiều, và nhiều những kẻ giống như nhân vật ông Víp (chồng của người đàn bà), loại chính khách xuất thân từ những phong trào "cờ đèn kèn trống" cơ sở, năng lực yếu, chuyên môn kém, nhưng lại được đặt vào những vị trí công tác trọng yếu, và bản thân họ cũng rất biết kiếm lợi từ đó. Quan ông thì thế, quan bà cũng không kém. Hội các phu nhân vụ trưởng, phu nhân thứ trưởng, phu nhân bộ trưởng được nói đến trong Mười lẻ một đêm quả đúng là một êkíp mua quan bán tước, mua đất kiếm lời đại tài và đầy gian ngoan. Tuy vậy, cái nét thô lậu "nhà quê" trong căn tính các mệnh phụ thì vẫn không sao gột rửa được. Chi tiết bà vợ một ông to "tắt mắt" lấy trộm cái đĩa sứ trong bữa tiệc do sứ quán nước ngoài chiêu đãi đã cho thấy điều này. Đó là một tiếng cười, tiếng cười lột tả đến đáy của sự thực: con vịt xấu xí không bao giờ có thể trở thành con thiên nga xinh đẹp! Đến đây thì đã có thể nhận xét đôi điều về những tình huống nghịch dị trong Mười lẻ một đêm. Được tạo ra bởi những nhân vật nghịch dị - tôi muốn nói là những nhân vật mang trong mình một vài nét tính cách lập dị, thậm chí là quái đản, nó phô lộ ra giữa chợ đời một cách hồn nhiên và hoàn toàn không nghĩ rằng mình lập dị, quái đản - những tình huống nghịch dị này tạo ra ấn tượng mạnh về một đời sống mất chuẩn: những chân giá trị và ngụy giá trị xâm thực, chồng chéo, che phủ lẫn nhau, người ta không có cách nào phân biệt được và vì thế luôn phải mò mẫm giữa các vách tường của ảo tưởng. Bằng tiếng cười, tác giả của Mười lẻ một đêm đã phanh phui những cái nhẽ ra không có quyền tồn tại song lại nghiễm nhiên đang tồn tại trong cuộc sống, và mặt khác, nhà văn cũng buộc người đọc phải nhận thức một sự thật: cuộc sống này, ở đây, bây giờ, tất cả đều đang ngổn ngang, và chắc hẳn để có một trật tự tương đối, sẽ phải mất không ít thời gian và nỗ lực! 4. Tiểu thuyết Mười lẻ một đêm của nhà văn Hồ Anh Thái, như đã nói, bắt đầu bằng việc "Có một người đàn ông và một người đàn bà bị nhốt trong căn hộ trên tầng sáu suốt mười một ngày đêm". Đó là hai người nửa bạn nửa tình nhân mới gặp lại nhau sau hơn mười năm xa cách, và họ muốn trao thân cho nhau, lần đầu tiên. Họ mượn căn hộ của một người bạn - hoạ sĩ Chuối Hột - để gặp gỡ, và đã bị nhốt ở đó bởi sự đãng trí ma lanh của ông bạn trời đánh. Chỉ một tình huống trớ trêu ấy mà cả một không gian xã hội rộng lớn đã mở ra, mở ra theo những trải nghiệm quá khứ của ba nhân vật tham gia tấn trò: Hoạ sĩ Chuối Hột, Người đàn ông và Người đàn bà. Tiếp đó là hàng loạt nhân vật khác. Tất cả các câu chuyện đều được kể lại từ ngôi thứ ba số ít; và luôn luôn giọng phát ngôn này bị đan cài, bị đánh lẫn vào giọng của chính các nhân vật đang được nói tới, nó tạo nên một kiểu giọng tưng tửng, giỡn cợt, giễu nhại rất đặc trưng cho văn xuôi Hồ Anh Thái giai đoạn gần đây 3. Tính trào lộng suồng sã hết mức ở các sự kiện, các chi tiết được kể lại trong truyện khiến cho tôi, dù không muốn, cũng buộc phải nhớ tới một luận điểm cốt tử trong lý luận về tiểu thuyết của nhà bác học Nga Mikhail Bakhtine 4 rằng tiểu thuyết tiếp xúc với thế giới ở cái ngày hôm nay không hoàn kết; và rằng chính bằng thái độ trào lộng suồng sã hết mức ấy mà người viết mới có thể xoá bỏ mọi khoảng cách, "nắn gân bắt mạch" đối tượng một cách đầy tự tin và nói về nó một cách chính xác! Dẫu sao đi chăng nữa, chỉ riêng việc khiến cho độc giả có thể cười khi đọc Mười lẻ một đêm - trong bối cảnh một tình hình văn học quá ư đạo mạo nghiêm túc - đã là một thành công của nhà văn Hồ Anh Thái. Và để kết thúc bài viết này, xin lặp lại một câu của Milan Kundera trong tập Những di chúc bị phản bội: "Tim tôi đau thắt, khi nghĩ đến ngày Panurge 5  không còn gây cười". (Nguồn: Người Đại biểu Nhân dân, số ra ngày 25/4/2006) Mời các bạn đón đọc Mười Lẻ Một Đêm của tác giả Hoàng Anh Thái.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Chết Chịu
Thật không dễ bắt đầu với Chết chịu khi thực và mơ đan xen lẫn lộn, khi vô số dấu ba chấm xuất hiện liên tiếp giữa các câu ngắn, gây cảm giác cực kỳ khó chịu. Nhưng một khi đã vượt qua nỗi khó ở ấy thì ta không còn muốn ngừng lại chuyến đi cùng Ferdinand tới khắp các xó xỉnh tối tăm của Paris và Luân Đôn trong tuổi thơ của mình. Ngay từ tác phẩm đầu tiên, Céline nghiễm nhiên đứng vào hàng ngũ những nhà canh tân lớn của văn chương Pháp thế kỷ XX khi đưa ngôn ngữ bình dân vào văn chương đồng thời phá vỡ mọi quy tắc cú pháp truyền thống. Đọc Céline cũng như đang thưởng thức một tách trà nóng bỏng rẫy, ta hãy nhấp từng ngụm để cảm, để thẩm và để thấu… một câu chuyện không đầu không cuối… một bước sa bùn lầy và bạo lực… một tiếng kêu hận thù và tuyệt vọng… một Paris đầu thế kỷ XX đầy biến động trước những tiến bộ khoa học… và một cái chết rất đỗi từ từ của những người buôn bán nhỏ buộc phải thu mình để tồn tại. *** Chết chịu và Hành trình đến tận cùng đêm tối có nhiều điểm chung mà phần lớn độc giả coi Chết chịu là phần tiếp theo của Hành trình. Nếu Hành trình mở đầu bằng việc nhập ngũ tham gia Thế chiến thứ nhất của Ferdinand Bardamu, lần theo nhân vật chính qua những cuộc phiêu lưu ở châu Phi, Mỹ, cuối cùng là cuộc hồi hương về làm bác sĩ ở Paris, thì Chết chịu gần như tiếp nối câu chuyện với nhân vật Ferdinand giờ đây cũng là bác sĩ ở những khu ổ chuột của kinh đô ánh sáng, là cựu quân nhân có vết thương ở đầu sau khi tham gia Thế chiến khiến anh lúc nào cũng gặp hoang tưởng. Tuy nhiên sau đoạn mở đầu giới thiệu nhân vật chính, với rất nhiều nhảy cóc về thời gian đi phiêu lưu về các miền ký ức khác nhau, Chết chịu sau đó phần lớn tập trung vào tuổi ấu thơ của nhân vật Ferdinand ở Paris vào cái thời được gọi là Belle Époque - Thời kỳ tươi đẹp. Căn cứ vào những yếu tố tự thuật đậm đặc, độc giả rất dễ nhận thấy vị bác sĩ Louis Ferdinand Auguste Destouches (tên thật của Céline) đã rút tỉa từ cuộc sống thực của chính mình để đổ ụp vào văn chương. Trong khi đó, Ferdinand của Chết chịu là một nhà văn với rất nhiều tiểu thuyết được xuất bản, thậm chí một nhân vật trong truyện còn đọc cả tác phẩm Hành trình. Vì thế, rốt cuộc có thể nói, Ferdinand là phân thân của tác giả, lần lượt xuất hiện làm nhân vật trong hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông.   