Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Torinoko City - Thành Phố Bị Bỏ Rơi

Tiểu thuyết “Torinoko City” được viết dựa trên nguyên tác nhạc phẩm vocaloid cùng tên của nhà sản xuất nhạc thiên tài 40mP, với chất giọng staccato Hatsune Miku, thể hiện cảm giác lẻ loi trong căng thẳng của các thiếu niên trên con đường trưởng thành. Đặc biệt, sách được tặng kèm 03 bookmark hình nhân vật và 01 postcard trong tất cả các cuốn. Ba cô gái cùng tên Asuka với ba tính cách, hoàn cảnh và nỗi khổ tâm khác nhau, vì cùng ngẫu nhiên tiếp xúc với trang web Torinoko City mà gặp nhau và cùng bước vào một chuyến phiêu lưu đầy lạ lùng để tìm về hiện thực, để đối diện với cảm xúc chân thật của bản thân mình. Câu chuyện dành cho những con người cô đơn trên con đường tìm kiếm lẽ sống của bản thân mình, để nhìn lại và biết rằng mình thực sự không hề cô độc. *** [REVIEW] TORINOKO - THÀNH PHỐ BỊ BỎ RƠI   Nếu bạn thích 1 thể loại nhạc nào đó nhưng trong lớp không ai giống bạn  Nếu bạn từng thấy lạc lõng giữa chốn bạn bè nhưng vẫn phải ra vẻ thích thú những câu chuyện mà mình đếch quan tâm  Nếu bạn từng phân vân không biết ước mơ, mục đích sống của mình là gì  Nếu bạn đang chịu áp lực học hành, mọi nỗ lực không mang lại kết quả hay bị người phía sau đuổi vượt  Bạn Muốn ở 1 mình...? Muốn có người chia sẻ...và nhiều điều khác bạn sẽ thấy có thể giống vs mình trong cuốn truyện này  Đây sẽ có thể là lựa chọn phù hợp vs bạn  Mình đã đọc và phải thốt lên rằng Ô sao Koide Asuka giống mình thế  Như là tìm được 1 sự đồng cảm trong những trang giấy, mình rất thích Torinoko City - Thành Phố Bị Bỏ Rơi  Cre: Thanh Xuân  *** “Chào mọi người”. Koide Asuka là một học sinh cấp ba cực kì bình thường. Mỗi ngày cô đều theo thói quen tới trường mà không thèm quan tâm gì tới mấy chuyện thích hay ghét đi học. “Asuka~, hôm qua cậu có coi phim đó không?”. Vừa vào lớp, tụi bạn chơi chung nhóm liền bắt chuyện với cô như mọi khi. Họ đang nói về bộ phim tình cảm ngọt ngào, bi lụy, hơi gay cấn, và có nam thần tượng đang là chủ đề bàn tán thủ vai chính. Thật ra, Asuka không hứng thú lắm với phim tình cảm, nhưng ngày nào cũng xem để tám chuyện với đám bạn xung quanh. “Coi rồi, coi rồi!”. Asuka giống như diễn viên, bắt đầu diễn vai “Nữ sinh trung học Koide Asuka”. Để hòa hợp với sự hưng phấn của tụi bạn, Asuka nói tới các tình tiết từ nội dung phim đã xem trước đó mà cô cho rằng sẽ nhận được sự đồng cảm của họ. Chẳng biết từ lúc nào mà tụi bạn chung nhóm đã tụ lại, càng lúc càng đông trong chốc lát nhờ bộ phim ngay trước giờ vào học. Mặc dù cô cảm thấy sai sai với tình cảnh này của mình, nhưng trong lòng mọi người chắc ai cũng thấy bình thường, thành ra ngày nào cũng như ngày nào. Tan học, cô đi karaoke cùng với nhóm bạn. Hôm nay là ngày trước kỳ thi nên câu lạc bộ được nghỉ sinh hoạt, cả nhóm có thể ra ngoài chơi. Mặc dù trong lòng Asuka nghĩ rằng đáng lẽ sắp tới kỳ thi thì phải về nhà ôn bài ngay chứ, nhưng nhóm bạn lại cư xử như thể đi chơi là chuyện tất nhiên. Nếu vậy thì nghỉ sinh hoạt câu lạc bộ để làm gì cơ chứ? Biết rằng nói ra sẽ làm tăng thêm kẻ thù nên cô chỉ nghĩ thầm chứ tuyệt đối không thốt ra lời. Tới quán karaoke, Asuka tiếp tục diễn vai nữ sinh bình thường ở đây. Là một nhóm toàn mấy đứa chạy theo trào lưu, tất cả liền nhào vào các bài hát của ca sĩ thần tượng nghe nói có thứ hạng cao, toàn mấy bài kích động hưng phấn. Cả đám đều đứng lên vừa nhảy vừa hát, dù thấy bầu không khí quái đản, Asuka cũng vừa nhảy vừa hát cho giống họ. Thật chả hứng với mấy bài dạng này… Chuyện này không thể nói với ai được. Asuka cũng rất thích hát và nghe nhạc. Gần đây cô hay nghe nhạc vocaloid. Tuy nhiên, cô đoán đám bạn sẽ chẳng thể hiểu về thể loại đó đâu. Mặc dù rất thích các xu hướng trên tạp chí hay tivi, nhưng họ lại đánh đồng tất cả những gì thịnh hành trên mạng với otaku, cô đã chứng kiến nhiều lần những tình huống đáng khinh, ngu ngốc, gây bực mình như thế rồi. Asuka hoàn toàn không có ý định nói ra chuyện mình thích nhạc vocaloid, và tất nhiên cũng không hát các ca khúc đó trong quán karaoke. Cô hát, nhảy, náo loạn theo nhóm bạn dù không thấy có gì thú vị. Asuka cho rằng như vậy mới là nữ sinh cấp ba. Bài hát chủ đề bộ phim bàn tán lúc sáng vừa nổi lên. Một đứa con gái từ tốn lấy micro và bắt đầu hát. Đương nhiên Asuka cũng hát được, nhưng cô chỉ yên lặng lắng nghe. Cô gái đang hát là fan bự của nhân vật chính phim đó. Mọi người trong nhóm đều ngầm hiểu bài hát này là của cô ta. Cả nhóm khen ngợi sau khi cô bạn hát xong. “Hay quá ~!”. “Giọng cậu trong thật đó~”. Nếu là nịnh nọt giả dối thì cỡ nào cũng bay ra khỏi miệng được. Thật lòng, mình muốn về nhà nghỉ ngơi hơn là làm mấy việc vô vị thế này. Ở nhà mình sẽ ngồi trước máy tính, vừa kết thêm bạn bè trên mạng qua Twitter, vừa dạo quanh trang Video ca nhạc. Trong lúc Asuka đang nghĩ vậy thì buổi karaoke kết thúc, cả nhóm rộn lên định đi cà phê. Muốn về nhà quá! Không thể nói câu đó được. Lúc Asuka đang phiền não thì có khoảng nửa thành viên trong nhóm đòi về, nên cô liền nhập hội phe về nhà. Chia tay với phe cà phê rồi đi chung phe về nhà tới nhà ga. “Aa! Vui thật!”. Có ai đó lẩm bẩm ra vẻ vui lắm, rồi cuộc trò chuyện về buổi karaoke ấy mau chóng nổ ra. “Nhưng mà này……”. Lúc mấy chuyện vui sắp kết thúc thì lại có ai đó phàn nàn về một đứa bên phe cà phê. Bắt đầu rồi. Đại hội kể xấu. Asuka cực ghét mấy chuyện thế này. Thế nhưng, cô cho rằng mấy đứa nói xấu chỉ là xả stress cho chính mình thôi, họ nói ra miệng sự bất mãn như vậy để giảm bớt căng thẳng. Và có lẽ bên phe đi cà phê cũng đang mở đại hội kể xấu phe này y vậy. Chuyện như cơm bữa mà. Asuka nghĩ để diễn vai nữ sinh trung học, thì chuyện này là không thể tránh khỏi. Cô vừa gật đầu đồng ý vô thưởng vô phạt, vừa trả lời cầm chừng. “Bái bai nha!”. Chia tay với đám bạn đi xe điện khác, cô lên xe cùng với đứa bạn duy nhất học cùng cô từ hồi cấp hai - Kajita Sayuki. Sayuki là kiểu người điềm đạm, mặc dù không biết rõ cô bạn đang nghĩ gì nhưng cô có ấn tượng cô ấy không hại ai cả. “Asuka, cậu hát hay lắm”. Sayuki bắt chuyện như đang nhớ lại buổi karaoke. Bản thân Asuka có tự tin với hát hò, tới mức cô đã tính lúc nào đó tự hát rồi đăng video lên mạng. Vậy nên cô tự nhiên thấy vui khi được khen hát hay. “Cảm ơn cậu. Sayuki đúng là cô bé luôn tử tế mà”. Tự nhiên Asuka lại phát ngôn như người bề trên, nhưng Sayuki ngượng ngùng, vui vẻ chấp nhận một cách ngoan ngoãn. Cô thấy Sayuki thế này thật dễ thương. Sayuki được rất nhiều nam sinh hâm mộ mặc dù trong trường không hề nổi bật. Có lẽ cô ấy tạo cảm giác khiến cho người khác muốn bảo vệ chăng? “Sayuki có gì phiền não không?” Asuka đột nhiên hỏi. Vì Sayuki trông có vẻ rất hạnh phúc. “Phiền não? Chắc là kỳ thi từ tuần sau”. Cô ấy vừa nói vậy vừa lấy sách tiếng Anh ra. Sayuki học yếu môn tiếng Anh. Nên chắc thi tiếng Anh là đau khổ với cô ấy. Sao thấy phiền não của cô ấy vụn vặt thế, ra vẻ đáng ghét một chút rồi đó. “Vậy à?”. Vừa tự hỏi vừa tự trả lời không chút hứng thú, rồi Asuka cũng lấy sách ra. Cô giả vờ như đang ôn bài và thở dài. Cũng không phải Asaka đang phiền não điều gì. Chỉ là, cô có cảm giác mãnh liệt rằng bản thân diễn vai nữ sinh cấp ba quá khác với bản thân thật sự của mình. Bởi vậy, bạn bè ở trường không phải là bạn thật sự. Cô không hề nói chuyện thật tâm, cũng không hề cảm nhận được đó là nơi thuộc về mình. Nói vậy cũng không có nghĩa là cô thân thiết với gia đình. Bố thì bận rộn, không mấy khi ở nhà. Mẹ làm y tá, đi ca đêm suốt. Chị gái điềm đạm đang học cao đẳng, mục tiêu thành giáo viên mẫu giáo, chị Minori. Dù lâu lâu cả gia đình ra ngoài ăn cơm, nhưng vì cả bố và mẹ đều bận rộn, nên hầu như chưa từng đi đâu du lịch cùng nhau cả. “Đâu mới là nơi mình thuộc về?…”. Asuka lẩm bẩm thật nhỏ giọng để Sayuki bên cạnh không thể nghe được. “Hả? Cậu nói gì?”