Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

PR Lý Luận Và Ứng Dụng

Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, không ít công ty đã phát triển trở thành các tập đoàn khổng lồ xuyên quốc gia có khả năng tác động không chỉ về kinh tế mà còn cả về mặt chính trị của một đất nước, thậm chí một khu vực. Ví dụ, quyền lực của các tập đoàn dầu mỏ, sản xuất vũ khí ở Mỹ đã vươn ra tác động đến khu vực Trung Đông, mà cuộc chiến tranh Iraq là một minh chứng điển hình. Các tổ chức phi lợi nhuận như Oxfam (tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực phát triển, chống nghèo đói, bất công) hay Hiệp hội Bác sĩ không biên giới (một tổ chức nhân đạo quốc tế về y tế)… có phạm vi hoạt động tại nhiều nước trên thế giới. Khi mà các tổ chức ngày càng phát triển mạnh và đóng vai trò quan trọng hơn trong xã hội, thì những mối liên hệ giữa các cá nhân, các quốc gia, các tổ chức ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Quan niệm “Học ăn, học nói, học gói, học mở” không còn bó hẹp trong phạm vi cá nhân mỗi con người nữa; giao tiếp trở thành nhu cầu của tổ chức và hoạt động giao tiếp của tổ chức đòi hỏi ngày càng chuyên nghiệp hơn. Sự kết nối giữa các cá nhân và các tổ chức còn được hỗ trợ bởi sự phát triển chóng mặt của công nghệ thông tin. Những thành tựu công nghệ mới như máy tính, vệ tinh liên lạc viễn thông, điện thoại di động đã và đang tạo nên những bước đột phá mạnh mẽ. Xã hội của thế kỷ XXI là xã hội trong đó thông tin đóng vai trò chiến lược, tác động đến hầu hết các lĩnh vực chủ yếu của xã hội, từ kinh tế, cho đến chính trị, văn hóa… Thắng lợi của các cuộc đấu tranh chính trị không chỉ dựa vào khả năng vận động, thuyết phục cử tri của chính trị gia thông qua các cuộc tiếp xúc trực tiếp mà còn nhờ sự quảng bá, cổ vũ của các phương tiện truyền thông: đài phát thanh, truyền hình, báo in và báo mạng. Tuy nhiên, các luồng thông tin tràn ngập cũng khiến con người dễ rơi vào tình trạng nhiễu loạn và gây ra không ít thiệt hại. Thông tin chính trị bất lợi đưa ra không đúng lúc có thể gây xáo trộn xã hội; các công ty có thể bị mất uy tín và lòng tin của nhà đầu tư và khách hàng, v.v… Chính vì thế, các tổ chức, cơ quan và doanh nghiệp rất cần sự can thiệp của hoạt động quản lý thông tin chuyên nghiệp. Đó cũng chính là cơ sở dẫn đến sự ra đời và phát triển ngành Quan hệ công chúng, hay còn gọi là PR (Public Relations). Trên thế giới, PR chuyên nghiệp xuất hiện từ đầu thế kỷ XX cùng với sự phát triển của Chủ nghĩa tư bản và nền kinh tế thị trường. Các chuyên gia PR là người chịu trách nhiệm quản lý mối quan hệ giữa tổ chức, doanh nghiệp và công chúng rộng rãi của tổ chức đó; tạo dựng, duy trì sự tín nhiệm và hiểu biết lẫn nhau; bảo vệ uy tín, phát triển thương hiệu cho cơ quan, tổ chức. Trải qua gần một thế kỷ phát triển, ngành PR ngày càng khẳng định vai trò thiết yếu trong xã hội và nền kinh tế hiện đại. PR hiện nay được coi là công cụ quan trọng để bảo vệ, duy trì và phát triển các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của các cơ quan, tổ chức.  Nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng năng động và nỗ lực không ngừng để phát triển cùng kinh tế thế giới. Hàng loạt công ty ra đời, thị trường chứng khóan hoạt động mạnh, giao dịch ngoại thương mở rộng. Đó là động lực thúc đẩy nhu cầu giao tiếp, thông tin của các cá nhân cũng như của doanh nghiệp, tổ chức. Nhu cầu về nghề PR chuyên nghiệp ở nước ta xuất hiện và song hành với sự phát triển của nền kinh tế-xã hội.  