Bởi thế mà dịch giả Ralph Manheim lừng danh, người đã chuyển ngữ Chết chịu sang tiếng Anh, coi nó chỉ là tiểu thuyết trên danh nghĩa, đúng hơn phải gọi nó là “những tự thú được sáng tạo”. Céline đã lấy nhiều chi tiết trong ấu thơ của mình đưa thẳng vào tiểu thuyết: một gia đình nghèo đói nợ nần luôn ngấp nghé bờ vực phá sản với một bà mẹ buôn bán đồ đăng ten trong một cửa hàng nhỏ ở một ngõ nhỏ Paris, với ông bố làm cho công ty bán bảo hiểm. Từ những dữ liệu tự thuật ấy, Céline, bằng bàn tay của một phù thủy ngôn ngữ, đã dựng nên một thế giới tuổi thơ dữ dội đầy bạo lực, ở cái ngõ Bérésinas những năm đầu thế kỷ 20, “chốn tù đọng hôi thối không thể tưởng tượng nổi. Đây là nơi được tạo ra cho người ta chết từ từ nhưng chắc chắn, giữa cứt đái của người và của chó, những bãi khạc nhổ và khí gas rò”. Hơn 600 trang sách khổ lớn không phân chia chương hồi, nhưng theo các nhà phê bình, Chết chịu có thể được phân thành 8 phần nhỏ: Phần mở đầu giới thiệu Ferdinand của hiện tại, một bác sĩ kiêm văn sĩ, chuyên khám bệnh không công cho người nghèo, khinh bỉ họ cùng cực, gần như điên loạn vì liên tục nghe thấy đủ loại tạp âm trong đầu. Phần về cuộc sống của Ferdinand lúc còn nhỏ cho đến khi tốt nghiệp tiểu học, quãng 1905, lúc cậu bé tầm 11 tuổi, thường xuyên bị rủa xả và đánh đập trong một gia đình luôn phải chạy đôn chạy đáo kiếm miếng ăn độ nhật. Giai đoạn vào đời với việc chạy chọt kiếm việc, mà phần lớn là chạy việc vặt không công ở cửa hiệu bán ruy băng trang trí và cửa hiệu nạm kim hoàn rồi nhanh chóng bị sa thải. Sang Anh học nội trú ở Trường Meanwell College hơn nửa năm, rồi trường đóng cửa. Quay lại Paris nỗ lực săn việc nhưng lông bông là chính, mâu thuẫn và đánh nhau với bố. Tìm được việc làm trợ lý cho nhà sáng chế Courtial des Pereires ở tòa báo Génitron cho đến khi tòa báo đóng cửa. Đi về vùng ngoại ô Paris cùng nhà sáng chế và vợ của ông. Tham gia dự án ứng dụng khoa học vào nông nghiệp và thất bại thảm hại. Cuối cùng, quay trở lại Paris một mình, tuyệt vọng và quyết định nhập ngũ, vào khoảng năm 1911. Vào cái thời kỳ được coi là đỉnh cao của văn chương, nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật ấy ở châu Âu, cuộc sống của Ferdinand hiện lên đầy những túng bấn, bạo lực, tệ nạn, cùng quẫn với những chiếc hoa tai và đồng hồ thường xuyên đi ra tiệm cầm đồ, những bữa ăn lúc có lúc không, những phi vụ buôn bán thường xuyên thất bại của người mẹ tàn tật khi các ngành tiểu thương rơi vào chỗ lụn bại vì lỗi thời, với ông bố chật vật với tiến bộ thời đại, cụ thể ở đây là máy đánh chữ, với ông - nhà sáng chế tin vào khí cầu để rồi sự ra đời của máy bay là chấm dứt cho sự nghiệp của ông. Tất cả đều bị tiến bộ thời đại đè bẹp và đào thải, đẩy một tầng lớp người bị kẹt lại trong kiệt quệ.   Những tưởng câu chuyện như vậy thì văn chương của Céline sẽ nằm gọn đẹp trong trường phái hiện thực tố cáo xã hội (ông là nhà văn yêu thích của phe cánh tả). Nhưng không. Với quan niệm “Tôi không phải là con người của thông điệp, tôi không phải là con người của ý tưởng, tôi là con người của phong cách”, Céline đã đẩy Chết chịu lên đỉnh cao bằng phong cách viết độc nhất vô nhị, một lối viết hiện đại hóa cả nền văn học Pháp. Với ông, “Khởi đầu là cảm xúc, nơi động từ hoàn toàn vắng mặt”, ông viết để chuyển tải cảm xúc, chứ không phải hiện thực. Và đó là thứ cảm xúc quẫn bách, tuyệt vọng, hoảng loạn không lối thoát, một sự hư vô và chán ghét đời sống đến cùng cực. Vào thời kỳ hoàng kim ở Paris, trong những ngõ nhỏ đó, những số phận trả góp cuộc đời mình để nhận phần thưởng cuối cùng là cái chết. Céline viết bằng một thứ sinh ngữ quẫy đạp, gồm những từ ngữ thô kệch sống sít của đường phố, từ lóng của đủ mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là lớp người dưới đáy, những câu chửi thề, những từ vựng mô tả các hoạt động tính giao... Ông sáng chế một loạt từ vựng mới mà ông tự hào coi là cách mạng trong văn chương. Đặt mình sánh ngang các họa sĩ của chủ nghĩa Ấn tượng hay các nhạc sĩ vĩ đại, những người tạo ra khác biệt lớn bằng việc khuấy đảo màu sắc và âm thanh, Céline xáo đổi trật tự ngôn từ, lén đẩy ngôn ngữ nói vào ngôn ngữ viết. Viết là để cho ngôn ngữ sống, bởi ngôn ngữ chết rất nhanh, và bởi thế, ông ban sự sống cho ngôn ngữ bằng cách cho nó sống khi ông sử dụng nó. Con người của phong cách ấy còn thể hiện mình rõ qua những biện pháp lộng ngôn đến kệch cỡm, biến Chết chịu thành tiểu thuyết bợm nghịch đầy chất uy mua (humour), sánh vai cùng bậc thầy François Rabelais, thậm chí ông còn được coi là người mở đầu cho thể loại hài hước đen (humour noir trong tiếng Pháp). Ranh giới giữa hiện thực và hoang tưởng trong tác phẩm luôn bị làm mờ. Biện pháp lộng ngôn còn được hỗ trợ nhờ các mô típ lặp đi lặp lại về bạo lực mà Ferdinand phải chịu đựng trong gia đình. Các nghịch cảnh bi đát trong Chết chịu (lẫn Hành trình), vì thế, đều được ông viết bằng một thứ văn chương hài hước đến lố bịch. ----------------------------------------------- Điểm đặc biệt nhất về phong cách văn chương của Chết chịu có lẽ nằm ở dấu ba chấm. Đã xuất hiện tương đối nhiều ở tiểu thuyết đầu tay, nhưng đến Chết chịu thì dấu ba chấm mới thực sự trở thành một hình thức cách tân táo bạo. Céline coi dấu ba chấm là tối cần thiết, ông đổ vào tiểu thuyết hơn hai mươi nghìn dấu ba chấm. Tác dụng của