Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Có Được Là Người - Primo Levi

Khi người ta hai mươi bốn tuổi, hãy còn “ít hiểu biết, không kinh nghiệm và dứt khoát muốn sống trong một thế giới siêu thực của mình”, mà bị bắt rồi đưa vào trại tập trung Auschwitz - nơi sau này sẽ được ghi nhận như một trong những nơi chốn khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người - người ta sẽ khó lòng gọi đó là một chuyện may mắn. Có lẽ chỉ khi là một trong số rất ít ỏi người sống sót sau Auschwitz (theo nhiều số liệu thì chỉ khoảng 2% tù nhân Auschwitz là còn sống khi trại được giải phóng) và bắt đầu ghi lại những hồi ức kinh khủng về khoảng thời gian đen tối đó trên những tấm vé tàu ở Turin thì Primo Levi mới, như sau này ông viết trong lời mở đầu cuốn Có được là người, coi việc bị bắt vào Auschwitz tương đối muộn là một điều may mắn: Vào thời điểm ông bị đưa vào Auschwitz, đầu năm 1944, do cần nhân công lao động chính phủ Đức đã quyết định kéo thời gian sống của tù nhân trước khi giết, thay vì đưa thẳng vào trại hơi ngạt. Được viết năm 1947, Có được là người thuật lại câu chuyện thực của chính tác giả từ lúc bị bắt tại Ý đến khi được/bị đưa vào trại tập trung Auschwitz và chuyện ông đã sống sót trong chốn địa ngục đó như thế nào. Cần nói thêm rằng, vào thời điểm tác giả và những người Do Thái khác bị tống lên đoàn tàu chở người nổi tiếng của Đức quốc xã, Auschwitz đối với họ là một cái tên chưa có ý nghĩa gì mấy - thậm chí họ còn cảm thấy “nhẹ cả người” vì ít nhất cái đích đến đó “cũng là một nơi nào đó trên trái đất này”. Họ sẽ nhanh chóng nhận ra cái “nơi nào đó” kia là nơi mà họ bị tước đoạt tất cả: vợ con, bố mẹ già, tư trang, nhân phẩm, thậm chí cả tên - mỗi người tù chỉ còn biết đến như một dãy số xăm vào cánh tay trái; là nơi mà họ sẽ phải sống - nếu như chưa chết hoặc chưa bị giết - dưới những điều kiện phi nhân nhất; là nơi mà rồi họ sẽ chia sẻ những giấc mơ giống nhau đến kỳ lạ: giấc mơ được ăn, mà mỗi khi thức ăn chạm miệng là vụt tan biến thành nghìn mẩu vụn. Ở chốn này, một ngày được coi là tốt lành khi ngày đó họ có vài giờ để “cảm thấy bất hạnh theo cái kiểu của những con người tự do” - tức khi những người tù xoay xở được thêm chút xúp loãng đủ tạm no nê mà có sức nghĩ về gia đình, vốn là việc những khi khác họ không làm nổi. Cho đến bây giờ, đã có hàng nghìn cuốn sách viết về những trại diệt chủng trong thế chiến thứ hai. Còn vào thời điểm Primo Levi quyết định kể lại câu chuyện của mình, chúng cũng đã quá nổi tiếng. Levi khẳng định trong lời mở đầu rằng cuốn sách không nhằm đưa ra “những lời buộc tội mới” mà chỉ cung cấp thêm tư liệu cho những nghiên cứu về “tâm trạng con người”. Cuốn sách đặt ra nhiều câu hỏi nhức nhối: khi nào một con người là người? con người khác gì với con vật? liệu một con người có thể lấy đi nhân phẩm của một con người khác? người có thể làm gì đối với người? thiện, ác, đúng, sai liệu có ý nghĩa gì trong một nơi chốn khủng khiếp như Auschwitz? Trong quá trình học cách tồn tại, và nhờ cả may mắn để tồn tại đến những ngày cuối cùng giữa chốn phi nhân đó, Levi luôn tìm cách