Trên thực tế, nghề PR đã du nhập vào Việt Nam từ khoảng những năm 90 của thế kỷ XX và hiện nay được xem là một trong những ngành nghề được ưa chuộng nhất bởi sự mới mẻ, năng động và thu nhập cao cho người theo nghề này. Tuy nhiên, cho đến nay, PR Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, mới chỉ tập trung ở một số mảng riêng lẻ như tổ chức sự kiện, quan hệ báo chí… Đặc biệt, nguồn nhân lực được đào tạo chuyên nghiệp về PR còn thiếu, phần lớn người làm PR đều xuất thân từ các ngành nghề khác như báo chí, kinh tế, ngoại ngữ… Kiến thức về PR được tích luỹ chủ yếu qua kinh nghiệm thu thập từ thực tế nên chưa đầy đủ và thống nhất. Sự thiếu hụt một hệ thống cơ sở lý luận khoa học, một khung pháp lý và nền tảng đạo đức đã khiến PR Việt Nam chưa có một nền tảng vững chắc, cũng như chưa có định hướng phát triển và hoạt động đúng đắn để được coi là một chuyên ngành thật sự… Trong khi một nền PR chuyên nghiệp chưa được hình thành thì đã xuất hiện những hiện tượng tiêu cực như PR “đen” tự tạo tai tiếng để được nổi tiếng, xây dựng quan hệ báo chí bằng cách mua chuộc các nhà báo…  Nước ta đang trong quá trình xây dựng hệ thống cung cấp thông tin minh bạch. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để kiểm soát và cung cấp thông tin cho dư luận một cách có hiệu quả và mang lại lợi ích cho tổ chức. Đã có nhiều trường hợp cán bộ lúng túng trong công tác quản lý truyền thông do chưa nghiên cứu, tìm hiểu, thích nghi với cách quản lý thông tin mới. Cuốn sách PR  Lý luận & Ứng dụng với hệ thống lý luận cùng các bài học ứng dụng thực tiễn giúp những người hoạt động trong lĩnh vực quản lý thông tin tác nghiệp hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của công tác truyền thông trong thời đại mới. Trong cuốn sách này, nhóm tác giả đã tổng hợp, phân tích và trình bày một hệ thống kiến thức học thuật cơ bản của lĩnh vực PR. Hệ thống kiến thức này được giới thiệu trong sáu chương: Chương 1: Đại cương về PR, tóm lược và giới thiệu những lý thuyết cơ bản về truyền thông giao tiếp – cốt lõi của PR; đưa ra các định nghĩa về PR, phân biệt PR với một số hình thức truyền thông liên quan như quảng cáo, dân vận, tuyên truyền và marketing; giới thiệu nguồn gốc và phác thảo lịch sử hình thành, phát triển của PR trên thế giới và ở Việt Nam; trình bày các học thuyết đạo đức và những vấn đề đạo đức cơ bản – cơ sở của đạo đức PR. Chương 2: Quản lý PR, phân tích chức năng quản lý của PR; làm thế nào quản lý truyền thông một cách chiến lược; kỹ năng truyền thông chiến lược; phương pháp lập kế hoạch truyền thông mang tính chiến lược; quản lý các vấn đề và rủi ro.  Chương 3: PR ứng dụng, giới thiệu các lĩnh vực PR ứng dụng tiêu biểu: trong chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ. Bên cạnh việc nêu bật tầm quan trọng của các hoạt động PR trong kinh doanh và các tổ chức phi chính phủ trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế, chương này còn phân tích vai trò và nhiệm vụ của các hoạt động PR chính phủ – phương tiện chính trị và quản lý để đạt được những mục đích khác nhau của chính phủ, là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý của chính phủ.  