. Sayuki thiệt tình hỏi lại. “Không có gì đâu”. Asuka trưng ra vẻ mặt như không có chuyện gì, mở sách ra. Về đến nhà, như mọi khi, cả bố và mẹ đều không ở nhà. Thêm nữa, hình như nay chị đi làm thêm nên vắng nhà luôn. Cô biết rằng phải học bài cho tuần sau thi. Tuy nhiên, hễ không có ánh mắt giám sát thì khó mà tự ép mình vào khuôn khổ được. Asuka không thay đồ mà ngồi ngay vào máy tính, mở trang video ca nhạc vẫn thường xem lên. Video của 40mP mà cô yêu thích đã lọt vào bảng xếp hạng rồi. Torinoko city. Cô lật đật bấm play video. Âm thanh tinh tinh tinh như tiếng đàn mộc cầm vang lên, chỉ với đoạn dạo đầu thôi mà Asuka thấy cả tâm hồn bị cuốn vào bài hát. – Nơi nào đó chỉ có mình tôi bị bỏ lại Một thế giới không âm thanh, một thế giới nhân tạo – Lời bài hát vang ầm ầm trong đầu cô. “Là mình…”. Bỗng nhiên cô lẩm bẩm ra tiếng. Nơi thuộc về mình là đâu? Rốt cuộc mình là ai? Đối với Asuka ngày nào cũng nghĩ đến điều đó thì không thể không nghĩ rằng bài hát này giống như đang hát về mình vậy. Cô liền mở Twitter lên. Tên tài khoản trên mạng là Toriko. Cô dùng Tori trong Asuka, Ko trong Koide, lấy Toriko làm tên*. Asuka tweet ngay. “Torinoko city của 40mP, hết sẩy…”. Bạn trên Twitter trả lời* lại liền. “Mộc cầm hả? Những ầm thanh giống thế nghe hay ha!”. Bạn bè trả lời tới tấp, cô vừa nói chuyện với bạn vừa suy nghĩ. Đương nhiên là cô cũng thích nhạc bài hát này. Thế nhưng, trên hết, lời bài hát mới là thứ vang dội mạnh mẽ trong trái tim Asuka. Cô không thể truyền đạt hết điều ấy cho bạn bè trên này được. Ở nơi này, Asuka cũng gặm nhấm nỗi cô độc không ai hiểu được bản thân mình. “Lời bài hát này, giống như nói về tôi vậy…”. Asuka vừa tweet lên là có hồi âm liền. “Xin lỗi vì tôi không phải người theo dõi bạn. Mình đâu thể cho bất cứ ai thấy bản thân thật sự được, đúng không?”. Là một người lạ. Icon là lá phong rất đẹp. Tên viết là maple. Asuka ấn nút reply lại ngay. “Tự dưng tôi thấy dường như chỉ mình mình bị bỏ rơi…”. Cô ấn nút reply một cách mạnh bạo. Asuka thấp thỏm trong lúc chờ maple trả lời lại. Lẽ nào là người có thể đồng cảm với mình. Vì lần đầu tiên bộc lộ bản chất thật với người khác, nên cô bất an không biết người ta có chấp nhận không. Ping. Lát sau, âm thanh thông báo có hồi âm vang lên. Cô vội refresh màn hình Twitter. “Lời bài hát Torinoko city khiến cho tôi phải suy nghĩ rất nhiều… dù chỉ 100 từ mà tôi không hiểu được lý do mình sống là gì. Tôi cứ không ngừng suy nghĩ rằng phải chăng là không có ai cần tới mình nữa”. Khoảnh khắc đọc câu trả lời đó, Asuka cảm thấy như đã gặp được thêm một chính mình nữa. Cô liền theo dõi maple, rồi gửi hồi âm. “Mình xin theo dõi bạn! Mình rất đồng cảm với câu trả lời. Hãy làm bạn với nhau nhé!”. Tay cô run run do hồi hộp. Đột nhiên làm thân vậy có bị ghét không ta? Lỡ bị chặn luôn thì làm sao. Cô toàn nghĩ tới những chuyện tiêu cực, nhưng lập tức có âm thanh thông báo được theo dõi lại. Ting. Chắc là maple trả lời. Asuka hơi phấn khích refresh màn hình Twitter. Cứ thế, từ ngày nói chuyện qua lại với nhau lần đầu tiên, Asuka và maple thành bạn thân trong nháy mắt. Hai người gọi nhau là “Toriko” và “Mei*”, kể cho nhau những suy nghĩ hằng ngày trên Twitter. Hình như maple là nam sinh cấp ba. Có điều Asuka cảm thấy cậu ấy thân quen tới mức không nghĩ cậu ấy thuộc dạng người giống với tụi nam sinh cùng tuổi khác. Hằng ngày cuộc sống trường học cứ bình bình, về nhà rồi vừa nói chuyện với maple trên Twitter, vừa xem video đã thành việc thường ngày của Asuka. Và, trái với việc quen được một người bạn có thể nói chuyện thực lòng, việc học ở trường lại dần dần trở nên khổ ải. Ở trường thì đóng vai Koide Asuka, ở nhà thì đóng vai Asuka, dù chỉ qua Twitter thôi nhưng khi để ý thì cô không ngừng nghĩ rằng phải chăng chỉ có Asuka diễn nhân vật Toriko giao tiếp với maple mới là chính mình thật sự. “Mei có ghét trường học không? Tớ khổ sở do không có người nào hiểu được con người thật của mình đó…”. Asuka nhiều lần than thở mấy câu yếu đuối với maple. “Tớ cũng thấy phải tạo ra một tớ khác ở trường đó. Tớ chỉ nói chuyện thực lòng được với mình Toriko thôi đấy”. Một câu thế thôi của maple đã khiến cô vui mừng khó tả. Mỗi lần chuông thông báo có tin hồi âm mới của Twitter vang lên là trống ngực Asuka đập rộn ràng. Một ngày nọ, bố và mẹ mặt mày nghiêm trọng, ngồi đối diện nhau trên bàn ăn cơm. “Bé Mi, bé A, lại đây chút được không?”. Mẹ cùng lúc gọi chị Minori và Asuka. Cho tới giờ Asuka vẫn chán ghét cách gọi bằng cái tên âu yếm này, nhưng cô vẫn ngồi xuống mặc cho mẹ gọi như vậy. Cả nhà im lặng một lúc. Nhìn bố có vẻ sưng sỉa sao đó, còn mẹ trông có vẻ đau khổ. “Mẹ, mẹ sao vậy?”. Minori lên tiếng. Xem xét bầu không khí bất ổn thì dĩ nhiên cô phải lo lắng cho mẹ rồi. “Ừm… thật ra là…”. Mẹ thông báo một chuyện động trời. “Bố tụi con, có người khác”. Một câu thôi, khiến cho cả Minori lẫn Asuka đều bất động như đóng băng. Không thốt ra được lời nào. Người khác?? Đã gần năm mươi tuổi rồi mà có người khác sao?… Asuka chuyển ánh mắt sang nhìn bố, bố vẫn tỏ vẻ bất cần thường trực. “Bố tụi con, hình như đã có người khác từ lâu, nhưng giờ người đó đã có em bé rồi”. Cô không nghe ra trong giọng mẹ có chút tình cảm nào. Mẹ nói chuyện giống như kể chuyện của người khác vậy, Asuka hoang mang bởi lời nói không truyền tải sự tức giận hay nỗi đau buồn nào của mẹ. “Hả, khoan đã. Bố, chuyện là sao!”. Bất giác Asuka hung hăng nói. Minori vẫn cúi đầu. Mẹ chặn Asuka lại, thở ra và nói. “Bố mẹ tính ly hôn”. Vai của Minori run run. Chắc chị đang khóc? Asuka đứng dậy, hét lên. “Bố! Bố lăng nhăng sao? Bố ngoại tình sao? Người ta đã có có bầu rồi sao… Phải vậy không!?”. Asuka tức điên lên, tay đập mạnh xuống bàn phát ra một tiếng rầm thật lớn. “Asuka, bình tĩnh đi con…”. Mẹ khuyên, nhưng cô lại thấy tức giận với cả bộ dạng đó của mẹ. “Sao mẹ lại bình tĩnh như không vậy? Gia đình mình sắp tan nát đó? Bố đã phản bội cả gia đình đó? Mẹ, vậy cũng được hả!?”. Lời nói bạt mạng tuôn ra phó mặc cho cơn nóng giận. Mẹ chạm vào người Asuka, nói. “Phải. Nhưng mẹ đã nhận ra chuyện này từ lâu rồi, mẹ chỉ giả bộ không thấy thôi. Tại mẹ muốn gia đình bốn người mình sống cùng nhau, vì bé Mi và bé A”. Mẹ nói tiếp. “Nhưng mà. Giờ người ta đã có em bé rồi, đâu còn cách nào khác nữa? Mẹ không thể ngó lơ giết chết một sinh mệnh mới hình thành được”. Asuka hiểu những gì mẹ nói, nhưng quả thật cô không thể chịu đựng được sự vô lý đó. “Bố! Bố thấy người đó quan trọng hơn tụi con sao? Đúng không!”. Asuka đứng bên cạnh, lắc người ông. Biểu cảm của ông vẫn không thay đổi, cứ im lặng suốt nãy giờ. Asuka tiếp tục chỉ trích một lúc nữa, nhưng cả bố và mẹ đều không nói gì thêm. “Tồi tệ… Con ghét cả bố và mẹ!”. Asuka nói vậy rồi giam mình trong phòng. Cô có thể nghe tiếng khóc của Minori, tiếng mẹ an ủi chị. Asuka tức tối không chịu được, ném liên tục máy cuốn tạp chí trong phòng ra cửa. Và, mấy ngày sau căn nhà chẳng khác gì chiến trường. Do bố bận rộn công việc thường không ở nhà nên cô ít giáp mặt ông, nhưng việc người bố máu mủ làm chuyện trái luân thường đạo lý, thậm chí còn có con, rồi vứt bỏ gia đình để kết hôn với nhân tình, đối với Asuka tất cả đều là việc làm bẩn thỉu. Không thể chấp nhận ở chung với bố dưới một mái nhà được. Dường như bố mẹ đang tranh cãi gì đó trong chuyện ly hôn. Tiền bồi thường… Tiền cấp dưỡng… Phân chia tài sản… Ngày nào ở trong phòng, cô cũng bịt tai lại vậy mà vẫn nghe được mấy từ đó. Đối với Asuka, chúng chẳng khác gì địa ngục. “Kịch như thế này là đủ rồi đó…”. Asuka nghe nhạc hằng ngày để làm mình phân tâm. Thật ra cô muốn chơi máy tính, nhưng do bố mẹ ở phòng khách - nơi có máy tính, nên dù có muốn cũng không thể được. Cốc cốc cốc. Có tiếng gõ cửa phòng. Asuka không trả lời, Minori liền lên tiếng. “Asuka… chị vào được không?”. Asuka lững thững đứng dậy, mở cửa. Tiếng của bố mẹ văng vẳng sau lưng Minori. Không hẳn là họ la lối nhau, nhưng cũng không phải trò chuyện vui vẻ, nên ngay khi Minori bước vào phòng là Asuka đóng cửa ngay lập tức. “Gì?”. Asuka nói cộc lốc. Cô cũng không định giận cá chém thớt lên Minori, tuy nhiên dù thế nào thì cô cũng không thể nói chuyện bình thường được. “Asuka… Nếu bố mẹ ly hôn, em sẽ ở với ai?”