nhận ra những dấu hiệu con người: một cái ôm với người đồng hương trẻ tuổi Schlome, thái độ không từ bỏ, không chịu chấp nhận của Steinlauf, tình bạn với Alberto, Thần khúc của thi hào Ý Dante và nhất là sự tốt bụng của Lorenzo - người không ngại hiểm nguy tặng thường xuyên tặng xúp và bánh mì cho Levi. Cho dù sau Auschwitz người ta có thể phục hồi về mặt thể chất, tinh thần là một cái gì đó khó hồi phục hơn nhiều. Không phải ai cũng có thể chịu đựng được những hồi ức về quãng lịch sử đen tối đó. Bản thân con người tốt bụng Lorenzo kia đã không vượt qua nổi chứng rối loạn về tâm lý và cuối cùng chết vì thiếu sự chăm sóc bản thân vào năm 1952. Còn Levi, dù chọn cách đương đầu với quá khứ bằng cách viết sách và đi nói chuyện về Auschwitz, thì chết vào nhà riêng vào năm 1987, và cái chết nhiều bí ẩn của ông được nhiều nguồn tư liệu coi là tự sát. Dẫu sao, thì như Elie Wiesel, một tù nhân Auschwitz khác, đã nói, thực ra Primo Levi đã chết từ bốn mươi năm trước trong Auschwitz. Với một câu chuyện u ám như thế, lẽ ra Có được là người phải là cuốn sách nặng nề và khó đọc. Nhưng thật lạ kỳ, đây lại là một page turner - một cuốn sách bắt người ta phải lật không ngừng. Sức hấp dẫn của cuốn sách không nằm ở câu chuyện mà nằm ở cách tác giả kể chuyện - đó gần như là một giọng kể phi cảm xúc, che giấu sự kinh tởm trước những gì được mô tả - và cách mà cuốn sách gợi ra những suy nghĩ, những truy vấn mênh mang trong người đọc. * Có được là người - Primo Levi, Nhã Nam và NXB Hội nhà văn, Trần Hồng Hạnh dịch từ nguyên bản tiếng Ý  *** Tôi bắt đầu thử thách của mình với một tác phẩm hạng nặng. Số trang vừa phải (287 trang), nhưng những gì nó mang lại đủ để tôi xuống tinh thần trong khoảng thời gian không vừa phải chút nào.  " Nhân vật trong những trang sách này không phải con người. Tính người của họ đã bị vùi lấp, chính họ đã tự chôn nó vì sự xúc phạm phải chịu hay đã gây ra cho người khác. Những tên SS độc ác và bệnh hoạn, những Kapo, tù chính trị, tội phạm, prominent lớn nhỏ cho đến những nô lệ Haftling người này giống hệt người kia, tất cả các bậc trong cái hệ thống điên rồ mà bọn Đức dựng lên ấy đều bị gom lại đầy nghịch lý trong một sự tồi tàn nội tâm giống hệt nhau. " Tôi được tác giả cuốn sách thông báo rằng mọi điều diễn ra trên từng trang sách không có gì là bịa đặt, nói cách khác tôi đang được chứng kiến một khúc phim tài liệu chân thực nhất về những gì diễn ra từ Lager đến Auschwitz, về những người Do Thái khốn cùng trong một công cuộc chà đạp nhân phẩm khốn cùng. Giọng văn của Primo Levi rõ ràng khiến những kẻ quen đọc văn chương nửa thích thú nửa nản lòng, bởi ông không hoa mĩ mà chỉ kể lể, với thứ ngôn ngữ lạnh lùng và thiếu sinh khí chẳng khác gì cuộc sống tối tăm, dở người dở ngợm của những tù nhân DoThái trong những ngày tháng ấy. Làm sao để khiến người đọc ngày hôm nay có thể tưởng tượng rằng thứ chủ nghĩa dân tộc bệnh hoạn của Đức Quốc xã đã sản sinh ra không chỉ một tội ác diệt chủng, mà còn là sự huỷ hoại nhân tính vô cùng tàn khốc mà người với người có thể gây ra cho nhau vào thời đại được xem là văn minh tiên tiến ở Châu Âu, nếu không phải là kể hết ra một cách giản đơn và trần trụi. Sức hấp dẫn trong những con chữ nhuốm màu bi kịch của cuốn tự truyện này nằm ở chỗ đó.  