Chương 4: Hoạt động PR, cung cấp cái nhìn tổng quát và các đánh giá về vai trò, nhiệm vụ và nguyên tắc của PR trong quan hệ với báo chí, PR nội bộ, PR cộng đồng và PR vận động hành lang, đặc biệt mối quan hệ với báo chí là một phần quan trọng của hoạt động PR. Chương 5: Kỹ năng PR giới thiệu các kỹ năng tác nghiệp PR cơ bản: viết cho PR, giao tiếp, đàm phán, thuyết trình và trả lời phỏng vấn. Chương này cung cấp cho người làm PR chìa khóa để thực hiện truyền thông một cách rõ ràng, súc tích và cách thức để truyền tải thông điệp hiệu quả trên các phương tiện truyền thông. Chương 6: PR và những vấn đề pháp luật, giới thiệu khái quát một số vấn đề pháp luật liên quan đến hoạt động PR và đề cập tới sự cần thiết phải hiểu biết pháp luật của những người làm PR. Nhìn chung, kiến thức về PR trong các tài liệu nghiên cứu của Việt Nam còn rời rạc, ít ỏi, thiếu tính toàn diện và chưa đi sâu vào phần lý luận cơ bản. Trong khi đó, PR lại là một lĩnh vực liên ngành, rất cần sự tổng kết, hệ thống hóa kiến thức. Ngược lại, nguồn tài liệu PR của các học giả nước ngoài lại rất dồi dào, phong phú. Trải qua gần 100 năm phát triển, PR đã được đào sâu nghiên cứu cả trên lĩnh vực lý luận và thực hành, với sự tham gia của nhiều học giả tên tuổi. Tuy nhiên, việc sử dụng những kiến thức khoa học lý luận PR phong phú của nước ngoài cần phải có sự chọn lọc bởi giữa các quốc gia luôn có sự khác biệt về văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội… Chính vì vậy, rất cần có các nghiên cứu bổ sung về thực trạng hoạt động PR tại Việt Nam để tăng cường khả năng ứng dụng của PR trong thực tế nước ta.  Xuất phát từ nhận định về nhu cầu kiến thức PR đang tăng trong khi lượng kiến thức hiện có còn thiếu hụt, đặc biệt là về mặt cơ sở lý luận, cuốn sách cung cấp một hệ thống kiến thức tương đối khoa học và hoàn chỉnh, đặc biệt là những kiến thức mang tính cơ sở lý luận khoa học về lĩnh vực này. Đây là yếu tố không thể thiếu để xây dựng một chương trình đào tạo PR hoàn chỉnh nhằm cung cấp nguồn nhân lực PR chuyên nghiệp đáp ứng nhu cầu của xã hội; nâng PR lên vị trí là một ngành chuyên môn, một ngành khoa học, nhận được sự tôn trọng và đầu tư phát triển thích đáng của xã hội. Bên cạnh đó, kiến thức về PR cũng là nguồn bổ sung quan trọng cho các lĩnh vực liên quan như báo chí, marketing…  Nằm trong bộ sách về PR, hợp tác xuất bản giữa Khoa Quan hệ công chúng và Quảng cáo (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) với Công ty Cổ phần Sách Alpha, tiếp nối thành công của cuốn PR – Kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp (2007), PR  Lý luận & Ứng dụng là một trong số ít những tài liệu PR bằng tiếng Việt, do người Việt Nam biên soạn, là nghiên cứu đầu tiên với lượng kiến thức lý luận và thực tiễn cơ bản, tổng hợp về chuyên ngành này. Cuốn sách là nguồn tài liệu giảng dạy, tham khảo bổ ích cho các học viên, các nhà nghiên cứu chuyên sâu về PR và lĩnh vực liên quan, các nhà quản lý truyền thông, những người làm PR chuyên nghiệp, nhà hoạch định chính sách, nhà làm luật và tất cả những ai quan tâm đến chuyên ngành mới mẻ và cũng hết sức lý thú này ở Việt Nam. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này đến bạn đọc!  