nó thì vô cùng: để mô phỏng sự trôi chảy liên tục của ngôn ngữ nói và của ý nghĩ, để tạo nên sự gián đoạn, nhưng đồng thời lại thúc đẩy mạch văn, những dấu ba chấm kích thích độc giả theo đuổi mạch văn như một dòng ý thức, thu hút trọn sự chú ý của người đọc. *** Về #Céline – tác giả #CHẾT_CHỊU - Céline hay Louis-Ferdinand Céline là bút danh của Louis Ferdinand Auguste Destouches (1894-1961). - Céline vốn học ngành y và từng hành nghề bác sĩ trong một thời gian. - Céline là nhà văn Pháp có tác phẩm được dịch và phát hành nhiều nhất thế giới trong thế kỷ 20, chỉ sau Marcel Proust – tác giả bộ sách ĐI TÌM THỜI GIAN ĐÃ MẤT. - Năm 1939, Céline và nhà xuất bản Denoël bị kết tội vu khống, sau khi xuất bản tác phẩm có tên là l'École des cadavres (Tạm dịch: Trường học xác người). Ở đó, có ba trên bốn bài văn đả kích được Céline viết mang đậm tư tưởng bài Do Thái. Công khai các ý tưởng cực hữu, những bài viết này là một chuỗi đả kích nhằm chống lại một thế giới nơi người Do Thái điều hành và khai thác. Ông tỏ rõ thái độ đồng minh với Đức quốc xã và tự coi mình là người cộng tác với phe Quốc xã. Tiểu thuyết đầu tay Hành trình đến tận cùng đêm tối (Voyage au bout de la nuit, 1932/Journey to the End of the Night) ngay lập tức đưa ông lên vị trí ngôi sao trong văn đàn, đến nay vẫn được đánh giá là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của thế kỷ 20.   Ấy vậy mà kỷ niệm 50 năm ngày mất của ông, năm 2011, người ta tuyên bố tên ông không nằm trong danh sách 500 Biểu tượng văn hóa Pháp. Trong câu cửa miệng của người Pháp, ông được gọi là “một thiên tài và một thằng vô lại”. Ông ủng hộ chủ nghĩa phát xít nhiệt thành và là người bài Do Thái triệt để. Nhưng cũng chính ông, trong bữa ăn tối ở Đại sứ quán Đức tại Paris vào tháng 2-1944, đã khăng khăng khẳng định trước mọi quan khách rằng Hitler thật thực ra đã chết và lãnh tụ của Đức quốc xã hiện nay là một Hitler giả do một người Do Thái đóng thế. Mời các bạn đón đọc Chết Chịu của tác giả Louis Ferdinand Céline.  
Cô Nàng Cửa Hàng Tiện Ích
“Sáng ra tôi lại là một nhân viên bán hàng, một bánh răng trong vòng quay của thế giới. Chỉ điều này mới biến tôi thành một con người bình thường.” Furukura Keiko bị coi là một phụ nữ lập dị, vì ở tuổi 36 cô độc thân và làm một công việc khá đáng ngại, nhân viên part time của cửa hàng tiện ích Smile Mart trong suốt 18 năm trời. Cô luôn phải vật lộn từ nhỏ để đóng vai một người bình thường. Keiko thấy bình yên khi ở cửa hàng tiện ích, nơi cô được công nhận, nơi mọi quy tắc đều rõ ràng. Cho đến một ngày, người đàn ông kỳ quặc tên Shiraha xuất hiện, và sự va chạm giữa hai con người khác thường như một tia sét nổ do va chạm điện cực, đẩy Keiko khỏi quỹ đạo quen thuộc, buộc cô nhìn thẳng vào những áp lực cô luôn lẩn tránh… “Khác với các cô gái trẻ trung phấn khởi của Banana Yoshimoto, Keiko gần như bước ra từ một cuốn sách Kafka, chân thành tuyệt đối trong những hoàn cảnh hết sức nghịch dị...”      - Japan Times “Một bản khảo sát khôi hài, tăm tối, gây chấn động sâu sắc về đời sống đương đại, về sự xa lánh, về chủ nghĩa tư bản, ý thức cá nhân, và sự quy hàng các ước lệ xã hội. Dù ở Nhật Bản hay đâu khác, chúng ta đều đã từng đặt chân vào cửa hàng này.”      - Viet Thanh Nguyen, tác giả cuốn The Sympathizer thắng giải Pulitzer Prize *** Một cuốn tiểu thuyết kỳ lạ, về một người phụ nữ hư cấu hết sức kỳ quặc, của một tác giả được xem là một trong những nhà văn thú vị nhất trong nền văn học đương đại Nhật Bản. “Cô nàng cửa hàng tiện ích” (tựa gốc “Konbini Ningen”, tựa tiếng Anh “Convenient Store Woman”) là cuốn tiểu thuyết thứ 10 của Murata Sayaka, ra mắt năm 2016, sách đã giúp cô đạt giải Akutagawa – một giải thưởng văn học danh giá trao cho các tác giả trẻ có những tác phẩm mang giá trị văn học cao. Trong cùng năm, sách cũng mang lại danh hiệu “Người phụ nữ của năm” do tạp chí Vogue bình chọn cho nữ văn sĩ người Nhật này, khiến tên tuổi của Murata Sayaka trở thành cơn sốt tìm kiếm trên mạng xã hội. Như tựa đề, cuốn sách là một câu chuyện lạ kỳ xoay quanh một người tên là Furukura Keiko… Một người phụ nữ 36 tuổi khiếm khuyết về logic trước cuộc đời, không biết gì về các mối quan hệ lãng mạn, đã làm nhân viên bán thời gian ở cửa hàng tiện ích 18 năm và không có dấu hiệu thay đổi – Đó là lý do Keiko bị phán xét khi trưởng thành. Thế nhưng kể từ lúc nghỉ việc để kết hôn và tìm một công việc mới, Keiko hoàn toàn mất phương hướng trong cuộc sống. 18 năm, cô ăn ngủ nghỉ và giữ sức khỏe vì cửa hàng. Nghỉ việc rồi, cô không hiểu mình tiếp thu năng lượng để làm gì nữa. Nhắm mắt lại, âm thanh cửa hàng lại văng vẳng bên tai. Tìm việc khác, cô thực sự hiểu rõ bản thân không giỏi bất kỳ lĩnh vực nào, ngoại trừ là nhân viên cửa hàng tiện ích. Có lẽ nào trên đời lại tồn tại một người phụ nữ dị biệt đến thế Keiko sinh ra dưới hình hài là một con người, nhưng mọi suy nghĩ lại hoàn toàn khác biệt với tiêu chuẩn “bình thường” của con người. Tác giả đã tạo nên một “Ningen” mang tên Furukura Keiko – không có toàn thân màu trắng hay chiều cao gần 30m, nhưng nội tâm là một động vật máu lạnh, tư duy logic khác biệt, không yêu thương, không giận dữ, không cảm xúc. Keiko không biết yêu thương. Hồi còn học mẫu giáo, khi thấy một chú chim nhỏ chết ở công viên, thay vì khóc thương và chôn chú chim đó như những đứa trẻ khác, thì Keiko lại đề nghị với mẹ rằng ăn con chim đó đi. Dù mẹ cô bé khuyên con phải biết tội nghiệp, phải buồn khi chú chim, cũng là một “người bạn” chết đi, nhưng Keiko vẫn không thể lý giải được: “Ai cũng nói con chim đáng thương rồi khóc lóc nhưng lại quay sang giết những bông hoa quanh đó. Cái cảnh tượng mọi người nói ‘Hoa đẹp quá! Chắc con chim nhỏ thích lắm đây!’ trông thật điên rồ.” Lúc mới lên tiểu học, Keiko đã ngăn