Những người Do Thái thiên tài, trải qua bao nhiêu biến thiên và lăng nhục vẫn tự cường khẳng định vị trí của mình trong guồng quay tàn khốc của lịch sử. Nhưng vào những ngày đen tối nhất trong chiến dịch cưỡng bức và tàn sát của quân đội Đức, Levi chỉ nhìn thấy sự yếu đuối rất con người ở họ. Họ đã bị tước đoạt đến tận răng, từ bộ quần áo đến cái tên làm nên gốc tích của họ, bị lăng nhục đến tận răng, từ giá trị tri thức cho đến phẩm cách làm người đến mức chỉ có thể suy nghĩ về việc tồn tại vật vờ đến từng giây phút sống. Họ sẵn sàng ăn cắp, lọc lừa, chà đạp lên đồng loại, khốn khổ vì miếng bánh mì hay chết chìm trong việc tuân theo trật tự kiểu mẫu của những tên đao phủ. Phần lớn họ tin rằng mình đã chết, đã trở thành thú vật, khước từ mọi tư duy và hi vọng được sống như một con người, và một phần cũng đáng kể hơn vẫn còn suy nghĩ về điều đó, bám chắc lấy nó và chiến đấu đến kiệt lực vì nó.  "Đối mặt với cái thế giới hỗn loạn đáng nguyền rủa này, suy nghĩ của tôi trở nên lộn xộn. Có thật sự cần phải suy ngẫm về một cơ chế đạo đức rồi áp dụng nó không? Ý thức được mình không có cơ chế nào lại chẳng tốt hơn sao?" Chỉ có hai loại người tồn tại trong một thời kì ác mộng: một là những kẻ chết chìm vì sự tàn khốc của nó, hai là những kẻ bước ra khỏi nó và mang những vết thương sâu thẳm không bao giờ chữa lành được. Chiến tranh hay diệt chủng thì càng khủng khiếp hơn bởi sức huỷ diệt của chúng thừa sức vằm nát sự mỏng manh của thân phận con người. Primo Levi có thể là một người may mắn trở về và kể lại câu chuyện đau thương của thế hệ ông, nhưng cũng như bao con người khác nếu còn một trái tim sẽ còn bị hành hạ bởi vô vàn trải nghiệm, sau cùng ông cũng không thể hạnh phúc bởi những trang viết giải độc của chính mình.  "Chúng tôi nằm trong một thế giới của người chết và kiệt sức. Dấu hiệu văn minh cuối cùng đã biến mất xung quanh và cả bên trong chúng tôi. Công trình biến con người thành thú vật mà bọn Đức thời đắc thắng đã dựng lên giờ đây đang được bọn Đức bại trận hoàn thành nốt." Primo Levi tự sát tại nhà riêng vào năm 1987, bốn mươi hai năm sau ngày ông bước chân ra khỏi địa ngục trần gian do chính con người tạo nên. Ít ai hiểu được ông nghĩ gì trước khi chết, nhưng rồi chắc chắn cũng ít ai hiểu được ròng rã bốn mươi hai năm được làm người đó con người ta còn phải mang nặng điều gì khi cơn ác mộng tồi tệ nhất đã qua đi.  Cá nhân tôi suy nghĩ đến một di sản. Thứ di sản đớn đau dai dẳng của một thế kỉ toàn trị. Đó là điều mà đã chấp nhận làm người thì khó có thể quên đi như một giấc mơ phù phiếm được.   Mời các bạn đón đọc Có Được Là Người của tác giả Primo Levi.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ngựa Chứng Đầu Xanh - S. E. Hinton