Nhóm tác giả  ***  Giao tiếp chính là cơ sở của các mối quan hệ giữa người với người. Từ lúc sinh ra cho đến khi kết thúc cuộc đời, con người không thể tồn tại như những cá thể riêng biệt mà luôn là một thành phần của gia đình, tổ chức, xã hội... Chúng ta cần sự hiểu biết, chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ, cộng tác của những người xung quanh về cả vật chất lẫn tinh thần để có thể tồn tại, phát triển và thành đạt. Để xây dựng, duy trì và phát triển những mối quan hệ này, chúng ta phải dựa vào các hoạt động giao tiếp. Giao tiếp bao gồm các hoạt động trao đổi thông tin giúp con người chia sẻ với nhau những suy nghĩ, tình cảm, hiểu biết, kinh nghiệm, vốn sống, tri thức… để tạo nên sự hiểu biết, thúc đẩy sự hợp tác với nhau, từ đó đạt thành công trong công việc và cuộc sống. Hoạt động giao tiếp diễn ra khắp nơi và liên tục, chiếm phần lớn thời gian và hoạt động của chúng ta. Người ta ước tính rằng các hoạt động giao tiếp chiếm đến 90% thời gian làm việc một ngày của một nhà quản lý cao cấp. Nói tóm lại, giao tiếp là một hoạt động cơ bản và cần thiết, một trong những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống con người, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Tymson và Lazar, hai nhà nghiên cứu truyền thông người Australia, đã định nghĩa hoạt động giao tiếp của con người như sau: Hoạt động giao tiếp của con người bao gồm hoạt động nói, nghe, nhìn, cảm nhận và phản ứng với nhau, những kinh nghiệm và môi trường của họ . Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, với sự ra đời của các tổ chức có quy mô và sức ảnh hưởng ngày càng lớn và có mối quan hệ chặt chẽ với xã hội, như các công ty sản xuất hàng hóa phục vụ người tiêu dùng, các tập đoàn kinh tế đa quốc gia, các cơ quan chính phủ, các đảng phái, các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng… thì nhu cầu giao tiếp giờ đây không chỉ dừng lại giữa các cá nhân. Các tổ chức cũng có nhu cầu giao tiếp với công chúng – những người, nhóm người mà tổ chức có ảnh hưởng và bản thân họ cũng tác động đến lợi ích, sự tồn vong của tổ chức. Để tồn tại và phát triển, tổ chức cần được công chúng biết đến, hiểu và ủng hộ. Công việc này phải được tiến hành thường xuyên, duy trì lâu dài. Do đó, tổ chức cần đến những người đại diện cho mình, chuyên làm công việc giao tiếp với công chúng – đó chính là người làm PR. Như vậy, người làm PR là người làm công việc giao tiếp chuyên nghiệp. Để đạt được những mục tiêu quan trọng nhất của PR là tạo sự hiểu biết lẫn nhau, tạo mối quan hệ giữa tổ chức và công chúng, người làm PR phải dựa vào các hoạt động giao tiếp chuyên nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau.  Tymson và Lazar còn định nghĩa: Giao tiếp là việc quản lý các thông điệp nhằm mục đích tạo ra sự hiểu biết. Các lý thuyết trước đây coi giao tiếp là một quy trình thẳng, nơi một thông điệp được chuyển thẳng từ người gửi đến người nhận mà không có sự thay đổi nào.  Ngày nay, lý thuyết giao tiếp hiện đại đã thừa nhận tầm quan trọng của thính giả: Thính giả đưa những mong muốn và định kiến của họ vào các hoạt động nghe, đọc, xem và không bao giờ chấp nhận hoàn toàn những gì mà người khác nói với họ . Công việc của truyền thông và PR là tạo ra sự chia sẻ kiến thức và hiểu biết, từ đó tạo điều kiện để những mối quan hệ giữa người làm PR và thính giả phát triển thuận lợi. Mỗi lĩnh vực đều có một hệ thống kiến thức làm nền tảng cho hoạt động. PR là một lĩnh vực mới và hiện nay vẫn còn đang trong giai đoạn phát triển hệ thống kiến thức nền tảng. Hệ thống này phần lớn được rút ra từ các lĩnh vực liên quan như truyền thông đại chúng, ngôn ngữ học, tâm lý học, xã hội học, marketing, quản lý, lý thuyết tổ chức và nghiên cứu văn hóa. Lý thuyết giao tiếp là một cơ sở logic bởi vì phần lớn công việc của người làm PR liên quan đến giao tiếp, dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp.  