một vụ ẩu đả bằng cách “nhanh nhất” là lấy một chiếc xẻng dụng cụ làm vườn phang thẳng vào đầu thằng bé đang gây gổ. Nhận thấy hiệu quả ngay tức thì – thằng con trai đó ôm đầu ngã lăn đùng rồi nằm im bất động – Keiko lại giơ cái xẻng lên định ngăn nốt thằng kia. Sau thảm cảnh, dù thầy giáo đã bảo rằng không được dùng vũ lực, nhưng Keiko vẫn không thể hiểu. Cô bé lễ phép giải thích cho vị thầy giáo đang nổi-cáu-một-cách-vô-lý: “Nhưng các bạn bảo ngăn lại cơ mà. Em thấy làm như thế thì bạn Yamazaki và bạn Aoki sẽ dừng ngay thôi ạ.” Đến khi mẹ Keiko cúi gập người xin lỗi trước buổi họp hội đồng, Keiko mới nghĩ có vẻ việc mình làm là sai, nhưng vẫn không thể hiểu vì sao lại sai. Một lần khác, khi thấy cô giáo nổi cáu mất kiểm soát, vừa đập sổ điểm danh vừa gào thét, còn bọn học sinh trong lớp thì bắt đầu khóc lóc… Keiko lập tức chạy tới gần cô, thật nhanh tụt cả váy lẫn quần lót để mong cô ngừng gào thét. Cô giáo bật khóc rồi im lặng. Keiko giải thích rằng, cô bé xem trên tivi thấy con gái bị tụt quần áo thì sẽ im lặng. Trường lại mở cuộc họp hội đồng, mẹ lại phải xin lỗi. Trên đường về, mẹ ôm Keiko thì thào tội nghiệp: “Tại sao, sao con không hiểu hả Keiko…” “Hình như tôi lại làm gì đó sai nhưng vì sao sai thì tôi vẫn không hiểu.” Mọi trường hợp đều kết thúc bằng suy nghĩ như thế trong lòng Keiko. Bố mẹ lo lắng nhưng vẫn thương Keiko, làm mọi cách để “chữa” cho con, thậm chí là tìm bác sĩ tư vấn tâm lý. Dần nhận thức được sự khác biệt của bản thân, dẫu không thể lý giải được, nhưng để bố mẹ không phải buồn, không phải xin lỗi hết người này sang người khác, và để được xem là một người “bình thường”, cô bé Keiko quyết định sẽ chẳng nói chuyện với bất kỳ ai khi ra khỏi nhà, luôn hành động theo hai cách: bắt chước hoặc làm theo chỉ thị. Keiko cứ như vậy mà trưởng thành, cho đến khi làm công việc part-time của cửa hàng tiện ích Smile Mart từ thời còn sinh viên, và yên vị ở đấy 18 năm, không có ý định thay đổi. Vì ở đấy, mọi việc đều nằm trong quy tắc và khuôn khổ, điều đó khiến Keiko cảm thấy bản thân cũng là một mắt xích trong vòng quay thế gian, cũng là một bộ phận của thế giới, quay liên tục, an toàn và không lạc lõng. Ở đấy, cô được hóa thân thành “nhân viên” – loài sinh vật tồn tại vì cửa hàng tiện ích. Keiko là một nhân viên lý tưởng: luôn đi làm đúng giờ, độc thân, không có con, làm việc xuyên suốt kỳ nghỉ và không bao giờ mất bình tĩnh trước khách hàng. Mọi việc đều ổn khi nhìn từ bên ngoài. Thế nhưng, sâu thẳm tận tâm hồn, Keiko 36 tuổi vẫn không thể hiểu vì sao mình phải “tới chơi với cháu mình nhiều hơn” như lời em gái cô nói. Với Keiko, trẻ nhỏ cũng như mèo hoang, nhìn tuy có khác đôi chút nhưng đều thuộc động vật có tên “em bé” mà thôi. Keiko 36 tuổi, khi nhìn thấy em gái dỗ dành đứa con trai bé nhỏ đang khóc, đã nghĩ rằng: “Tôi vừa nhìn con dao nhỏ dùng để cắt bánh đặt trên bàn vừa nghĩ, muốn thằng nhỏ trật tự thì rất đơn giản thôi, vậy mà em tôi vất vả quá. Em gái tôi vẫn cố ôm chặt con vào lòng.” Keiko cũng chẳng biết giận dữ, cô coi những sai phạm của người khác là chuyện bình thường, kiên trì nhắc nhở chứ không bao giờ cáu gắt thực sự – nếu có, đó chẳng qua là sự bắt chước cảm xúc từ những người xung quanh, để bản thân không bị coi là “hàng dỏm”, cô luôn cố gắng để hòa nhập. Rõ ràng là Furukura Keiko không bị thiểu năng trí tuệ, không có vấn đề gì về năng lực suy nghĩ, nhưng logic của cô lại không giống như một “con người” bình thường, không có hỉ nộ ái ố, mà lại căn bản như một động vật máu lạnh –  có thể bắt chước, có thể làm theo chỉ thị, có thể thực hiện theo quy tắc – nhưng không thể lý giải được những suy nghĩ, tình cảm đơn giản của người bình thường. Theo thời gian điều đó vẫn không thay đổi. Cho đến khi cuộc đời Keiko vấp phải gã hèn mọn Shiraha Cuộc đời Keiko và Shiraha va vào nhau vì một quan niệm của xã hội, rằng trưởng thành là phải kết hôn, sinh con. Shiraha là một gã đàn ông tuổi tầm 35, cao cỡ 1m80, gầy đét, dáng đi khúm núm, lòng khòng như cái móc áo, đeo cặp kính trông như sợi dây thép bám lấy mặt, đôi mắt trũng lõm sâu, làn da khô quắt… Shiraha là một tổng thể của mâu thuẫn. Gã xin được làm việc ở cửa hàng tiện ích nhưng lại kỳ thị chính cái nghề này. Gã cho rằng cuộc sống bản thân khó khăn là do quan niệm xã hội về tiêu chuẩn một cuộc sống thành công, nhưng lại lấy chính cái lý luận đó để khinh thường Keiko. Gã ghét cay ghét đắng những cổ hủ của thời Jomon (thời kỳ đồ đá mới ở Nhật Bản) nhưng lại luôn lảm nhảm về nó, thậm chí lấy nó để ngụy biện cho những hành vi sai trái của mình. Khác với Keiko, Shiraha hoàn toàn bình thường, gã có thể hiểu và lý giải mọi logic tình cảm của con người. Nhưng vì bản tính lười biếng, gã không tiền tài, không nghề ngỗng, không chỗ ở. Gã luôn đổ lỗi cho xã hội thay vì cố gắng để đạt được cái mình muốn bằng năng lực của bản thân. Gã luôn giậm chân tại chỗ và ôm cái ý nghĩ “tôi không làm việc nhưng tôi có tầm nhìn, chỉ cần khởi nghiệp là bọn con gái sẽ bám theo cả đàn.”  