. Đột nhiên Asuka nhận thức rõ hiện thực bởi câu hỏi của Minori, phút chốc trước mắt cô tối sầm. Đúng rồi. Cả nhà không thể ở chung với nhau như thế này được nữa. Bố mẹ ly hôn tức là bắt đầu cuộc sống mới. “Em chưa nghĩ tới… Chị thì sao?”. Asuka hỏi thử Minori vậy thôi, chứ vốn cô đã ra quyết định rồi, vì cô không thể gạt bỏ cảm giác chán ghét với bố, nằm mơ cũng không có chuyện sống chung với bố hay bà nhân tình kia. “Chắc là ở với mẹ. Nếu được ở chung với Asuka luôn thì tốt quá”. Minori luôn luôn hiền lành. Asuka chỉ biết lo bản thân đau khổ thôi, còn Minori lại lo nghĩ cho cả mẹ và Asuka luôn. “Ừ. Em cũng muốn ở cùng với mẹ và chị”. Asuka ngoan ngoãn đáp. Sau đó Asuka với chị bàn bạc về chuyện tương lai một hồi lâu. Cô nghe từ Minori cả mấy chuyện chưa biết tới do bịt tai suốt từ đó tới giờ. Nghe nói ông ngoại tình gần ba năm nay rồi. Tính ra là từ hồi Asuka học cấp hai. Hai đứa con gái bước vào tuổi dậy thì, dần dần rời xa người bố. Mẹ làm y tá, kiếm tiền nhiều hơn bố làm nhân viên văn phòng, có vẻ như bố ôm ấp mặc cảm thấp kém hơn so với mẹ. Đúng lúc đó, ông đã say nắng người phụ nữ nhỏ hơn những mười tám tuổi làm cùng công ty. “Nhỏ hơn mười tám tuổi.”. Asuka thất kinh. Tuổi bà đó không chênh với tuổi Minori là mấy, nói gì tới tuổi bố. “Kinh thật…”. Asuka nói thẳng. Minori nhăn nhó mặt mày. Mặc dù người chị hiền lành tuyệt đối sẽ không nói ra miệng, nhưng chắc chắn trong lòng chị cũng cảm nhận giống Asuka. “Tụi mình chắc sẽ dọn ra khỏi nhà này”. Asuka lẩm bẩm, Minori khẽ gật đầu. “Mẹ đã nói là định dọn nhà đó. Mẹ đang tìm căn hộ trong khu vực Asuka có thể đi học ở trường hiện tại…”. Thông tin của Minori đã dồn Asuka vào thế buộc phải chấp nhận hiện thực đáng ghét này. “Chào các cậu…”. Asuka vui tươi bước vào lớp. Một ngày như mọi ngày lại bắt đầu. Cô nhập vai Koide Asuka - nữ sinh cấp ba. Dẫu trong nhà đang có nguy cơ gia đình ly tán do chuyện ngoại tình của bố, nhưng cô không để ai khác trong trường biết chuyện đó, một chút cũng không. “Này, cái phim hôm qua á…”. Tụi bạn cùng nhóm bắt đầu tụ lại bàn về phim. Asuka thường ngày vẫn luôn xem, nhưng mấy ngày này cô không thể ở phòng khách được nên cũng không xem tivi. Do không biết gì nên cô chuyên tâm giữ vai trò thính giả im lặng. Xung quanh đang hưng phấn bởi cảnh tình yêu nóng bỏng của bộ phim, cô ngồi nghe mà chẳng khác gì tra tấn. “Asuka nè, cậu có nghe không?”. Asuka đang bực mình bởi những chuyện nhạt thếch đó, nên cô hằn học trả lời khi có người hỏi. “Xin lỗi, tớ không xem nên không biết”. Nói rồi liền đi về chỗ ngồi. Asuka vẫn nghe được tiếng thì thầm bàn tán chuyện gì đó của nhóm bạn ở sau lưng. Chắc là đang nói xấu cô rồi. Trước giờ cô luôn lo sợ việc đó, nhưng hôm nay không hứng thú quan tâm nữa. Không ai biết được bản chất thật sự của mình. Chỉ có mỗi suy nghĩ đó càng lúc càng hằn sâu trong đầu. Lâu rồi mới không có ai ở nhà lúc Asuka về. Theo như Minori nói, bố mẹ đã quyết định chính thức ly dị, mẹ đang tìm nhà mới. Hình như Minori cũng không biết gì về bố hết. Có lẽ ông sắp sửa dọn ra khỏi nhà rồi. Trong căn phòng mờ tối vắng lặng, Asuka không bật đèn mà tới ngồi trước máy tính. Tinh. Máy tính khởi động, ánh sáng hắt vào Asuka. Vừa đăng nhập vào Twitter, cô thấy một loạt tin nhắn. “Toriko, sao vậy?”. “Cậu khỏe không?”. Kể từ ngày phát hiện chuyện bố ngoại tình, lâu rồi cô không lên Twitter, nên mọi người nhắn tin hỏi thăm. “A, lâu quá mới twitter lại!”. Asuka tweet lên, nhiều bạn bè trả lời lại liền. “Toriko! Sống lại rồi à! Mừng quá!”. “Ầy, lâu quá!”. Nhất quyết phải trả lời lại những giọng điệu vui vẻ kia mới được. Ting. Chuông lại báo có hồi âm mới. Cô kiểm tra ngay lập tức, là từ maple. “Toriko! Tớ lo lắm đó! Cậu khỏe không?” Câu văn không khác gì với những người khác, vậy mà Asuka lại đặc biệt vui vẻ. “Mei! Tớ vẫn khỏe. Tại có nhiều chuyện khó khăn thôi!”. Cô mới trả lời xong thì vang lên âm thanh thông báo khác với mọi khi. Một tin nhắn DM* được gửi tới. Cô vội mở ra thì thấy là maple gửi. “Cậu có chuyện gì à? Không sao chứ? Nếu khó nói trên dòng thời gian, thì hãy gửi DM cho tớ nhé?”. Asuka ngỡ ngàng. Cô dự định cư xử một cách bình thường trên Twitter. Do Asuka tweet với mức độ như mọi khi, nên các bạn khác xem ra có vẻ an tâm rồi. Dù bị truy hỏi sâu hơn cũng khó mà trả lời, cái cảm xúc méo mó ‘không ai hiểu được mình hết’ luôn đeo bám dai dẳng một cách xấu xí trong tim cô. Chính vì thế, tin nhắn DM của maple làm cô thấy dường như tư tưởng đó của mình đã bị cậu nhìn thấu, tâm trạng bỗng phức tạp vừa vui vừa sợ. Asuka đột nhiên suy tư, truy cập trang video ca nhạc rồi mở bài Torinoko city lên. Nhạc dạo vui tai bắt đầu vang lên. Asuka thẫn thờ xem video mà không nghĩ gì cả cho tới khi bài hát kết thúc. – Điểm giao nhau giữa lừa dối và sự thực. Cảm giác bế tắc tưởng như bóp nghẹt hơi thở. Tại sao tôi lại sống? Hãy cho tôi biết trong vòng 100 từ – Ca từ bóp nghẹt trái tim Asuka. Đúng lúc này đây cô muốn hỏi ai đó để xác thực ý nghĩa cuộc sống của mình. Mình sẽ nói với maple. Chẳng biết sao Asuka nghĩ vậy. Cồ liền gửi tin DM cho cậu. Chuyện bố mẹ ly hôn. Chuyện cô không thể cho bạn bè trong trường thấy bản thân thật sự của mình. Có một bản thân khác luôn coi thường tụi bạn ngốc nghếch. Chuyện cô luôn cảm thấy tách biệt với mọi người. Và chính cô cũng không hiểu rõ bản thân mình luôn. Asuka gửi tin DM làm bốn lần. Maple có hiểu nỗi lòng của mình không nhỉ? Dù hơi bất an nhưng Asuka có tự tin lạ lùng chắc chắn maple sẽ chấp nhận cô. Thời gian lặng lẽ trôi qua. Asuka nhắm mắt, nhẩm đi nhẩm lại lời bài hát Torinoko City trong đầu. Tâm hồn bình tĩnh một cách kì lạ. Ting. Chuông báo có DM mới. Là maple hồi âm lại. Cô chầm chậm mở mắt, hít sâu. Tay cầm chuột hơi run. Là sợ…sao? Asuka mở tin nhắn, những từ ngữ đồng cảm và khích lệ từ maple nhảy ra. “Vậy à? Khổ cho cậu rồi. Từ giờ về sau cậu tính sao? Có ổn không? Tớ cũng đóng giả bản thân khi ở trường. Toriko cũng vậy nhỉ?…”. Cô tiếp tục đọc, thấy maple thổ lộ cả cảm xúc trong việc học ở trường. Chuyện có thêm một bản thân khác đang nhìn chính mình đùa giỡn với bạn bè bằng con mắt lạnh lùng. Dù gặp khó khăn cũng không thể kể với bạn bè. Nói thật lòng có gì đó thật xấu hổ. Nhưng nhờ có đam mê với một việc, nên cậu đang âm thầm nỗ lực để đạt được nó. Asuka vừa đọc tin nhắn của maple, vừa gật gật đầu. Cô đọc đi đọc lại nhiều lần như để sưởi ấm tận nơi sâu thẳm dưới đáy con tim. Cứ thế, hai đứa nhắn tin trực tiếp qua lại với nhau một hồi, theo đề nghị của maple cô quyết định tạo tài khoản riêng tư khác với tài khoản Twitter hiện tại. Không theo dõi, không tương tác với ai hết. Chỉ hai đứa theo dõi nhau thôi, tạo ra một nơi có thể để lộ bản tính thật sự của mình. Asuka rất vui. Có người hiểu được mình rồi. Tâm trạng như thể đã tìm được nơi trú ẩn vậy. – Nơi nào đó chỉ mình tôi bị bỏ lại Một thế giới không sắc màu một thế giới trong mơ Có thể vứt bỏ vết thương lòng Một mình không thể làm được Tôi muốn bạn ở bên tôi – Mời các bạn đón đọc Torinoko City - Thành Phố Bị Bỏ Rơi của tác giả Shano & Hồng Trần (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Triển Lãm Thuộc Địa