Ponyboy mười bốn tuổi, gai góc và hoang mang, nhưng đằng sau vẻ bất cần là một tâm hồn nhạy cảm. Theo Ponyboy, thế giới này chỉ có hai loại người, Mỡ và Soc – dân Soc có tiền, có thể thoát khỏi hầu như mọi tội, với thái độ ngạo mạn khó ưa; dân Mỡ, ngược lại, sống ở khu ổ chuột và luôn phải cẩn thận đề phòng. Ponyboy là Mỡ, luôn tự hào về điều đó – cho tới một đêm khủng khiếp khi Johnny giết chết một thằng Soc. Cơn ác mộng bạo lực bắt đầu, bạo liệt cuốn Ponyboy vào một vòng xoáy hỗn loạn của sự kiện và cảm xúc, khiến hình ảnh về thế giới hai cực trong mắt cậu tan rã như bụi tro. Và rồi, trước khi thời niên thiếu kết thúc, Ponyboy đã nhận ra: sự đau đớn luôn giống nhau, dù là với Soc hay Mỡ đi chăng nữa.   Câu chuyện đầy sức mạnh về những chú ngựa chứng trẻ tuổi này được viết khi tác giả mới 17 tuổi và kể từ lần xuất bản đầu tiên năm 1967, Ngựa chứng đầu xanh đã trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất lịch sử ngành xuất bản với 14 triệu bản tính đến 2005, và mỗi năm lại có nửa triệu bản nữa thêm vào con số đó. Một tác phẩm kinh điển dành cho tuổi thiếu niên. *** Khi từ bóng tối của rạp chiếu phim bước ra ngoài ánh nắng rực rỡ, tôi chỉ có hai thứ trong đầu: Paul Newman và một cuốc xe về nhà. Tôi ước gì mình trông giống Paul Newman - anh trông gai góc còn tôi thì không - nhưng tôi nghĩ bề ngoài của mình cũng chẳng đến nỗi nào. Tóc tôi màu nâu nhạt, hoe hoe đỏ còn mắt thì có màu xám ánh xanh lá. Tôi ước gì mắt mình xám hơn, vì tôi ghét hầu hết mấy gã mắt xanh lá, nhưng tôi phải bằng lòng với cái mình có thôi. Tóc tôi dài hơn tóc nhiều thằng con trai khác, cắt vuông vắn sau đầu, để dài phía trước và hai bên, nhưng tôi là một thằng Mỡ(1) và hầu hết hàng xóm tôi chẳng mấy khi nghĩ đến chuyện cắt tóc. Hơn nữa, tôi trông hay hơn khi để tóc dài. Tôi phải đi bộ về nhà một quãng dài mà không người đi cùng, nhưng dù gì thì tôi cũng thường đi một mình, chẳng vì lý do nào ngoại trừ vì thích được yên ổn xem phim, để có thể thả hồn vào trong bộ phim và sống với nó cùng diễn viên. Xem phim với một ai khác làm tôi có chút không thoải mái, cứ như có người nhìn qua vai khi ta đọc sách vậy. Tôi thì khác như vậy đó. Ý tôi là, anh ba tôi, Soda, mười sáu tuổi sắp lên mười bảy, chưa bao giờ giở lấy một cuốn sách, còn anh hai Darrel, mà bọn tôi gọi là Darry, làm việc muộn và vất vả đến độ chẳng còn đâu thời gian mà quan tâm đến đọc truyện hay vẽ tranh, vậy nên tôi chẳng giống hai anh. Và chẳng có đứa nào trong băng bọn tôi cảm hiểu phim ảnh và sách vở như tôi cả. Có lúc tôi đã nghĩ rằng mình là kẻ duy nhất trên đời này hiểu. Nên tôi làm việc đó một mình. Ít nhất Soda cũng cố hiểu, và cảm hiểu được nhiều hơn Darry. Nhưng nghĩ kỹ thì anh khác với bất cứ ai; anh hiểu mọi sự, gần như vậy. Ví dụ như anh chẳng bao giờ hò hét với tôi suốt như anh Darry, hay đối xử với tôi như thể một đứa lên sáu chứ không phải đã mười bốn tuổi rồi. Tôi quý Soda hơn bất cứ ai, kể cả là bố mẹ. Lúc nào anh cũng vô tư lự và cười toe toét, trong khi anh Darry lại nghiêm khắc, cương nghị và chẳng mấy khi nở miệng cười. Nhưng mặt khác, Darry đã trải qua rất nhiều thứ trong hai mươi năm cuộc đời, anh trưởng thành quá nhanh. Sodapop sẽ chẳng bao giờ chịu lớn cả. Tôi chẳng biết thế nào thì hay hơn nữa. Tôi sẽ sớm biết ra thôi. ... Mời các bạn đón Ngựa Chứng Đầu Xanh của tác giả S. E. Hinton.