Rồi khi bám được vào cuộc sống của Keiko, được cô cho ăn ở miễn phí, gã thu mình trong phòng tắm, dự định mọc rễ ở đấy, không ra ngoài, không gặp ai nữa. Gã, thực sự là một gã hèn đúng nghĩa. Dù chưa phải nam chính, nhưng nhờ sự xuất hiện của Shiraha và sau đó là chuỗi ngày cuộc sống đảo trộn vì gã, Keiko đã hiểu được giá trị tồn tại của bản thân trên thế giới này. Bi kịch của cá nhân khi bị đóng khung trong cái nhìn của xã hội  “Thế giới bình thường rất nguyên tắc, nó âm thầm loại bỏ dị vật. Người không ra gì sẽ bị đào thải.” Bi kịch của Keiko và Shiraha diễn ra vì họ không theo đúng quy chuẩn mà xã hội đã áp đặt lên mọi người, cái quy chuẩn tạo nên khuôn khổ của một con người bình thường, một con người thành công, mà nếu như không đi theo quy chuẩn đó, con người sẽ bị lên án, bị kỳ thị, bị đào thải. Sự khác biệt giữa Keiko và Shiraha rất rõ ràng. Dù Keiko bẩm sinh đã khiếm khuyết khả năng lý giải logic tình cảm của con người bình thường, nhưng cô chấp nhận che đậy cái kỳ lạ của bản thân và hóa thân vào một con người bình thường, cố gắng hòa nhập, cuối cùng tìm được giá trị đích thực của bản thân. Còn Shiraha dẫu sinh ra có vẹn toàn cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nhưng với tính cách tích hợp giữa trịch thượng và tự ti, trên tất cả là sự lười biếng và không cầu tiến, gã tự biến mình thành đồ bỏ đi của xã hội. Cửa hàng tiện lợi trong “Konbini Ningen” là tấm gương phản chiếu cuộc sống đời thực, các bộ phận thay đổi, nhưng toàn bộ vẫn giữ nguyên. Và có lẽ con người vẫn bị mắc kẹt trong mô hình xã hội lỗi thời, mặc dù con người hiện đại cảm thấy bản thân tiến hóa hơn người thời đại trước. Có một cuốn cẩm nang được truyền lại từ đời này sang đời khác, là kết hôn, sinh con, và kiếm càng nhiều tiền càng tốt. Bất cứ ai không đáp ứng theo tiêu chuẩn đó sẽ được thuyết phục đi đúng đường hoặc bị tẩy chay. Đó là một xã hội chứa đựng ảo tưởng về những thứ mà nó gọi là bình thường, và những thỏa thuận ngầm của con người về một cuộc sống có thành công hay không. Người ta dựa vào cẩm nang đó, rồi tự cho bản thân cái quyền đánh giá, phán xét về đời tư của người khác. Thế nhưng, thành công và hạnh phúc là khái niệm trừu tượng không thể quy ra bằng tiêu chuẩn kết hôn, sinh con, nhiều tiền. Sống chăm chỉ bằng đồng tiền lương thiện do công sức mình bỏ ra không có gì là sai trái, dẫu đó có là công việc bán thời gian ở cửa hàng tiện lợi. Sống độc thân, và cảm thấy tự do, thỏa mãn, đủ đầy thì cũng không có gì đáng trách cả. Vì sao gọi là dư luận? Vì “luận” nhiều quá cho nên “dư”! Người ta nói nhiều nhưng người ta có sống giùm bản thân người được đâu? Sống mà cứ phải để ý đến ánh mắt người đời thì khó mà hạnh phúc được. Cứ lương thiện mà làm công việc người thích, sống theo cách khiến người thoải mái. Mỗi người đều tìm được an yên trong lòng thì xã hội sẽ bớt “đáng sợ” hơn cái xã hội trong “Konbini Ningen”, hay cũng chính là xã hội ngày nay của con người. Nhà văn Nguyễn Thanh Việt – tác giả cuốn The Sympathizer thắng giải Pulitzer Prize – đã có lời nhận xét về tác phẩm “Konbini Ningen”: “Một bản khảo sát khôi hài, tăm tối, gây chấn động sâu sắc về đời sống đương đại, về sự xa lánh, về chủ nghĩa tư bản, ý thức cá nhân, và sự quy hàng các ước lệ xã hội. Dù ở Nhật Bản hay đâu khác, chúng ta đều đã từng đặt chân vào cửa hàng này.” Giải mã tựa đề gốc của tác phẩm – “Konbini Ningen”  “Konbini” bắt nguồn từ chữ “Konbiniensu sutoa”, tức là “Convenient store” trong tiếng Anh, được người Việt biết đến với phiên âm “Combini” – Cửa hàng tiện ích kiểu Nhật Bản: mở cửa 24 giờ một ngày, bán các loại thực phẩm và vật dụng cá nhân hàng ngày, bao gồm cả đồ ăn nhanh, đồ gia dụng và tạp chí, theo kiểu tự phục vụ, với khu vực kệ hàng chiếm hơn 50% tổng diện tích. “Ningen” là cách phiên âm Romaji, nghĩa tiếng Việt là “con người”. Ngoài ra, ít ai biết rằng “Ningen” còn là tên của một loài sinh vật biển hình người ở Nam Cực. Tương truyền, thủy thủ các tàu đánh cá voi nghiên cứu do chính phủ quản lý đã mục sở thị loài sinh vật được gọi là “Ningen” này, kể lại rằng chúng có cơ thể màu trắng với chiều cao ước chừng 20 đến 30 mét. Những người chứng kiến mô tả “Ningen” có hình dáng giống người, có chân, có tay và bàn tay năm ngón. Đặc điểm về khuôn mặt có thể nhìn thấy là mắt và miệng. (Theo Pink Tentacle) Suốt nhiều năm, ở Nhật Bản lan truyền lời đồn đại về sự tồn tại của sinh vật biển to lớn hình người sống ở Nam Cực, giới khoa học không nghi ngờ gì việc Nhật Bản đang âm thầm nghiên cứu “Ningen” và đặt ra nghi vấn: Bao giờ thì người Nhật tiết lộ “Ningen”? Vậy thì, “Ningen” thể hiện xuyên suốt  trong “Konbini Ningen”, với nghĩa “con người” (hay “cô nàng” như bản dịch tiếng Việt, thậm chí là “woman” trong bản dịch tiếng Anh) có đủ để lột tả được nhân vật mà Murata Sayaka xây dựng hay không? Hay nhân vật chính Furukura Keiko – “Ningen” trong tựa đề của tác giả – đích thị là một cá thể dị biệt trong xã hội loài người? Murata Sayaka – một trong những nhà văn đương đại thú vị nhất Nhật Bản  Nữ văn sĩ Murata Sayaka là một nhà văn, đồng thời cũng là một nhân viên bán thời gian tại cửa hàng tiện lợi. Có lẽ vì thế mà trong tác phẩm “Konbini Ningen”, cô đã cho độc giả cái nhìn rõ nét và chân thực hơn về công việc nhân viên cửa hàng tiện ích nói riêng và cuộc sống của người Nhật Bản nói chung. Sayaka sinh năm 1979 tại thành phố Inzai, tỉnh Chiba. Năm 2003, tiểu thuyết Jyunỹu (Breastfeeding) của cô đã đoạt Giải thưởng Gunzo dành cho nhà văn trẻ. Đến năm 2013, cô giành giải thưởng Mishima Yukio nhờ tác phẩm Shiro-iro no machi no, sono hone no taion no (Of Bones, Of Body Heat, of Whitening City). “Konbini Ningen” là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Sayaka được dịch sang tiếng Anh. Sách đã bán được hơn một triệu bản tại Nhật Bản và sau đó được dịch ra 20 thứ tiếng khác nhau trên thế giới. *** [Review Sách] Cô nàng cửa hàng tiện ích – Murata Sayaka “Cô nàng cửa hàng tiện ích” trong tên sách là Furukura Keiko, một người phụ nữ 36 tuổi đã làm việc ở cửa hàng tiện ích suốt 18 năm kể từ ngày đầu khai trương. “Cô nàng cửa hàng tiện ích” trong tên sách là Furukura Keiko, một người phụ nữ 36 tuổi đã làm việc ở cửa hàng tiện ích suốt 18 năm kể từ ngày đầu khai trương. Nhắc đến việc làm ở cửa hàng tiện ích, những người khác đều chỉ coi đó là công việc tạm thời dành cho sinh viên, các bà nội trợ, hay một vài trường hợp chưa tìm được việc làm ổn định. Thế nhưng, với Keiko, công việc ở cửa hàng tiện ích này là mối liên kết duy nhất giữa cô cùng thế giới xung quanh. Từ nhỏ đến