Louis muốn làm chánh tham biện thuộc địa. Thực ra, đó là mong muốn của bà Marguerite, mẹ anh… Đến lúc lên đường, anh không còn thấy “nơi đó” kỳ lạ, mà chỉ thấy kinh khủng… Những xứ sở xa xôi mà người ta thèm muốn bỗng trở nên đáng sợ và Louis từ chối ra đi… Sau này, anh trao lại cho Gabriel, con trai mình, sứ mệnh thực hiện mơ ước của bà nội. “Triển lãm thuộc địa” là câu chuyện về nước Pháp đầu thế kỉ 20 được thổi phồng qua góc nhìn hạn hẹp. Đó là câu chuyện về một kỹ sư, say mê cây cao su, nhựa cao su và những chiếc lốp xe.   Well Leon dịch  *** Erik Orsenna tên thật là Erik Arnoult, sinh ngày 22 tháng 03 năm 1947 tại Paris, là một chính trị gia, đồng thời là tiểu thuyết gia người Pháp.   Một số tác phẩm của ông:   1973 Loyola’s blues   1977 La Vie comme à Lausanne   1977 Espace national et déséquilibre monétaire, dưới tên thật là Érik Arnoult   1980 Une comédie française   1988 L’Exposition coloniale   1992 Besoin d’Afrique, với sự cộng tác của Éric Fottorino và Christophe Guillemin   1993 Grand amour   1996 Histoire du monde en neuf guitares, với Thierry Arnoult   1996 Mésaventures du Paradis, mélodie cubaine, với Bernard Matussière   1997 Deux étés   1998 Longtemps   2000 Portrait d'un homme heureux : André Le Nôtre   2001 La grammaire est une chanson douce   2003 Madame Bâ   2004 Les Chevaliers du subjonctif   2005 Portrait du Gulf Stream   2006 Voyage au pays du coton  *** Mở đầu là cửa hiệu sách.   Tôi đề cập đến thời mà sách vở vẫn còn được coi trọng. Một thời kỳ lùi quá xa với lịch sử của chúng ta, phân cách chúng ta qua hai cuộc xung đột mang tính chất thế giới, vài cuộc thử nghiệm diệt chủng, thiết lập, thối chí, tháp Eiffel và một số các sự kiện khác ít quan trọng hơn.   Như vậy mở đầu là cửa hiệu sách. Tôi đã được thụ thai chính tại đây, giữa môi trường thuận lợi cho những tính cách thích đi đó đây, những mẩu chuyện về các cuộc hành trình, những tấm bản đồ, những cuốn sổ tay vệ sinh nhiệt đới. Bố mẹ tôi mới làm quen với nhau chưa được bao lâu, nhưng nỗi đắm say hai người dành cho nhau thật mãnh liệt. Do đang sống ở nhà bà nội, bố không thể đưa mẹ về chỗ mình. Hơn nữa, bố tôi ghét đồng quê và do chỗ người vợ chưa cưới của ông khước từ những cuộc du ngoại bằng xe ngựa thuê và đến những phòng thuê từng ngày một nên chỉ còn mỗi cửa hiệu.   - Hành động mà nhờ nó con có được cuộc đời đã xảy ra quá nhanh gọn, - mãi nhiều năm sau này ông mới thổ lộ với tôi. – Nếu bố đã giữ được lâu hơn thì chắc con đỡ bị bé nhỏ. Nhưng bố có các tình tiết được giảm nhẹ tội, cửa sắt không hạ, một vị khách có thể xộc vào bất cứ lúc nào… Bố xin lỗi con.  Những lời xin lỗi đã được chấp thuận. Vĩnh biệt vẻ oai vệ! Ta chẳng nói đến nữa. Mở đầu là cửa hiệu sách. Chính từ đây, Louis, bố tôi, đã tới bệnh viện khi đến đúng thời hạn. Quanh bên chúng tôi, các bà xơ từ thiện đi đi, lại lại, vỗ nhẹ các cặp má, làm dịu những tiếng kêu khóc, yêu cầu cho đưa nước sôi tới, trao bình sữa và bô, luôn miệng tạ ơn Chúa, như ta thường thấy diễn ra ở các nhà hộ sinh. Thờ ơ trước cảnh ồn ào náo nhiệt này, bố Louis cúi người bên nôi tôi, ghé miệng vào sát tai. - Ông nên để cháu bé ngủ yên.- một xơ nói.   - Ông không bị cảm đấy chứ? – Một xơ khác bảo.   - Thưa ông, mong ông đừng làm cháu bé bị mệt – bà xơ thứ nhất lại lên tiếng bảo.   Nhưng cháu bé không bị mệt. Nó vẫn được ấp ủ, có điều theo một cách khác. Hơi ấm của lòng mẹ tiếp theo sự âu yếm dịu dàng trong lời nói của cha. Và những cảm giác mới lạ khác nhau, không kém phần ngọt ngào, đôi lỗ tai nhỏ bé, trung khu của thính giác, có thể gây cho tâm hồn nhiều vui thích như toàn bộ da thịt. Sự thật này được năm tháng khẳng định. Các xơ từ thiện lo ngại cho sức khỏe của tôi:   - Thưa ông, tôi xin ông, thưa ông, trẻ sơ sinh cần tĩnh lặng.   Các xơ thì biết gì?   Do chỗ người nói chuyện không cần bận tâm ngay cả đến sự hiện diện của các xơ, các xơ liền cầu cứu hai anh trực phòng. Họ lôi ra khỏi phòng chàng Louis vẫn lẩm bẩm câu chuyện của mình. Gần đâu đây, sản phụ thiếp ngủ.     Cô gái được gọi là Sản phụ hẳn đã hút về mình tất cả giấc ngủ có được trong khu vực Paris, vì Louis, khi quay về nhà, không tài nào chợp mắt nổi, anh chong chong thao thức. Ta có con trai, ta có một đứa con trai, điệp khúc này như ánh mặt trời sưởi ấm lòng anh. Nửa đêm, đang đắm mình trong hồi ức của Christophe Colomb, Louis chợt tự hỏi: điều gì làm con người hạnh phúc hơn, có một đứa con trai hay phát hiện ra châu Mỹ? anh hoang mang khi nghe có tiếng gõ cửa hiệu sách ở dưới nhà.   - Thưa ông, thưa ông…   Một trong hai anh chàng trực phòng, cái tay lực lưỡng nhất, đã thô bạo tống khứ anh rời khỏi phòng, đang í ới gọi qua cửa.   - Mời ông lại ngay cho, mời ông lại ngay đi…   Louis vội nhảy bổ xuống.   - …Con trai ông cứ gào khóc hoài, bác sĩ trưởng khoa nghĩ rằng gào mãi thế cháu có thể chết mất.   - Từ bao lâu rồi?   - Dạ, từ lúc ông rời khỏi phòng.   Hai người vội lao tới bệnh viện. Các xơ đứng đợi ngoài hành lang, tay lần tràng hạt bằng gỗ hoàng dương.   - Mời ông vào đây, nhanh lên, lạy Đức Jésus, Marie, Joseph, ông vào nhanh lên…   Louis ngồi xuống và vừa mở miệng bắt đầu kể những câu chuyện của mình thì chú thính giả bé bỏng liền im bặt, nhìn cặp môi méo xệch và mép dúm lại, tất cả các xơ đang có mặt đều nhất trí cho rằng đấy là nụ cười đầu tiên. Từ lúc đó, chẳng ai còn nghĩ cách tống khứ người nói chuyện nữa. Họ còn cấp cho anh một chiếc giường xếp và một chiếc áo sơ mi theo quy định, rộng thùng thình, dài, màu trắng, vạt trái in hình Sacré – Coeur màu đỏ. Bố tôi phải ngừng kể một lát để xỏ áo. Lập tức những tiếng gào thét của tôi lại dội lên…   Để hai bố con tôi được tự do tâm sự, người ta đã ngăn cho hai bố con tôi một tấm bình phong đen thường dùng để cách ly những người hấp hối với thế giới bên ngoài. Do đó, trong căn phòng công cộng rộng, chúng tôi nghe nổi lên quanh mình những bài kinh cầu siêu và những lời cầu nguyện cho người chết. Dĩ nhiên, phần lời đệm đó không gây hại cho niềm hạnh phúc của cả ba người: tôi – Gabriel - đứa trẻ sơ sinh, Louis - người kể chuyện và mẹ tôi - sản phụ, giữa lúc đó đã thức giấc và chăm chăm nhìn chồng không rời mắt. Các xơ thay phiên nhau lần lượt bước vào căn buồng chúng tôi, viện lý do lấy tin (bà và ông đều ổn cả chứ? Ông và bà cần gì không?). Thật ra, họ làm ra vẻ như muốn có ý kiến và định giải đáp một câu hỏi mang tính thần học: tôi bặt khóc khi bố tôi vừa ghé vào tai tôi nói, liệu đấy có phải là một điều diệu kỳ không? Một số người sẵn sàng chấp nhận điều đó và cảm tạ Đấng Tối Cao đã chọn tu viện hèn mọn của họ để tỏ rõ tất cả Lòng Khoan Dung của Người… Nhưng đại đa số nữ tu sĩ cho rằng đây là loại các sự kiện thuộc kẻ hơi hạ cấp và người ta có thể gọi là ái tình, không thể hơn thế nữa. Mãi đến tận cuối đời mình, bố Louis của tôi vẫn nhắc đi nhắc lại rằng, tại nơi đó, giữa các bà xơ ở Saint- Vincent-de-Paul, bố đã được hưởng những giờ phút tốt đẹp nhất. Các xơ đã ân cần chăm sóc, chăm chút từng li từng tí và thậm chí sùng kính bố tôi (bởi vì giả thuyết về điều kỳ diệu không hoàn toàn loại bỏ, có lẽ cũng còn do ông đẹp trai và trẻ trung biết bao, chưa đầy mười tám cái xuân xanh). Họ bỏ qua cho bố tôi mọi ý thích thất thường, lo sợ ông bỏ về và tôi lại làm huyên náo ầm ĩ. Và bố Louis đã lợi dụng tình thế đó, ngay sáng hôm sau, miệng vừa kể chuyện cho con trai, ông vừa ca cẩm đủ mọi thứ bệnh và có trời mới biết nổi sức tưởng tượng về nỗi khắc khoải của ông thật phong phú biết nhường nào. Lúc thì ông kêu mình bị đau nhức cơ gian sườn, lúc thì kêu tay trái như bị kiến cắn râm ran, ruồi lọt vào mắt, và quãng chín giờ ông lại kêu hai mông ê ẩm… Mỗi lẫn ông kêu ca, người ta lại phải mời bác sĩ đến để an ủi ông: - Không, thưa ông, ông hoàn toàn khỏe mạnh.   - Ông thề đi! - Bố Louis yêu cầu.   - Có Chúa chứng giám, tôi xin thề đấy.   Và thế là chứng bệnh ám khó xác định đành lòng thuyên giảm và để bố tôi được yên vài giờ.   Ngày hôm thứ  mười, sáng ra đã thấy có mấy người đến phòng ở của nhân viên gác cổng, nơi dùng làm chỗ cấp cứu.   - Ở đây có bán sách về du lịch không?   - Không, thưa ông, đây là bệnh viện.   - Nhưng người ta đã cho tôi địa chỉ hiệu sách nhà Ambroise – Paré, lầu hai, hành lang Velpeau.   Bố Louis khi thu xếp nhặt nhạnh áo quần vào cái đêm đầy xúc động nọ, vẫn còn tranh thủ thời gian dán lên cửa cửa hiệu địa chỉ mới của mình.   - Quả thật, thưa ông, ông đã vượt quá giới hạn- giám đốc bệnh viện nói với bố tôi.   - Không buôn bán, tôi lấy gì mà sống?   Một lần nữa bên hành chính lại phải nhượng bộ. Và các hành lang màu lục nhạt của nhà hộ sinh phải chứng kiến cảnh khách quen thuộc lũ lượt kéo tới: các chú choai choai đỏ mặt hau háu những tên sách dâm dục, các giáo sư băn khoăn về những chi tiết đề cập đến vương quốc ở Mali (1240-1599) các người lính cưỡi lạc đã chẳng mấy mong muốn lênh đênh hai năm giữa Tenéré mà không mang theo bản đồ, cuối cùng, hạng người sau chót, ưa thích cửa hiệu sách hơn hết, những cặp vợ chồng viên chức trước khi lên đường yêu cầu lời khuyên về vệ sinh, cách ăn mặc, cách chống muỗi và những loài cắn đốt người.   Mời các bạn đón đọc Triển Lãm Thuộc Địa của tác giả Erik Orsenna.