Hôn Lễ Tháng 3 - Tào Đình
So với Nhặt Được Cô Vợ Nhỏ và Đánh Cắp Trái Tim thì Hôn Lễ Tháng Ba mang đến cho độc giả một câu chuyện nhẹ nhàng, một chuyện tình ngọt ngào giữa Ngọc Tây và Trần Hạ. Đọc truyện Hôn Lễ Tháng Ba người đọc sẽ cảm nhận sự thuần khiết và trong vắt trong lối sống, trong suy nghĩ lẫn hành động của nữ chính. Hơn hết, thay vì trong truyện ngôn tình luôn chen vào những tình khúc cao trào nhưng trong tác phẩm này, êm đềm nhưng không vô vị, vẫn đầy thu hút và thử thách. *** Khi bình minh hé rạng, hãy hôn người tình bên cạnh, bởi vì nàng không hiểu những bộc bạch không lời. Dẫu biết rằng nên tìm cho mình một lý do để ra đi, hoặc là nên trở dậy tự phục vụ một cốc cà phê với dáng điệu tự nhiên, ít nhất cũng không để lộ vẻ mặt tự nguyện và đắm đuối, nhưng tôi lại chẳng thể làm gì hết, ngoài việc lún sâu hơn nữa vào lớp nệm mềm mại của ghế sofa, ngây người bởi mùi thơm thoảng ra từ phòng tắm, nhìn chăm chăm lên chùm đèn trần hoa cúc, nơi có một con đom đóm bị ánh sáng thu hút, đang bay loạn xạ. Con đom đóm đó bay liệng quanh chùm đèn, không nhanh không chậm, thỉnh thoảng lại va vào chao đèn. Tôi không biết mình đang nghĩ gì, chỉ ngây nguời nhìn con đom đóm và ngọn đèn. Tôi buông mình trong sự thỏa mãn chán chường. Ngọc Tây bước ra khỏi phòng tắm trong bộ đồ ngủ rộng thùng thình, nước từ mái tóc nhỏ từng giọt xuống nền. Tôi có thể nghe thấy âm thanh từ giọt nước rơi và mường tượng ra mùi hương siêu nhiên của nó. Ngọc Tây đứng như vậy trước mặt tôi, chân trần, mê hoặc lòng người, giống như yêu nữ trong rừng sâu. Tôi quên ngay con đom đóm, quên ngay chùm đèn, mắt hướng vào đôi chân trần của nàng. Phát hiện chân nàng rất trắng, rất mịn. Tôi lại thấy nôn nao xúc động, bất lực trước vẻ đẹp của nàng, nhưng vẫn cố nặn ra một nụ cười lạnh nhạt bất cần. Tôi là đàn ông. Là đàn ông thì không nên căng thẳng. Tôi giả đò vô tình thay đổi tư thế của đôi chân, ngụ ý nói: Trần Hạ này không hề căng thẳng. Cảm thấy nên nói điều gì đó. “Anh không căng thẳng” ... Mời các bạn đón đọc Hôn Lễ Tháng 3 của tác giả Tào Đình.