lớn, cô chưa bao giờ được coi là một người bình thường; thậm chí, mỗi lần nhắc về cô, mẹ và em gái lại mắt rơm rớm lệ, chỉ mong một ngày nào đó cô “khỏi bệnh” và trở về ra dáng một người bình thường. Hồi nhỏ, khi thấy một chú chim nhỏ chết ở công viên, thay vì khóc thương và chôn chú chim như những đứa trẻ khác, Keiko lại cầm xác của chú chim đến trước mặt mẹ và ngỏ ý muốn đem xác chim về nướng lên ăn. Trước sự ngạc nhiên cùng sợ hãi quá đỗi của người mẹ, cô vẫn không lý giải được tại sao mình phải chôn chú chim nhỏ, phải biết thương tiếc và buồn đau một sinh mệnh vừa lìa đời. Lần khác, Keiko đã ngăn cản vụ bạo lực ở trường tiểu học bằng cách thức “nhanh nhất”: Cô lấy chiếc xẻng làm vườn phang thẳng vào đầu đứa bạn đang gây gổ. Trong khi xung quanh hét lên ầm ĩ, thầy giáo “nổi cáu một cách vô lý”, còn mẹ không ngừng gập đầu nói lời xin lỗi trước hội đồng, Keiko vẫn chẳng hiểu mình đã làm sai điều gì – vì chẳng phải, đứa trẻ kia ôm đầu, ngã xuống, nằm im bất động, và vụ ẩu đả đã kết thúc sao. Lớn lên, cô chứng kiến cảnh cô giáo mất kiểm soát, đám học sinh khóc thút thít, Keiko đã chạy lên tụt cả váy lẫn quần lót trước mặt cô để cô đừng gào thét thêm nữa. Cô làm vậy vì từng xem chương trình trên TV, người ta sẽ im lặng khi con gái bị tụt quần áo. Mẹ Keiko lại bị gọi lên trường một lần nữa, trên đường về, mẹ vừa ôm cô vừa nghẹn ngào trong câu hỏi không có lời hồi đáp: “Tại sao, sao con không hiểu hả Keiko…”. Giữa tiếng nấc nhói lòng của mẹ, Keiko nhận ra mình lại làm điều gì đó sai, nhưng cô vẫn không thể hiểu và nhận định được mình đã sai ở đâu. Cô dần dần hình thành nhận thức, suy nghĩ về sự khác biệt giữa mình và mọi người. Cô quyết định lựa chọn lặng im không lên tiếng, bởi cô nghĩ nếu không nói sẽ không có sai lầm nào xảy ra, bố mẹ sẽ không phải đi xin lỗi những người khác thêm nữa. Từ nay, Keiko sẽ sống theo 2 cách: Bắt chước hoặc làm theo chỉ thị. Chính lựa chọn cách sống như vậy, cô tìm thấy môi trường sống lý tưởng cho mình, chính là cửa hàng tiện ích. Ở trong không gian được bao bọc bởi 4 lớp kính, sinh vật được gắn mác “nhân viên cửa hàng tiện ích” bắt buộc phải làm mọi thứ theo chỉ thị và khuôn mẫu. Mọi việc diễn ra trong chiếc hộp kính này đều có khuôn khổ và quy tắc rõ ràng, đến cả biểu cảm và cách trò chuyện cũng được xếp đặt sẵn. Nếu lúc trước, cô không biết mình phải bộc lộ cảm xúc thế nào trước mỗi câu chuyện mình nghe, thì giờ đây, cô có thể bắt chước học theo video mẫu. Lần đầu tiên trong cuộc đời, Keiko “được trở thành một bộ phận của thế giới”; trong giây phút ngày mới bắt đầu, thế gian tỉnh giấc, âm thanh hỗn tạp của cửa hàng tiện ích đã “bơm” vào trong cô sự sống – thứ sự sống bình thường mà chưa từng len lỏi trong máu, trong tế bào của cô. Giống như kệ đồ tạp hóa, máy pha cà phê,… Keiko thấy mình chính là một phần của cửa hàng này. Mặc cho vẻ ngoài đã được điểm tô đôi chút bởi dáng dấp của người bình thường, sâu trong Keiko vẫn không có nổi một cảm xúc “bình thường” nào. Cô đi làm đúng giờ, làm việc cả kì nghỉ, không bao giờ tức giận trước khách hàng, càng chưa một lần mất bình tĩnh trước bất cứ ai. Cô có thể bắt chước cách ăn vận và nói năng từ những người đồng nghiệp, có thể giả bộ trở thành một phần trong những buổi nói chuyện của bạn bè, nhưng cô vẫn như vậy: Cô không biết tại sao phải tốn công dỗ đứa bé không khóc nữa, trong khi trên bàn có sẵn con dạo nhọn hoắt. Mọi hành động và phản ứng của cô đều là bản sao cóp nhặt từ nhiều người, để bản thân cô không giống một kẻ ngoài luồng hay bị coi là “hàng dỏm”. Với bản thân, cô cảm thấy mình là một loài động vật máu lạnh, không những chẳng có cảm xúc mà còn chẳng lý giải nổi cảm xúc của người xung quanh. Keiko là một mặt hàng, một thứ đồ vật, một sự tồn tại đang cố gắng bám trụ lại trong xã hội loài người.  Thế nhưng, tất cả đều thay đổi khi gã đàn ông tên Shihara bước vào cuộc đời cô. Gã là một kẻ đớn hèn, không nghề không ngỗng, không biết nỗ lực cố gắng, luôn thù hằn và chỉ trích xã hội một cách không ngừng. Gã giống Keiko ở điểm bị biệt lập bởi những quy chuẩn của xã hội. Gã cho rằng, xã hội hiện đại nào có gì khác xã hội thời Jomon (thời kỳ đồ đá ở Nhật Bản), khi loài người được định nghĩa bởi giống cái - giống đực, khi sự tồn tại của một cá thể chỉ để phục vụ sự sinh sôi nảy nở của bộ tộc, khi chỉ những gã đực rựa săn bắn giỏi mới có được những cô đẹp nhất làng,… Gã khác Keiko ở điểm gã có thể lý giải mọi cảm xúc của con người, gã hoàn toàn không coi mình là mặt hàng, hay đồ vật, hoặc một sinh vật gọi là “nhân viên cửa hàng tiện ích” như Keiko. Vậy mà, gã chỉ được cái miệng luôn nói về lý tưởng khởi nghiệp chắc chắn thành công của mình, nhưng chưa một lần gã thực sự chăm chỉ, phấn đấu cho cái ý tưởng hoàn mỹ của gã.  Shihara lựa chọn cuộc sống ăn bám Keiko, để trốn đi những định kiến xã hội thúc ép gã bấy lâu. Gã đổ mọi tội lỗi lên đầu thứ gọi là “xã hội”, bởi nó là thứ khiến gã buộc phải sống cuộc đời như những người khác: Làm việc, kết hôn, sinh con. Luôn trốn chui trốn lủi những “nghĩa vụ” phải mang, gã hèn mọn đến cùng cực: Một kẻ phẫn hận xã hội loại người, nhưng cũng chính gã lại áp những quy chuẩn ấy lên người Keiko, rồi hả hê đay nghiến, coi thường, và tự nâng vai trò của mình lên. Shihara sinh ra với đủ đầy nhận thức cùng xúc cảm, nhưng gã biếng lười và cố tìm cách đổ lỗi cho mọi sự thành bại, đến cùng cái xã hội gã căm ghét ấy cũng từ chối sự tồn tại của gã. Gã trở thành một kẻ bỏ đi, rồi chính vì sự khước từ đó, gã lại tìm cớ đổ lỗi cho những quy chuẩn của xã hội. Thế nhưng, gã thực sự căm hận cái xã hội ấy sao, hay chăng gã muốn được làm một phần của cái xã hội ấy, nên mỗi câu chửi của gã lại vẽ nên một hình mẫu mẫu mực? Trái ngược gã, Keiko sinh ra với sự khuyết thiếu về mặt cảm xúc, nhưng cô chưa từng ngừng cố gắng hòa nhập, để được trở thành một phần của những người bình thường. Cuối cùng, cô tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình ở cửa hàng tiện ích. Đó là thế giới của những quy chuẩn, nguyên tắc, định kiến,… hoặc, có thể nói là của tất cả những gì gò bó nhất. Đồng thời, đó cũng là thế giới bất ổn định trong mắt những người bình thường đang đeo đuổi một cuộc sống hạnh phúc. Hóa ra, hạnh phúc không nằm ở việc ta có bao nhiêu tiền, con của ta học giỏi nhường nào, xã hội trọng vọng ta ra sao,… Hạnh phúc nằm ở việc ta cảm thấy hạnh phúc, cảm thấy được thuộc về, cảm thấy những cố gắng và nỗ lực của mình là xứng đáng.  