Trông Lên Rất Đẹp
Trông lên rất đẹp được Vương Sóc ra để tưởng niệm thời tuổi thơ của mình. Đó là câu chuyện về khoảng thời gian từ 3 tuổi đến 8 tuổi của một đứa bé trai ở một nơi rất đặc biệt.   Phương Thương Thương sinh vào năm 1960, khi mà cả đất nước Trung Quốc đang chuẩn bị cho một cuộc Cách mạng Văn hóa rầm rộ. Không có thời gian để chăm sóc con, bố mẹ cậu bé đã gửi cậu vào một trường quản dưỡng nội trú. Ở đây, trẻ em bị thiết quân luật chặt chẽ bỡi những cô giáo giáo điều và đôi khi tàn nhẫn.   Nhưng Phương Thương Thương là một trường hợp khiến họ cũng lắm lúc không khỏi đau đầu. Cậu bé sinh ra đã cứng đầu, lập dị. Những sinh hoạt hằng ngày nơi cái trại lính nhi đồng đó đã diễn ra hết sức đa dạng, bé nhỏ nhưng vô cùng sống động. Tất cả đã tương tác với tính cách của Phương Thương Thương, tạo nên những suy ngẫm trẻ thơ, những cú sốc, những vết thương. Từ đó, không khí của thời đại tiền Cách mạng Văn hóa được khắc họa sâu sắc, chất chứa những câu hỏi về sự hình thành ra nhân cách con người trong thế kìm hãm, mất tự do của bản ngã. Thêm một tác phẩm nữa từ một thế hệ nhà văn mới của Trung Quốc, những người không tin gì cả, cười nhạo tất cả…  *** Vương Sóc sinh năm 1958 tại Bắc Kinh trong một gia đình quân nhân. Năm 1976, sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, Vương Sóc đi bộ đội, làm y tá ở một đơn vị hải quân. Năm 1978 tác phẩm đầu tay “Chờ đợi” ra đời. Năm 1980 ông được điều về toà soạn tạp chí “Văn nghệ quân giải phóng”. Sau khi phục viên ông về công tác ở Công ty Dược. Năm 1984, Vương Sóc xin thôi việc, làm nhà văn tự do, chuyên viết tiểu thuyết, kịch bản phim, tuỳ bút và phê bình văn học. Năm 1992, Văn tập Vương Sóc ra đời, gồm 4 cuốn, 31 loại, 1 triệu 60 vạn chữ. Tác phẩm chủ yếu của Vương Sóc là “Cô gái hàng không”, “Mất đứt tình yêu của tôi”, “Một nửa là ngọn lửa, một nửa là nước biển”, “Nổi lên mặt biển”, “Nghiền cho đã rồi chết”, “Chúa gàn”, “Chơi nhưng mà hồi hộp”, “Tao là bố mày”, “Ðộng vật hung dữ”, “Xin chớ coi tớ là người”... Nhiều tiểu thuyết của Vương Sóc đã chuyển thành kịch bản phim như “Khát Vọng”, “Câu chuyện ở ban biên tập”, “Anh không phải là người thường”, “Yêu em không thương lượng”.... Văn của Vương Sóc hóm hỉnh, dí dỏm, phóng túng, thường hay dùng ngôn ngữ lưu hành ở đô thị, tự xưng là “tiểu thuyết mang mùi vị đô thị mới”.   Sau một thời gian bảy năm gác bút đi buôn, lập công ty làm kinh tế, tháng 3 năm 1999, Vương Sóc lại xuất hiện trên Văn đàn với tác phẩm hoàn toàn khác trước: “Trông vào đẹp lắm” có độ dài 233.000 chữ, do Nhà xuất bản Hoa Nghệ xuất bản lần đầu 200.000 cuốn. Tháng 8 năm 2000, Vương Sóc lại cho ra cuốn phê bình tiểu luận: “Người đẹp bỏ tôi thuốc bùa mê”, dài 100.000 chữ do Nhà xuất bản Văn nghệ Trường Giang xuất bản, in lần đầu 200.000 cuốn.  *** Năm 1991, viết hơn một triệu chữ cả tiểu thuyết, kịch bản phim truyện, phim truyền hình. Năm sau đã gặp báo ứng, rơi vào khủng hoảng sáng tác. Thực tình thì đó là sự khủng hoảng của tinh thần, tôi bỗng nảy sinh mối hoài nghi rất lớn trước cuộc sống sáng tác của mình lẫn tất cả những gì đã viết ra. Còn nhớ như in thời gian, địa điểm xuất hiện cảm giác lung lay đó. Một buổi trưa, mười một giờ, trước cửa hàng bán đồ ăn Tây Bá Hà bên đường vành đai ba, tôi rẽ qua đó ăn bữa cơm. Hôm đó, chớm sang hè, nắng rất đẹp, tôi đi giữa sương khói bảng lảng bỗng chân nhũn xuống, dùng giọng lưỡi thậm xưng của đám đàn bà tiểu tư sản là tôi thấy trong tôi sụp đổ. Dĩ nhiên là không ngã xuống, nằm giữa phố, mà vẫn bước đi, có điều đầu óc quay cuồng những câu hỏi ngắn vụt tới tấp: Tôi đang làm gì? Thế này coi như tôi đang sống chăng? Cái tôi cần chính là những thứ đang ở trước mắt đây?   Bỗng dưng mất sạch hứng thú trước lối viết vốn đã rất thuần thục, cảm thấy đi cùng với nó là sự đánh mất, sự mai một những ý tưởng ban đầu, thuần thục nhưng lại để vuột mất những điều cốt tủy. Đó là chỗ lung lay cực kì rõ ràng, như lỗ thủng trên bít tất, người khác không thấy nhưng chính mình rất rõ: cái lối viết mà tôi những hô hào với rêu rao kia thực chất chỉ là đơn giản hóa cuộc sống.   Ấy là nói đỡ cho. Nghiêm khắc thì là: bóp méo cuộc sống. Cuộc sống nào cũng đan xen chằng chịt trăm thứ cảm xúc, mà nào có ai giống ai, cớ sao phản ánh vào văn chương lại thành một bộ mặt sơ sài, đơn giản, chẳng hạn: mang tính chất của thể hài kịch. Dĩ nhiên, ở đây cũng bao gồm những hạn chế tự thân của văn chương - một thứ công cụ biểu đạt: câu chuyện thường vẫn có xu hướng tìm tòi một kết thúc viên mãn, sự giới hạn về số lượng chữ khiến người ta chỉ có thể tập trung vào những phát triển chính, còn bao nhiêu sự thực khác đều không ôm đồm nổi. Cũng còn bởi vấn đề của sự thú vị. Tiếng Bắc Kinh đặc trưng khi nói có xu hướng ồn ào rôm rả, nói ra rất dễ lời tiếp lời, một chuyện giản đơn mà xoay tới trở lui viết ra hàng đống giấy, khoái cảm nơi cửa miệng khiến người nói say sưa, tưởng mình thông minh, lại càng “nổ”, càng “diễn”. Nếu đơn thuần chỉ để tạo điểm khác biệt, kiếm mấy tiếng tung hô, hoặc phụ họa cho hợp thế thời, thì cũng chả gì ghê gớm. Nhưng, không giấu quý vị, tôi còn có một “tâm nguyện ban đầu” với văn học, đó chính là: “trả lại cuộc sống nguyên vẹn”. Ý tôi là đi tìm những tác nhân thực sự ảnh hưởng đến hành động nhân vật, những thứ không bị đổi thay bởi ý thức con người, những nhân tố chi phối nguyên sơ nhất, ẩn bên trong của mọi thứ biểu cảm bề ngoài.   Bởi tôi không dám tin vào phản xạ đầu tiên của mình. Bởi hành động thường đa nghĩa. Bởi tư duy quá đỗi phức tạp, bóc tách từng chút một cũng chưa chắc đã khỏi bất ngờ sao mình lại có phản xạ như thế. Ở đây liên quan đến động cơ.   Chắc gì bạn có thể hiểu và nhìn thấu nhân vật dưới ngòi bút của chính mình. Chắc gì anh ta sẽ không mới vui đã buồn, gặp yêu sinh hận - dù nguyên mẫu chính là bạn. Động cơ không nắm rõ, hành vi trượt khỏi quỹ đạo, chỉ còn lại chút tính hài được dàn xếp sẵn, chạy theo những vui buồn yêu giận “lấy ngay”, tới đâu hay đó… trông cũng “thể diện”, nhưng rốt cuộc vẫn trơ trơ một lời tự vấn thiếu hồi đáp: vốn dĩ là vậy hay sao?   