Món Quà Tình Yêu - Julie Garwood
Nathan - Gã cướp biển khét tiếng dưới cái tên Pagan, đồng thời cũng là Hầu Tước St. James, bị nhà vua ép hôn năm mười bốn tuổi với Sara Winchester - khi đó mới chỉ lên bốn. Mười bốn năm trôi qua, Lady Sara lớn lên với lời hẹn ước rằng một ngày nào đó chồng cô sẽ trở lại Luân Đôn để đón cô. Cô thậm chí còn nuôi dưỡng tình yêu với anh dù chẳng nhớ mặt. Trong khi đó, Hầu Tước St. James đã dành tuổi trẻ của mình tạo ra một quá khứ oai hùng trên mặt biển cùng Colin - em trai công tước dòng họ Cainewood. Cho đến khi họ đã quá mệt mỏi với cuộc sống ngoài vòng pháp luật, họ thành lập công ty tàu biển Emerald. Đã đến lúc Nathan suy nghĩ về việc trở lại Luân Đôn đón vợ mình - để có được món quà kếch sù mà nhà vua ban tặng nếu Sara cho anh một người nối dõi. Nathan lập một kế hoạch để chịu đựng vợ, cũng như ruồng bỏ cô ta ở một vùng quê hẻo lánh nào đó ngay sau khi cô cho anh một người nối dõi. Kế hoạch của anh sẽ suôn sẻ nếu như Sara không hóa ra là một người quá xinh đẹp, quá quyến rũ, quá… ngây thơ. Cô phá tan mọi kế hoạch của anh trong sự tình cờ của số phận. Hàng loạt biến cố xảy ra quanh cuộc đời cô, và trong cuộc đào tẩu khỏi gia đình để giải cứu cho dì Nora, Sara đã giúp bà thoát khỏi những âm mưu hiểm độc của gia đình cô nhằm chiếm lấy khoản kế thừa mà Nora được nhận, Sara đã gặp lại chồng và bước lên con tàu Seahawk dưới sự bảo vệ của anh. Ba tháng lênh đênh trên biển với anh, Sara bằng tình yêu và sự chân thành, vị tha của mình, đã từng bước từng bước đi vào trái tim Nathan. Cô vụng về gây ra những vụ tai nạn nho nhỏ trên tàu, cô tuyệt vọng nấu một món súp để chuộc lỗi, cô vô tình làm đổ những cột buồm, ngẫu nhiên khiến con tàu của anh bốc cháy,  nhưng, cô cũng đã bằng lòng can đảm của mình để cứu chồng cô thoát khỏi những tên  cướp biển hung tợn. Nathan trong vô thức bao dung cô, bảo vệ cô, trong thức anh mong chờ những lời lẽ yêu đương từ cô. Cho đến ngày sự trung thành và lòng tin của cô bị chính chồng mình nghi ngờ, cô vội vã thoát khỏi cuộc đời anh trong sự đau đớn của trái tim cô. Nathan chợt nhận ra anh sắp mất cô, và anh thấy anh yêu cô nhiều đến thế nào, cần cô nhiều đến thế nào. Lời cầu hôn muộn màng của Nathan cùng một văn bản yêu cầu hủy bỏ hôn ước của nhà Vua, từ bỏ cả món quà kếch sù mà họ được nhận, là những gì Nathan đã làm để giữ lại tình yêu và niềm tin của vợ mình. Thế nhưng, những điều đó cần phải được thực hiện một cách đúng đắn, không, nó phải được thực hiện một cách hoàn hảo - dành cho cô. Anh tự nhủ. “Ta không cần bất cứ món quà nào khác, vì ta đã có được món quà quý giá nhất. Đó chính là em!” *** Nước Anh, năm 1802 Chuyện những vị khách trong lễ cưới chém giết lẫn nhau chỉ còn là vấn đề thời gian. Dĩ nhiên, Nam tước Oliver Lawrence phải tiến hành mọi biện pháp phòng ngừa trong khả năng của mình vì lâu đài này đã được Vua George chọn làm địa điểm tổ chức buổi lễ. Ông đang giữ vai trò của người chủ tiệc cho đến lúc Đức vua tới nơi – một nhiệm vụ được đón nhận với niềm hân hoan như thể bị tra tấn suốt ba ngày liền. Tuy nhiên, mệnh lệnh được đích thân Đức vua ban ra, cho nên Lawrence, một người luôn tuân mệnh và trung thành, lập tức tuân theo. Cả gia đình nhà Winchester và những kẻ nổi loạn của nhà St. Jame đều bày tỏ sự phản đối trước quyết định này bằng thái độ kịch liệt nhất. Nhưng sự ầm ĩ đó đều vô ích, bởi một khi Đức vua đã ra quyết định thì mệnh lệnh của ngài phải được thực hiện. Nam tước Lawrence hiểu lý do thật sự đằng sau hôn ước này. Thật không may, ông lại là người duy nhất còn sót lại ở đất nước này vẫn đủ thân thiện để nói chuyện với cả hai gia đình nhà cô dâu và nhà chú rể. Nam tước sẽ không thể lấy làm kiêu hãnh về sự thật này lâu hơn được nữa. Ông tin rằng thời gian mình tồn tại trên thế giới ngọt ngào này giờ đây chỉ còn tính bằng nhịp đập của trái tim. Đức vua thật sự tin rằng đám đông sẽ cư xử đúng mực khi buổi lễ được tổ chức tại một nơi trung lập. Lawrence hiểu rõ tình hình hơn thế. Những quý ngài xung quanh Nam tước Lawrence đang trong trạng thái sẵn sàng chém giết lẫn nhau. Chỉ cần một từ phát ra sai tông giọng, hay một hành động mang hơi hướng đe dọa, dù là nhỏ nhất, đều châm ngòi cho một cuộc tàn sát đẫm máu. Chỉ có Chúa mới biết họ đang ngứa ngáy muốn nhảy xổ vào nhau đến thế nào. Thậm chí cả vẻ mặt của họ cũng nói lên điều tương tự. ... Mời các bạn đón đọc Món Quà Tình Yêu của tác giả Julie Garwood.