Mỗi người có một đích đến hạnh phúc khác nhau, mỗi người có một định nghĩa thành công khác nhau, mỗi người có một nỗi đau khôn nguôi khác nhau, mỗi người có một lẽ sống của riêng mình. Xã hội hiện đại khác với xã hội thời Jomon ở chỗ, rất nhiều cuộc sống và mảnh đời không trùng lặp đang cùng tồn tại. Miễn là chúng ta không bỏ cuộc, rồi một ngày chúng ta sẽ tìm được “cửa hàng tiện ích” của mình, giống Keiko đã tìm ra ở cuối truyện. Mời bạn đón đọc Cô Nàng Cửa Hàng Tiện Ích của tác giả Murata Sayaka & An Vy (dịch).
Đi Tìm Alaska - John Green
Cuộc đời Miles Halter từng là một nỗi chán chường tột cùng, cho đến khi gặp Alaska Young. Xinh đẹp thông minh và rõ rang là quá bốc đỏng. Alaska đã kéo Miles vào thế giới mạo hiểm của cô và vô tình đánh cắp trái tim cậu. Đối với Miles, mọi thứ không bao giờ có thể quay lại như xưa. *** “Nếu nhân loại là mưa, tôi sẽ là một cơn mưa bụi còn cô ấy là một trận bão tố” Một chuyện tình hài hước nhưng sâu cay giữa anh cđi tìm.jpghàng Miles Halter và cô nàng nóng bỏng Alaska Young trong tác phẩm Đi tìm Alaska sẽ đưa bạn đi đến đủ các cung bậc cảm xúc của tình yêu, những góc nhìn khác của tuổi trẻ. Miles Halter – một anh chàng khá đỗi bình thường, nhưng lại có sở thích ghi nhớ lời trăn trối của những danh nhân. Cuộc đời cậu là những chuỗi ngày buồn tẻ, chán chường đến tột cùng khi suốt ngày quanh đi quẩn lại những công việc của gia đình cho đến khi cậu gặp được Alaska Young – một cô nàng xinh đẹp, thông minh, phóng khoáng và cũng có một chút bất cần. Cuộc đời Miles bắt đầu thay đổi khi Alaska kéo cậu vào cuộc mạo hiểm của chính cô, để rồi cậu bị đánh cắp trái tim lúc nào không hay. Những trò những trò mạo hiểm cùng lũ bạn, những trò nghịch phá trả đủa những đứa thù ghét chung của cả nhóm khiến mối quan hệ giữa Miles và Alaska khăng khít hơn. Nhưng cũng vì thế Miles đã nhận ra ở Alaska một điều rằng – vẻ bề ngoài thực không đúng với bản chất của cô. Bên ngoài vui vẻ là thế, bốc đồng là thế nhưng bên trong Alaska là một sự day dứt, đau đớn tột cùng khi nhớ về sự ra đi của người mẹ thương mến lúc còn bé. Khi ấy cô gần như bị tê liệt vì hoảng sợ khi thấy cảnh mẹ bị đột quỵ, cô đứng như trời trồng không biết phải làm gì tiếp theo, không nghĩ đến việc phải gọi 119. Nỗi đau này luôn khiến cô nghĩ rằng mình chính là nguyên nhân dẫn đến cái chết của mẹ. Miles được biết rằng đó cũng chính là nguyên nhân sâu xa khi Alaska luôn luôn nhận mọi lỗi lầm từ những cái sai vặt vãnh hay thậm chí là cả những vi phạm nội quy của trường, mà đáng ra những đứa khác phải chịu. Chính vì vậy trong bài luận cuối khóa, Alaska đã viết về chủ đề “làm thế nào để thoát khỏi mê hồn trận”, cô muốn mình thoát khỏi những đau đớn cứ day dứt từng ngày mà cô đang tự buộc mình phải gánh lấy. Có lẽ cách thoát khỏi mê hồn trận không phải là giả vờ nó không tồn tại, không phải là dựng lên một thế giới nhỏ bé, vừa đủ cho mình chìm trong khóc khuất của mê cung vô tận và nghĩ rằng mình không phải đang lạc đường mà là đang ở nhà với cha mẹ mà chính là phải đối diện với thực tại, biết nhìn ra mình đang ở đâu trong thế giới vô định này. Đối diện với sự thật với lỗi lầm mình đang mắc phải chính là điều Alaska nên tìm thấy, nhưng không, với cô cách thoát ra khỏi mê hồn trận của bản thân đó chính là “nhanh và thẳng”. “Nhanh và thẳng” có lẽ là cách kết thúc cuộc đời mà Alaska đã chọn. Một cái chết nhanh chóng, không báo trước. Những điều Miles nhận ra về bản chất thật sự của Alaska có lẽ đã không thực sự đúng lúc. Chỉ khi cô ấy chết đi rồi Miles mới nhận ra, và tất cả thật sự đã quá muộn. “Tôi sẽ không bao giờ biết rõ về Alaska để hiểu được suy nghĩ của cô ấy trong phút cuối đời, không bao giờ biết có phải cô ấy đã cố tình bỏ chúng tôi lại hay không khiến tôi ngừng quan tâm, và tôi sẽ luôn yêu Alaska Young, cô hàng xóm mục ruỗng với trái tim mục ruỗng trong mình”. Với bạn – cách để thoát khỏi mê hồn trận là gì? Có lẽ chính là chấp nhận tha thứ, cho đi những lỗi lầm mà chúng ta từng mắc phải. Học cách tha thứ cho bản thân chính là học cách đứng dậy đi tiếp từ chính những sai lầm ấy, chứ không phải lấy chính những lỗi sai đã phạm mà đay nghiến bản thân từng ngày. Điều đó chỉ làm chúng ta đau khổ thêm, và đến một lúc nào đó chúng ta không chịu được sự đốn mạt của chính mình thì đó cũng chính là lúc chúng ta chọn cách tìm về với thế giới bên kia để tự giải thoát cho con người mình với ý nghĩ chết là hết. Cuộc tình giữa Miles và Alaska không thực sự đi đến cuối cùng nhưng nó thực sự đẹp. Chính sự bao dung, thấu hiểu những đau đớn, những dằn vặt mà Alaska đã gánh chịu cũng đủ chứng minh rằng cậu ấy yêu Alaska đến nhường nào. Các cậu có hi vọng mình sẽ có một chuyện tình đẹp hay không? Nếu có, chắc có lẽ chúng ta cũng phải học cách thấu hiểu nửa kia như anh chàng Miles này nhỉ. Yêu nhau không cần phải là hình mẫu lý tưởng mà người kia muốn, mà yêu nhau chính là sự thông cảm, thấu hiểu đấy mem ạ. Tớ hi vọng các cậu sẽ có một câu chuyện đẹp về tình yêu của mình, không cần giàu sang vật chất mà vẫn yêu chất ngất nha. Kimnganvo Mời các bạn đón đọc Đi Tìm Alaska của tác giả John Green.