Khổ sở không chỉ mỗi điều đó. Chính bởi chưa tới được gốc gác nguồn ngọn, tự túm tóc phiêu diêu giữa lưng chừng, đã có người lôi xuống, thay mình tổng kết ra bộ ra hệ ra phương pháp nọ kia, nói mình chính là thế này thế này, lại còn được số đông chấp nhận. Tôi không nói những kẻ chê mắng tôi, quan hệ giữa tôi với bọn họ rất đơn giản, lập trường khác biệt, tình cảm, suy nghĩ tất thảy đều khác, những điều bọn họ chê tôi đại khái cũng không sai lệch, thỉnh thoảng có lạc sang tận nhà bà ngoại cũng chẳng ảnh hưởng gì. Tôi muốn nói đến những người yêu quý tôi, muốn gặp tôi, coi những thứ của tôi kia là của quý. Trước khi nói ra những lời dưới đây, tôi phải thanh minh trước: ở đây tôi nói sự việc, không nhắm vào người nào hết, tôi chỉ muốn làm rõ một số hiểu lầm từ bấy lâu nay, muốn tháo gỡ những thứ vốn không liên quan đến nhau, có thể là không công bằng, nhưng hoàn toàn không phải mượn dịp để hạ thấp ai đó, cố ý làm xấu ai đó, xin được độc giả chứng giám, xin người trong cuộc bỏ quá cho.   Tôi muốn nói tới những hình tượng nhân vật đã được điển hình hóa qua các phim ảnh chuyển thể từ tiểu thuyết của tôi, hoặc do chính tôi viết kịch bản. Diễn viên rất thành công, được khán giả quan tâm yêu thích, tôi cũng thích thế, cũng như thích những nhân vật khác trong các vở kịch vui khác đã khiến tôi bật cười. Nếu bảo loại hình tượng đó xuất phát từ những sáng tác của tôi, một cách độc đáo, thực tình chẳng dám. Như thế là ốc mò cò xơi, cướp vinh quang của người ta; bất quá như kiểu khôn ngoan của loại người: nhờ người mang thai hộ.   Họ thuộc một dạng người Bắc Kinh khác. Nói thế nào nhỉ? Chắc cũng lương thiện thật, có chút ranh ma, cực kì biết lắng (lấy) phần trong, gạn (bỏ) phần đục, vốn liếng to nhất là đầy một miệng “thấu hiểu” với “cảm thông”, sống “cặm cụi” kĩ càng, không bỏ lỡ cái gì bao giờ, bàn tính gảy rào rào trong bụng người ngoài cũng nghe thấy, một chút xúc cảm đã ngỡ là sâu sắc.   Người tốt! Người có tính như thế, trong cuộc sống này chỉ có lợi, không hại, ra trước công chúng phần lớn đều được cưng chiều, nhưng xuất hiện trong tác phẩm của tôi lại thành lầm lẫn. Toàn thể hiện sai. Chính là kết quả của sự sáng tạo lại của nghệ thuật điện ảnh.   Khác biệt giữa điện ảnh với tiểu thuyết đại để ở chỗ cho ra sản phẩm của ý chí tập thể, rất nhiều người tham gia lao động, cuối cùng đều nêu ý kiến, đều “gửi gắm” những phẩm chất ưa thích của mình vào trong nhân vật, rốt cuộc trả về cho anh một con người hoàn toàn xa lạ. Đương nhiên, điện ảnh ngày nay trước tiên phải là lợi nhuận, được ưa chuộng tức là thành công, hỏi tôi về ý tưởng trong nguyên tác, tôi nào có định như thế, viết hàng lô lốc những thứ dớ dẩn kia chỉ để dựng cho quần chúng một con người tốt. Đúng như lời người phê bình, tôi toàn viết những thứ “láo lếu”. Những lời nói có vẻ đầy nhiệt tình kia thật ra là trêu chọc. Cái thú trêu chọc người khác bắt nguồn từ cảm giác thâm căn cố đế: hơn người. Đúng vậy, tự nghĩ mình “siêu”, có sức nhào nhồi, có tài lập thân lập ngôn, rơi xuống đáy của xã hội mà không hay biết, thịt nát xương tan cái miệng vẫn còn, cho nên nói năng tự cao tự đại, như sống trong mơ, không hòa đồng cũng chẳng hòa tan. Là dạng thích ra oai, là lưu manh giả trượng nghĩa, không cam tâm sống đời hiu quạnh, nhưng rồi chẳng qua vẫn chỉ là hạng cười gắng nói gượng vô danh tiểu tốt.   Hồi nhỏ, tôi là đứa bé hư, quen nhận từ xung quanh những trách mắng và “lừ mắt”, như thế mới cảm thấy mình là mình. Bỗng một ngày, tiếng vỗ tay vang lên, lại còn có người đi theo, tôi hoang mang mất phương hướng, cảm giác đó thật lạ lẫm, đột ngột, vừa dễ chịu vừa không thoải mái, cùng lúc với dễ chịu thường là không tự nhiên, hay đó là sa ngã?   Còn nhớ năm ấy đọc được bài phê phán đầu tiên dành cho mình (trước đó cũng đã có, tôi muốn nói loạt mới khi tôi bắt đầu để mắt tới). Bài do một kẻ nhàn rỗi viết ra, đăng trên Nhật báo Bắc Kinh số cuối tuần. Nội dung phê phán không nhớ nữa, cũng chẳng quan trọng, tóm lại là nói tôi không tốt, chẳng có chỗ nào được, cũng chẳng sao, quan trọng là bài phê bình khiến cảm giác của tôi thay đổi, có thể miêu tả là “cả trái tim rơi tọt xuống ổ bụng”. So với những động viên, khen ngợi từ sau lưng, những công kích, chửi mắng vỗ ngang trước mặt càng khiến tôi nhìn rõ mình đang ở đâu, mình là cái thứ gì, nhờ vậy càng giữ được bản chất - ý tôi là: tính ăn miếng trả miếng của chó sói. Làm sói thực ra tôi không ham, thành chó tôi cũng chẳng thích, so sánh hơn thiệt phải chọn cái đỡ thiệt hơn. Đây chính là cái lợi và sự cần thiết của kẻ thù. Tôi nghĩ tôi cần kẻ thù còn hơn cần bạn bè chiến hữu. Dĩ nhiên, tôi không muốn nói người phê phán tôi đều là loại kẻ thù vác súng bắn, đó chỉ là phép tu từ, nếu nói thế không ổn, tôi rất vui lòng gọi đó là những người sáng suốt, ra roi chỉ lối.   Đó là lời nói thật, tôi cảm ơn những người phê phán tôi. Chính những phê phán “buốt tai” đó giúp tôi nhìn rõ hơn những thứ bị “trông gà hóa quốc”. Tôi nghĩ trước thực tại đó mình cũng không nên quá tiêu cực, nói cách khác là cự tuyệt với nó. Bị hiểu lầm vốn là cái nghiệp của người diễn đạt, cũng chẳng nên coi tất cả những người đó là ngu dốt hết thuốc chữa hoặc nhận định có âm mưu này khác. Một phần nguyên nhân chắc chắn là ở bản thân, chính mình diễn đạt có chỗ mâu thuẫn, để người khác túm được gáy. Tôi nghĩ có một lối viết truyện có thể đem cuộc sống mà tôi nhìn thấy - cái diện mạo vốn có của nó - lột tả một cách chân thực. Kể cũng khá thú vị, đối mặt với những phê phán và mô phỏng chế giễu, tôi lại cảm thấy tư liệu cuộc sống của mình đầy đủ và tròn trịa, vẫn giữ được sự mới lạ khi chưa bị người ta khám phá, nhận biết, giữ được hương vị hoang dã, trinh nguyên. Điều đó quả thực không gì sánh nổi, cho một người viết lách ngót chục năm mà vẫn còn rất ham muốn sáng tác. Nó cũng có nghĩa là tôi vẫn còn cơ hội xây dựng một diện mạo mới mẻ, bước lên một bậc cao hơn, hoặc nói cách khác là lại tìm thấy chốn đào nguyên trong văn học.   Có thể chỉ là tôi đang quan trọng hóa mình quá mức, quá bận tâm với chính mình, không đủ thoải mái ung dung, làm hỏng mất tác phong của kiểu người như chúng tôi. Thế thì đã sao nhỉ? Thì coi như tôi còn thiển cận đi.   Mời các bạn đón đọc Trông Lên Rất Đẹp của tác giả Vương Sóc.