Chúa Sẽ Phù Hộ Em - Cố Khúc
Trong tiếng Urdu, “Tạm biệt” là “Khuda hafiz”. “Khuda” là Thượng đế của người Ba Tư, còn “Hafiz” bắt nguồn từ chữ “Hifz” trong tiếng Ả Rập, có nghĩa là “bảo vệ”. Cho nên câu nói này có thể được hiểu là: “Chúa sẽ phù hộ bạn”. Nó được sử dụng phổ biến trong cộng đồng người theo và không theo đạo Hồi. Tại vùng Tây Bắc Pakistan, đặc biệt là hai bên đèo Khyber gần Afghanistan, khi tạm biệt hoặc biết sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa, người ta sẽ nói: “Khuda hafiz – Chúa sẽ phù hộ bạn!”. Khi mới bắt đầu học tiếng Urdu, cô cảm thấy câu nói này là lời từ biệt đẹp nhất trên thế gian. “Chúa sẽ phù hộ em!”, khi nói lưỡi hơi cong về phía sau, nhẹ nhàng thốt ra. Khi nói như thế, ngay đến ánh mắt cũng sẽ trở nên rất đỗi dịu dàng. Cô đã không biết thì ra khi một người không thể ở bên đối phương được nữa, họ cũng sẽ nói như vậy, Chúa sẽ phù hộ cho em, chứ không phải cho tôi. *** Thực ra mọi câu chuyện đều bắt nguồn từ một thành phố xa lạ, một người đàn ông đến cùng những điều kì diệu lạ thường. – Gregory – Nếu một người chỉ trong vài ngày ngắn ngủi rơi vào cảnh bị phản bội, người yêu chia tay và mất việc, tôi nghĩ họ cũng sẽ như tôi, lập tức gật đầu đồng ý với tâm trạng gần như muốn tự sát và dõng dạc nói: “Được, tôi đi!” Ngô Chung lập tức nhướng mày nhìn tôi. Nhiều năm kinh nghiệm trong ngành kinh doanh khiến tôi lập tức hiểu ra mình đã nhận lời nhanh hơn ông ta tưởng rất nhiều. Nhưng thế thì đã sao chứ, đầu tôi đang đau như búa bổ đây, chỉ mong ông chủ Ngô có thể sớm rời khỏi căn phòng này càng sớm càng tốt. Cần làm gì thì cứ làm đi, để tôi còn lên giường ngủ tiếp chứ! Tuy nhiên, Ngô Chung lại không hề có ý định buông tha cho tôi. Ông ta nhìn tôi chằm chằm, hỏi lại: “Cô thực sự đồng ý chứ?” Tôi gật đầu, tại sao lại không đồng ý chứ, chỉ cần cho tôi rời khỏi cái nơi đau thương, bảo tôi lên mặt trăng cũng được, huống hồ chỉ là một Pakistan bé tí bé teo, diện tích cả nước còn chưa bằng một phần mười Trung Quốc. Chỉ có điều, không ngờ Ngô Chung lại bảo tôi, một nhân viên văn phòng không quyền không thế, đi tìm cô ta. Ngô Chung được tạp chí Forbes xếp vào danh sách những người giàu có nhất Trung Quốc, ông ta không chỉ là chủ tập đoàn Hoàn Á mà còn sở hữu công ty ở nước ngoài, chen chân vào nhiều lĩnh vực như bất động sản, năng lượng…  Mời các bạn đón đọc Chúa Sẽ Phù Hộ Em của tác giả Cố Khúc.