Những cơ sở lý thuyết này giúp người làm PR thiết kế và hoạch định các chiến dịch truyền thông hiệu quả, phân tích đánh giá hoạt động truyền thông, dự đoán khả năng thành công của các chương trình hoặc chiến dịch PR, tạo mối liên hệ giữa việc nghiên cứu chuyên ngành PR và các lĩnh vực truyền thông, quản lý khác, mở ra những cách tiếp cận khác nhau để chúng ta tiếp tục khám phá ý nghĩa và vai trò của PR trong xã hội. Việc sử dụng lý thuyết giao tiếp gắn liền với các nghiên cứu về truyền thông. Các nghiên cứu có nhiều lợi ích: giúp chúng ta hiểu được quá trình truyền thông, hiểu được tại sao một chương trình truyền thông thành công hay thất bại, khám phá nhiều yếu tố có liên quan với nhau tạo nên quá trình truyền thông và giúp những người làm PR xây dựng các chiến lược sử dụng truyền thông hiệu quả.  Để hoạt động PR hiệu quả, cần tìm hiểu ba khía cạnh cơ bản: quá trình thông tin cơ bản và những gì xảy ra ở mỗi bước của quá trình; hiểu được người nhận và quy trình người nhận phải trải qua khi trả lời một thông điệp; áp dụng kiến thức để xây dựng một chiến dịch PR.  Trong cuốn Lý thuyết toán học của giao tiếp xuất bản năm 1949, hai tác giả Shannon và Weaver đã chỉ ra những bước cơ bản của quá trình giao tiếp, bao gồm: nguồn phát, mã hóa, thông điệp, kênh, nhiễu, giải mã, đối tượng tiếp nhận và phản hồi. Sau đó, ba nhà nghiên cứu Cutlip, Center và Broom tiếp tục bổ sung để làm sáng tỏ cơ chế của quá trình giao tiếp. Mô hình truyền thông hay quá trình giao tiếp có thể được mô tả như sau: Nguồn phát (chủ thể hoặc người gửi) sẽ gửi đi các thông điệp đã được mã hóa đến đối tượng tiếp nhận (người nhận) thông qua các phương tiện truyền thông. Người nhận giải mã các thông điệp này và có phản hồi đối với người gửi. Quá trình gửi và nhận thông điệp có thể bị cản trở hoặc ảnh hưởng bởi các yếu tố gây nhiễu. Ngoài ra, còn phải kể đến yếu tố khung nhận thức chung cũng ảnh hưởng tới chất lượng của quá trình giao tiếp. Nguồn phát (Người gửi)  Những người làm PR thường là người tạo ra các thông điệp và mục tiêu đầu tiên bạn muốn hoạt động giao tiếp phải rõ ràng. Có phải bạn đang định giải thích cho công chúng về một vấn đề, hay cố gắng thuyết phục đối tượng về một quan điểm nào đó và vận động sự ủng hộ, hoặc chỉ đơn giản là thiết lập một mối liên hệ như là bước đầu tiên cho các hoạt động giao tiếp khác nhau? Mục tiêu của người làm PR sẽ định hướng toàn bộ quá trình thông tin. Ví dụ, các chiến dịch PR có thể dựa vào Lý thuyết về Các tầng hiệu quả. Thuyết này xác định những loại hiệu quả khác nhau có thể đạt được, bao gồm việc hình thành, tạo lập thông điệp; phổ biến thông điệp; tiếp nhận thông điệp; hiểu thông điệp; thay đổi hoặc củng cố thái độ; thay đổi hoặc củng cố hành vi. Trong một chương trình PR cụ thể, người làm PR xác định mình muốn đạt đến mức độ hiệu quả nào để thiết kế hoạt động truyền thông phù hợp.    Mời các bạn đón đọc PR Lý Luận Và Ứng Dụng của tác giảe Đinh Thị Thúy Hằng.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đặt Tên Thương Hiệu Chuyên Nghiệp