99 Phờ - Răng
 Khi cả một cuộc đời giá chỉ có 99 Phờ-răng       Tại sao lại là “99 Phờ-răng”? 99 phờ-răng là giá tiền của cuốn sách bán trong các cửa hàng ở Pháp và sau khi Liên minh châu Âu dùng đồng tiền chung thì tên cuốn sách được đổi thành 14,99 euro. Trong “99 Phờ-răng” là một cuộc đời, cuộc đời của Octave - nhân vật chính và được coi là hình bóng của chính tác giả Frederic Beigbeder.    “99 Phờ-răng” là cuốn tiểu thuyết viết về thế giới quảng cáo – thế giới mà chúng ta đang sống trong đó, thế giới của những câu slogan ấn tượng, những clip quảng cáo gây nhiều tranh cãi, thế giới của những con người thông minh, sáng tạo với mức lương cao chót vót. Nhưng đằng sau thế giới đầy hào quang đó là những trăn trở, dằn vặt, là sự sám hối của một chuyên gia quảng cáo thành đạt nhưng bất ổn trong tâm hồn. Octave là một mẫu người trẻ tuổi sành điệu nhưng bế tắc, cô đơn trong cuộc sống, tình yêu và đặc biệt ác cảm với chính nghề nghiệp của mình - một nghề đầy uy lực, ma thuật nhưng lại rất trơ trẽn, bịp bợm.   Trong con người Octave là sự giằng xé giữa hai mặt của nghề, với một bên là ánh hào quang, các giải thưởng, sự thăng tiến và một bên là sự cắn rứt của lương tâm trước sự giả dối, khắc nghiệt và tàn nhẫn của nghề quảng cáo. Octave cảm thấy day dứt vì đã gia nhập vào đội quân những kẻ dối lừa người tiêu dùng. Anh ta nhận thức rất rõ rằng, “quảng cáo như con bạch tuộc bám chặt tất cả và sở hữu thế giới. Khởi đầu như trò đùa, giờ đây quảng cáo điều khiển cuộc sống của chúng ta: quảng cáo tài trợ cho truyền hình, chỉ huy báo chí, ra lệnh cho thể thao (không phải Pháp hòa Brazin ở trận chung kết World Cup mà là Adidas thắng Nike!)” Hàng năm đầu tư quảng cáo trên thể giới đạt mức nhiều tỷ đô la. “Và có thể cam đoan rằng, với khoản tiền như thế thì mọi thứ đều có thể đem bán được hết - đặc biệt là linh hồn của bạn.” Octave mệt mỏi trong cái trạng thái bất ổn đó và luôn tự đặt cho mình câu hỏi: “Vì cái gì mà người ta lại biến tôi thành Vị Chúa tể Thế gian? Ðã từ lâu, tôi muốn nhận rõ bí mật: bằng cách nào mà quảng cáo lại trở thành là Chúa tể và trị vì trên đỉnh cao của thời đại chúng ta? Chưa bao giờ trong lịch sử hai nghìn năm nay, một kẻ đần độn như tôi lại có được sức mạnh như vậy.”   Octave là đại diện cho một lớp người trẻ tuổi, thông minh, thành đạt nhưng đã mất hết niềm tin vào cuộc sống, vào tình yêu để rồi đắm mình vào thế giới của ma túy và thác loạn, để rồi đau đớn nhận ra rằng mình đang vô cùng cô độc. Thế giới của những công dân cổ cồn trắng như Octave gắn với những trò ăn chơi thác loạn trong nhà thổ, nơi chỉ có đám gái làng chơi dâm dật “mới có thể đánh thức chức năng đàn ông” trong con người anh ta, bởi anh ta không tin vào tình yêu mà mình từng có. Ðó cũng là thế giới của những gã đồng nghiệp khệnh khạng, suốt ngày dán mắt vào màn hình vi tinh chỉ để tải các bộ phim khiêu dâm, thế giới của những quý bà giám đốc béo ú như khúc giò và một đám nhân viên sáng tạo đang ra sức cười hô hô với khát khao được trông giống như các chuyên gia sáng tạo thực thụ”. Octave muốn thoát ra khỏi cái thế giới trơ trẽn đó và mong ước được cấp trên sa thải. Và cũng chính vì mục đích đó mà anh ta đã phơi bày hết chuyện bếp núc của quảng cáo. “99 Phờ-răng” là một cuốn sách châm biếm, mỉa mai ngành công nghiệp quảng cáo, trong đó tác giả bộc lộ cái nhìn không khoan nhượng về thế giới điên cuồng và đầy nghịch lý, nơi tất cả mọi người khinh bỉ nhau và tiêu phí những giá trị tốt đẹp của con người. “99 Phờ-răng” là cái tát đối với xã hội phương Tây hiện đại, là sự giễu cợt xã hội tiêu thụ với một trong những cái lò xo chính của nó là quảng cáo.   Frederic Beigbeder viết “99 Phờ-răng” như thể để trả thù những năm tháng dối lừa mà anh đã cống hiến cho xã hội tiêu dùng. Năm 2000, sau khi “99 Phờ-răng” được xuất bản lần đầu tiên tại Pháp và trở thành cuốn sách bán chạy nhất trong năm, Frederic Beigbeder đã buộc phải giã từ nghề quảng cáo để rối dấn thân vào một nghề đầy thú vị nhưng cũng đầy thách thức: viết tiểu thuyết. Anh là tác giả của nhiều cuốn sách bán chạy tại Pháp và châu Âu như “Kỳ nghỉ trong hôn mê”, “Tình yêu chỉ sống ba năm” hay “Cửa sổ trên tháp đôi”.   “99 Phờ-răng” đã được đạo diễn Jan Kounen dựng thành phim và chỉ trong mấy tháng từ khi công chiếu ở châu Âu ngày 26/9/2007, bộ phim đã thu được 12 triệu đô la tiền bán vé.   Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách thú vị này tới tất cả những ai muốn khám phá mặt trái của xã hội phương Tây, khám phá mặt trái của nghề quảng cáo - một nghề đang thịnh hành và đang là sự lựa chọn của nhiều bạn trẻ hiện nay. Hy vọng rằng, “99 Phờ-răng” sẽ làm bạn đọc hài lòng khi khám phá ra nhiều điều thú vị về cái thế giới kín cổng cao tường đó.   TP. Hồ Chí Minh, tháng 12/2007   PHAN AN *** Frédéric Beigbeder là nhà văn Pháp, người sáng lập ra giải thưởng Café de Flore, trao vào tháng 9 hàng năm tại Saint-Germain-des-Prés. Ông là tác giả của tác phẩm "Kẻ ích kỉ lãng mạn". Sinh năm 1965 trong một gia đình khá giả, Frédéric Beigbeder theo học tại hai trường trung học nổi tiếng rồi vào Học viện nghiên cứu chính trị Paris, tiếp đó là Trường nghiên cứu khoa học thông tin và truyền thông.   Năm 24 tuổi, Frédéric tốt nghiệp với tấm bằng cao học về marketing - quảng cáo và bắt đầu sự nghiệp khá lừng lẫy của một người đa tài: làm quảng cáo, nhà văn, phê bình văn học, làm chương trình thời luận...    Frédéric Beigbeder đã từng làm cho nhiều tạp chí như Elle, Paris Match, Voici, VSD… và làm trong nhóm phê bình văn học cho một số chương trình trên kênh Paris Première, Canal +, sau đó anh làm riêng chương trình Des livres et moi (Sách và tôi) trên kênh Paris Première. Frédéric Beigbeder cũng từng là biên tập viên cho nhà xuất bản Flammarion.   Là một người đam mê văn học thực sự, song song với những công việc trên, Frédéric Beigbeder không từ bỏ việc viết sách. Năm 1990, anh xuất bản tiểu thuyết đầu tay Mémoire d'un jeune homme dérangé (Hồi ký của một thanh niên bị quấy rầy). Năm 1994, tiểu thuyết thứ hai ra đời Vacances dans le coma (Kỳ nghỉ trong cơn hôn mê) và tiếp theo vào năm 1997 là Tình yêu kéo dài ba năm, kết thúc bộ ba tiểu thuyết về Marc Marronnier.    Tiếp sau đó, các tiểu thuyết của Frédéric Beigbeder đều giành được thành công vang dội như 99 francs - bán được 380 000 bản, được chuyển thể thành phim; hay Windows on the world - bán được 100 000 bản, giành giải Prix Interallié, bản dịch tiếng Anh được nhận giải Independent Foreign Fiction Award.    Ngoài tiểu thuyết, anh còn viết truyện ngắn, tiểu luận, truyện tranh. Frédéric Beigbeder là người sáng lập ra giải thưởng Prix de Flore vào năm 1994, giải thưởng này đã từng vinh danh những cây bút nổi tiếng như Michel Houellebecq, Amélie Nothomb, Virginie Despentes,...   Năm 2009, Frédéric Beigbeder giành Giải Renaudot với cuốn tiểu thuyết Un roman françai.   Mời các bạn đón đọc 99 Phờ - Răng của tác giả Frédéric Beigbeder.
Ba Ngày Ở Nhà Mẹ
Kết cấu Ba ngày tại nhà mẹ tôi (Giải Goncourt 2005) thật đặc biệt. Thoạt tiên là sáu "chương" (từ đầu đến trang 160) tuy tác giả không ghi là chương mà chỉ đánh số từ 1 đến 6. Người kể chuyện xưng "tôi", tự giới thiệu mình là François Weyergraf, vợ là Delphine, hai con gái là Zoé và Woglinde. "Tôi" đã gần sáu mươi, đã xuất bản mười tiểu thuyết và dựng năm bộ phim. Mẹ "tôi" thì đã tám mươi tám tuổi. "Tôi" bắt tay vào một cuốn tiểu thuyết mới, "… tôi đã tìm ra nhan đề trước khi bắt đầu viết, đó là "Ba ngày tại nhà mẹ tôi". Tôi cần phải sáng tạo một nhân vật phụ nữ đã nhiều tuổi, một bà mẹ hư cấu, bà sẽ là mẹ của người kể chuyện chứ không phải mẹ tôi […] Trong tiểu thuyết của tôi, bà mẹ goá chồng" (Trois jours..., tr.75). "Tôi" chọn người kể chuyện là một nhà văn, như thế dễ viết hơn là chọn một kẻ sát nhân, một nhà phẫu thuật hay một bộ trưởng. "Người kể chuyện trong cuốn sách sắp tới của tôi đêm đêm giam mình trong một căn phòng để làm việc [...] Tôi chấp thuận cho phép ông ta thỉnh thoảng rời căn phòng […] Đi đây đi đó, làm tình, viết văn, thật là một tam vị nhất thể tuyệt vời!" (Trois jours..., tr.95, 99, 101). Nhưng rồi việc viết lách chậm như rùa. Vợ "tôi" hỏi: "Cuốn tiểu thuyết của anh đến đâu rồi?". Mẹ "tôi" sống ở Provence, miền Nam, lần gần đây nhất lên Paris, hỏi: "- Con đưa cho mẹ xem cuốn tiểu thuyết của con chứ? Nó đâu? - Bà muốn nói là bản thảo […] Tôi đã trả lời mẹ: - Con chưa viết xong được - Thế ít ra con đã bắt đầu viết chưa?” (Trois jours..., tr.156, 157).   