Ai Đã Ăn Hết Những Cây Sing-A Ngày Ấy? - Park Wan-suh
“Chỉ ngày mai thôi là mình lại được trèo qua đồi, lội qua cánh đồng và băng qua con suối. Mình sẽ được hít thở thỏa thích thứ không khí hòa trộn từ mùi hương của cỏ cây, hoa rừng và phân xanh”. Đó là một trong những đoạn miêu tả những hoài vọng ấu thơ tươi đẹp nhất của tác giả trong cuốn “Ai đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy ?”.  Không ồn ào, hào nhoáng như điện ảnh hay âm nhạc, văn chương Hàn Quốc, đặc biệt là dòng văn chương đương đại đến với độc giả Việt Nam khá e dè. Sau vài cuốn nổi bật gần đây, như: “Chơi Quiz - show”, “Hãy chăm sóc mẹ”, “Người ăn chay”… thì “Ai đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy” là một món lạ, vừa mang hơi hướng tự truyện, vừa phảng phất nét lãng mạn hư cấu của văn chương. Câu chuyện được dẫn dắt bởi một cô bé lớn lên trong gia đình nhiều thế hệ tại thôn Parkjeok - nơi chôn giấu tất cả những gì tươi tắn, đẹp đẽ nhất của thời thơ ấu. Những trò chơi con trẻ, bè bạn, lối xóm… rồi cây và hoa, những đêm trăng hay những con đường mòn nhập nhoạng tối, những ngày rộn ràng lễ, tết… ở thôn Parkjeok trong ký ức của cô bé đẹp đến nao lòng, đến nỗi, việc cùng bạn bè lối xóm… đi nhà xí cũng trở thành trò chơi tuyệt vời khó quên. Mọi việc chỉ thay đổi khi người mẹ quyết định phải cho con cái học hành ở thủ đô Seoul - và rồi cũng rất nhanh chóng, câu chuyện chuyển sang một bối cảnh khác - nơi mà tất cả những gì thuộc về thôn Pakjeok tươi đẹp chỉ còn là hoài niệm. Hai anh em cùng mẹ liên tục chuyển nhà, chịu đựng cuộc sống khốn khó của người nhập cư, những ngày người mẹ phải nhận may đồ cho kỹ nữ - một việc được cho là nhục nhã thời kỳ đó - để kiếm tiền nuôi hai anh em ăn học… rồi thời tao loạn, đến họ tên cũng phải đổi sang tiếng Nhật, học ở trường Nhật, chữ Nhật, đọc sách “thánh hiền” của Nhật… Điều đặc biệt còn ở chỗ, câu chuyện của nhân vật của gia đình cũng chính là thân phận của cả đất nước Hàn Quốc trong suốt cả một chặng đường dài lịch sử, từ giai đoạn hòa bình yên ấm cho đến khi phải đi hết thời tao loạn này đến thời tao loạn khác. Từ thời kỳ đô hộ của Nhật Bản, cho đến những năm tháng diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai miền Nam - Bắc trên bán đảo Triều Tiên. Và như lời người dịch - câu chuyện không phải được đọc bằng từ, bằng chữ, mà là bằng cảm xúc, những cảm xúc xuyên suốt năm tháng, qua lăng kính của tác giả, khi còn là một cô bé con đến lúc trưởng thành, chứng kiến hết những bi kịch gia đình, bi kịch của đất nước và dân tộc. *** Park Wan-Suh (1931-2011) sinh ra tại huyện Gaepung, thuộc tỉnh Gyeonggi-do. Tốt nghiệp trường trung học nữ Sookmyung, từng nhập học tại khoa Văn trường Đại học Seoul năm 1950, song bà lại không thế tiếp tục sự nghiệp học hành, bởi đó cũng chính là thời gian cuộc chiến tranh hai miền Nam - Bắc Hàn bùng nổ. Đạt giải thưởng của tạp chí "Phụ nữ Đông Á" ở độ tuổi 40, với tiểu thuyết "Cây trụi lá", Park Wan-suh chính thức đăng đàn. Kế từ đó cho đến tận những năm của tuổi 80, bà vẫn chứng tỏ được độ sung sức và dẻo dai của một cây bút tài năng với nhiều tác phẩm có giá trị. Thế giới tác phẩm của Park Wan-suh thường tập trung vào các chủ đề lớn như bi kịch chiến tranh, cuộc sống của tầng lớp bình dân, vấn đề phụ nữ v.v...; song, mỗi tác phẩm lại biểu lộ một cách nhìn đầy cá tính rất đặc biệt và chứa đựng những cảm xúc chân thực đầy tính nhân văn, nên có thể nói thế giới tác phẩm của bà luôn thể hiện một cách đầy đủ và sâu sắc về cuộc sống xung quanh. Các giải thưởng mà nữ tác giả đã nhận được: Giải thưởng tác giả văn học Hàn Quốc (1980) Giải thưởng văn học Lee Sang (1981) Giải thưởng văn học Đại Hàn Dân Quốc (1990) Giải thưởng văn học Di San (1990) Giải đặc biệt của Hội văn hóa Trung ương (1993) Giải'thưởng văn học hiện đại (1993) Giải thưởng văn học Kim Dong-in (1994) Giải thưởng văn học Daesan    (1997) Giải thưởng văn học Manhe    (1999) Giải thưởng văn học Hwang Sun-won (2001) Các tác phẩm đã xuất bản: Tiểu thuyết: "Cây trụi lá", "Buổi chiêu liêu xiêu", "Mùa khát", "Năm hạn hán của đô thị", "Cái bóng của sự tham vọng", "Kiêu căng và mộng tưởng", "Người phụ nữ đứng đó", "Em vẫn còn đang mơ chăng?", "Không thể quên", "Ai đã ăn hết những cây Sing-a ngày ấy?", "Ngọn núi đó có thực ở đó chăng?", "Câu đùa đã lâu", v.v... Tập truyện ngắn: "Dạy cho biết xấu hố", "Mùa hè phản bội", "Cái cọc của mẹ", "Đi tìm bông hoa", "Bức hình minh họa của ngày tàn", "Hãy nói cho một lời", "Em quá cô đơn" v.v... Tùy bút: "Sự tán dương dành cho kẻ sau cùng", "Bản hợp xướng cho một người hát", "Phong cảnh chỉ có hai người nam nữ", "Niềm hy vọng được sống", "Sao tôi chỉ thấy bực với những điều nhỏ nhặt?", "Làm người lớn, làm con người", v.v... Mời các bạn đón đọc Ai Đã Ăn Hết Những Cây Sing-A Ngày Ấy? của tác giả Park Wan-suh.