Từ trang 163 đến trang 234, tiếp theo sáu "chương" ấy là trang bìa, trình bày hết cả trang, như một trang bìa thật, cuốn tiểu thuyết của "tôi", với đầy đủ tên tác giả là François Weyergraf, nhan đề cuốn tiểu thuyết là "Ba ngày tại nhà mẹ tôi"… Sau trang bìa là ba chương đã hoàn thành, ghi rõ chương 1, chương 2 và chương 3. Phương thức tự sự chuyển sang ngôi thứ ba, lời kể của người trần thuật: François Graffenberg là một nhà văn; ông đã gần sáu mươi tuổi, vợ là Daphné, hai con gái là Chloé và Sieglinde. Ông định viết một cuốn tiểu thuyết lấy nhan đề là "Ba ngày tại nhà mẹ tôi", nhân vật chính, người kể chuyện trong đó tên là François Weyerstein, cũng là một nhà văn, dự định viết "Ba ngày tại nhà mẹ tôi", nhưng mãi chưa xong vì những chuyện gặp gỡ, hẹn hò. Ông quyết định gác lại tất cả, về nhà mẹ ở mấy ngày để nghỉ ngơi đôi chút và hoàn thành tác phẩm.   Cuốn Ba ngày tại nhà mẹ tôi của François Weyergraf mới được ba chương và dừng ở đây. Ba mươi trang cuối (tr.235-263) tiểu thuyết Ba ngày tại nhà mẹ tôi của François Weyergans được đánh số 7, nối tiếp với 6 "chương" mở đầu tác phẩm và trở về với phương thức tự sự ở ngôi thứ nhất. "Tôi" được tin mẹ "tôi" ở Provence bị ngã chẳng ai biết, nên một mình nằm ngoài vườn, nay đang điều trị ở bệnh viện. "Tôi" liền về Provence. "Thế là tôi về sống ba ngày, ba ngày ấy tại nhà mẹ tôi. Tại nhà mẹ tôi mà không có mẹ tôi". Tiểu thuyết kết thúc bằng mấy dòng: "Tối nay tôi rất muốn gửi cho mẹ tôi một bản fax, tôi rất muốn viết báo tin cho mẹ là tôi vừa đặt dấu chấm hết cho quyển sách mà tôi đã quyết định hoàn thành, sau khi mẹ ngã, tôi về ở ba ngày tại nhà mẹ tôi” (Trois jours..., tr.255, 263).   Nhà văn có thật François Weyergans viết cuốn tiểu thuyết với nhân vật trung tâm là nhà văn hư cấu François Weyergraf (tạm gọi là cuốn A); nhà văn hư cấu này lại viết cuốn tiểu thuyết với nhân vật trung tâm hư cấu là François Graffenberg cũng là một nhà văn (tạm gọi là cuốn B). Đến lượt François Graffenberg lại viết cuốn tiểu thuyết với người kể chuyện là François Weyerstein vẫn là một nhà văn (tạm gọi là cuốn C) và nhà văn ấy đang loay hoay viết "Ba ngày tại nhà mẹ tôi" (tạm gọi là cuốn D). Các tiểu thuyết ấy đều lấy cùng một nhan đề và triển khai cùng một nội dung. Một dạng tiểu thuyết trong tiểu thuyết và theo kỹ thuật "lồng gương" đến mấy tầng. Hai cuốn C và D mới chỉ là những dự định. Cuốn B của François Weyergraf đã xong được ba chương, Cuốn A, tiểu thuyết "có thật" của tác giả "có thật" François Weyergans thì gồm bảy "chương" đánh số từ 1 đến 7 và cả ba chương chen ngang của tác giả cuốn B kia.   Xét về một phương diện khác, cuốn D mới chỉ được nhắc đến, chưa có tên nhân vật và cũng chưa biết là theo phương thức tự sự nào. Cuốn C theo phương thức tự sự ở ngôi thứ nhất, căn cứ vào câu: "Người kể chuyện trong tiểu thuyết của ông (tức François Graffenberg - P.V.T thêm) tên là Weyerstein" (Trois jours..., tr.201). Cuốn B theo phương thức tự sự ở ngôi thứ ba. Đọc cuốn tiểu thuyết hoàn chỉnh, “thật sự" của F. Weyergans, ngôn từ kể chuyện dường như cũng luân phiên thay đổi theo kiểu "lồng gương", từ ngôi thứ nhất (cuốn A) ở 7 “chương”, sang người trần thuật ở ba chương (cuốn B) và sẽ lại trở về với ngôi thứ nhất (cuốn C)...   Một cuốn tiểu thuyết về sáng tác tiểu thuyết của một nhà văn có dự định trong đầu mà cứ trì hoãn mãi viết không xong. Cái gọi là cốt truyện theo nghĩa truyền thống hầu như chẳng có. Ba ngày tại nhà mẹ tôi lôi cuốn hứng thú của bạn đọc về phía kỹ thuật biến hoá chủ thể tự sự trong tác phẩm. Ngoài ra, có những dấu hiệu khiến ai cũng phải băn khoăn: các nhân vật nhà văn trong tác phẩm đều có tên là François như tác giả, còn các họ Weyergraf, Graffenberg, Weyerstein đều na ná dắt dây nhau và gợi nghĩ đến Weyergans. Cũng có mối liên hệ tương tự giữa tên vợ (Delphine - Daphné) và tên hai con gái (Zoé - Chloé; Woglinde - Sieglinde) của Weyergraf và Graffenberg. Dù sao, đó vẫn chỉ là những nhân vật hư cấu; các chủ thể xưng "tôi" và người trần thuật trong tác phẩm vẫn không thể đồng nhất với nhà văn. Trong tiểu thuyết này, chủ thể "tôi" có đầy đủ cả họ tên, tuổi tác, lại có vẻ gắn với những mối quan hệ xã hội, vợ con, mẹ, tình nhân, nhà xuất bản... Nhưng các tên họ dắt dây nhau, nhoà vào nhau, các sự kiện lại rất mờ nhạt, cả cuốn tiểu thuyết chỉ quanh quẩn ý chính là mãi chẳng hoàn thành. Thật không dễ dàng hình dung để phân tích "tôi" như một nhân vật theo lối mòn trước đây..."   GS. Phùng Văn Tửu   Khoa Ngữ văn - Đại học Sư phạm Hà Nội  *** François Weyergans sinh năm 1941 ở Bỉ, mẹ là người Pháp và bố là người Bỉ, nhưng chủ yếu sống ở Paris. Ông xuất thân là một nhà làm phim, tốt nghiệp IDHEC (Trường Điện ảnh quốc gia), đạo diễn cuốn phim ăn khách một thời Je t'aime, tu danses (Anh yêu em, còn em thì nhảy múa).   Dầu vậy, Weyergans được thiên hạ biết tiếng nhiều nhờ sự nghiệp văn chương hơn là nhờ mấy tác phẩm điện ảnh lẻ tẻ.   Ông bắt đầu nổi danh với tư cách là nhà văn vào năm 1973 qua cuốn Le pitre (Thằng hề). Trong số các tác phẩm đáng chú ý khác của ông còn có Le radeau de la Méduse (Chiếc bè Méduse), La vie d'un bébé (Hài nhi), Je suis écruvain (Tôi viết văn), La démence d'un boxeur (Võ sĩ điên rồ, giải Renaudot 1992), Franz et François (Franz và François).   Năm 2005 này, ông cùng lúc cho ra mắt hai cuốn Trois jours chez ma mère vừa trúng giải Goncourt và cuốn Salomé (Salomé, tác phẩm đầu tay, khởi thảo năm 1968).     Tác phẩm đoạt giải:   "Có thể rồi một ngày nào đó tôi cũng sẽ trách mình, không phải vì ít trò chuyện với mẹ, bởi hầu như chiều nào tôi cũng nói chuyện qua điện thoại với bà, mà là vì ít đến thăm bà, nhất là mấy năm sau này. Đã thượng thọ, vậy mà người mẹ yêu quý của tôi vẫn còn tỏ ra rạch ròi hơn tôi nhiều. Trong điện thoại, bà không ngớt tóm gọn tình thế: "Tóm lại, mẹ thật ít có dịp trông thấy con trên đời"".   Chính vì vậy mà, thay mặt tác giả, nhân vật François Weyergraf mong muốn được "ba ngày về với mẹ" cho phải đạo làm con.   Đây là một cuốn tiểu thuyết có cấu trúc phức tạp. Người kể chuyện François Weyergraf "bịa" ra một tác giả tên là François Graffenberg, ông Graffenberg này lại "bịa" ra một nhân vật là François Weyerstein; mỗi François lại truyền cho François khác cái xung năng sáng tạo của mình.   Ngay từ đầu, độc giả đã gặp lại nhân vật có họ na ná với họ Weyergans trong cuốn Franz et François xuất bản 8 năm trước. François Weyergraf là nhà làm phim và nhà văn (hệt như tác giả), 60 tuổi, luôn luôn thao thức, trăn trở, bất an trong lòng, nhưng rất ư uyên bác, chẳng khác gì nhà văn Bỉ danh tiếng Franz Weyergans, cha của tác giả.   Nếu như qua Franz et François, tác giả đã tỏ lời vừa kính phục vừa ganh ghét cha mình, thì cuốn Trois jours chez ma mère như một bức thư bày tỏ tình cảm gửi tới mẹ già.     Mẹ và con   Bà nay 91 rồi, nhưng vẫn minh mẫn và còn sung sức. Qua điện thoại, bà không ngớt thăm hỏi, chăm sóc đứa con trai ở tuổi 60 như nó còn bé dại. Bà dặn nó phải viết nhiều hơn, bớt hút thuốc, không thì phổi bị thủng lỗ chỗ. Một nhân vật kỳ diệu.   Nhớ tới thời bà... chưa già, vừa góa chồng là bà cặp kê ngay với một ông láng giềng chủ một xí nghiệp có vợ con. Bà cũng chẳng ngại la cà trong các quán bar, nhảy nhót với những kẻ lạ mặt. Vóc dáng, cử chỉ, lời ăn tiếng nói của bà lúc nào cũng trẻ trung, sống động, khiến cho nhiều người tưởng bà với con mình là vợ chồng chung gối với nhau.   Thế nên Francois Weyergraf/Weyergans hết mực yêu quý, tôn sùng mẹ mình. Chúng ta nghe rõ đằng sau chữ "maman" (má, mẹ, u...) mỗi khi tác giả thốt lên trên trang giấy từng cung bậc rung động của ngòi bút.   Ông khao khát được ôm mẹ vào lòng, về ở với mẹ dầu chỉ "ba ngày" vậy mà cứ mải miết bận rộn. Lại nữa, cứ mong mang về dâng tặng mẹ cuốn sách viết về cuộc đời của bà, nhưng vì nó vẫn còn trong trứng nước nên tác giả ngần ngại không dám bước chân. Mà cũng có thể vì tác giả e rằng một khi đã phơi bày cuộc đời của mẹ mình trên trang sách, biết đâu bà lại chẳng bất thần trút hơi thở cuối cùng.   Rốt cuộc, "ba ngày về với mẹ" chỉ là một giấc mơ.     Mượn cớ   Hay chỉ là cái cớ cho phép tác giả nhẩn nha "tùy bút" trên 270 trang sách, một cách hấp dẫn, lôi cuốn, nhờ ở một văn phong điêu luyện, nhưng không kiểu cách. Thành quả của bảy năm ròng miệt mài với ngôn từ, chữ nghĩa, với tư duy, suy luận.   Viện Hàn lâm Goncourt đã đúng đắn khi trao tặng Goncourt, giải quan trọng nhất của văn học tiếng Pháp, cho tác phẩm Trois jours chez ma mère của Francois Weyergans. Trong số các nhà văn từng đoạt giải này có Marcel Proust, Simone de Beauvoir, Marguerite Duras...   TRẦN THIỆN ĐẠO (Paris)    Mời các bạn đón đọc Ba Ngày Ở Nhà Mẹ của tác giả Francois Weyergans.