Đại thi hào Shakespeare đã từng viết “hoa hồng dù gọi bằng tên gọi nào thì vẫn đẹp và ngát hương”. Thế nhưng, trong thực tế quan niệm “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” đã không còn phản ánh đúng hiện thực thế giới mà chúng ta đang sống. Ngày nay, chúng ta có quá nhiều sự lựa chọn để thỏa mãn một nhu cầu. Hãy tưởng tượng khi nước vào một siêu thị hàng hóa hiện đại, bạn có thể bắt gặp tới 17.000 mặt hàng khác nhau, cũng có nghĩa bạn phải đối mặt với 17.000 cái tên khác. Có bao nhiêu cái tên bạn có thể nhớ được? Trong thực tế, mỗi cái tên đều phải tìm cách để được lưu lại trong bộ nhớ của khách hàng. Để làm được điều đó, doanh nghiệp cần rất nhiều nỗ lực khác nhau. Nhưng những nỗ lực đó sẽ dễ dàng hơn rất nhiều nếu tên thương hiệu dễ nhớ và hấp dẫn. Ngược lại, nỗ lực để khách hàng nhớ đến thương hiệu của mình sẽ vô cùng khó khăn nếu doanh nghiệp bạn đang có một cái tên không thể đọc được hoặc mang ý nghĩa tiêu cực. Thương hiệu ngày càng trở thành tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp. Để trở nên có giá trị bản thân thương hiệu phải luôn là cầu nối liên kết giữa những gì nó đại diện và khách hàng. Thương hiệu cần phải dễ nhớ, dễ nhận biết, gây được sự quan tâm, khơi gợi cảm xúc ... bản thân tên gọi và hệ thống nhận diện thương hiệu đã làm lên phần lớn bản sắc thương hiệu đó. Cuốn sách này bàn về việc đặt tên thương hiệu. Nó giúp hình dung chính xác về vai trò và tầm quan trọng của việc có một tên thương hiệu hấp dẫn, cung cấp các kiến thức, kinh nghiệm, quy trình, công cụ giúp cho việc đặt tên của doanh nghiệp trở nên dễ dàng và hiệu quả. Cuốn sách được biên soạn trên cơ sở nghiên cứu về quá trình sáng tạo thương hiệu trong và ngoài nước, các kinh nghiệm đã được đúc kết của thế giới cũng như những kinh nghiệm, tình huống thực tế trong quá trình thực hiện các dự án sáng tạo thương hiệu của tác giả. Chúng tôi trân trọng mọi ý kiến đóng góp để cuốn sách được hoàn thiện hơn. Trân trọng, Tác giả Nguyễn Tuấn Hùng, Chuyên gia tư vấn thương hiệu Công ty TNHH Tư vấn và Sáng tạo Thương hiệu Sao Kim *** THƯƠNG HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG HIỆU Nhiều người trong chúng ta có thể dễ bị nhầm lẫn giữa thương hiệu và tên thương hiệu, ngay cả những người làm marketing chuyên nghiệp đôi khi cũng khó phân biệt điều này. Khi chúng ta nhắc đến “Coca-cola” chúng ta nghĩ rằng cái tên đó chính là thương hiệu Coca-cola. Vậy giữa thương hiệu và cái tên có sự phân biệt như thế nào? • Một cách ngắn gọn, thương hiệu là tập hợp những trải nghiệm và mong muốn gắn với một sản phẩm, một doanh nghiệp hay một tổ chức trong tâm trí của khách hàng. Như vậy khái niệm này cho thấy thương hiệu không phải là một thứ hữu hình mà nó nằm trong tâm trí khách hàng, nó gắn bó với những trải nghiệm, cảm xúc ... những thứ giúp người ta liên tưởng đến một sản phẩm hay tổ chức. • Còn tên thương hiệu thì sao? Rất đơn giản nó chính là ... một cái tên. Tức là được cấu tạo bởi các ký tự, cách phát âm, cách viết ... Tên thương hiệu, cùng với logo, slogan, nhận diện thương hiệu là những thành phần cơ bản giúp khách hàng tạo được liên tưởng về thương hiệu. Tên thương hiệu là một cầu nối giữa thương hiệu và tâm trí khách hàng. Để hình dung rõ điều này, tôi sẽ lấy Apple làm một ví dụ. Khi nhắc đến thương hiệu Apple chúng ta nghĩ đến điều gì? Có phải đó là Ipod, Iphone, Ipad, Mac hay Macbook ... những sản phẩm công nghệ hoàn hảo và luôn dẫn đầu xu thế thời trang? Một số khác có lẽ nghĩ đến Steve Job – CEO đầy sáng tạo, thông minh nhưng là người cứng rắn và cầu toàn. Tất cả những hình dung đó của chúng ta giúp tạo nên thương hiệu Apple.   *** Cuốn Ebook đặt tên thương hiệu chuyên nghiệp với nội dung ngắn gọn gần 70 trang sẽ cung cấp cho bạn các kiến thức, kinh nghiệm và công cụ tốt nhất để đặt tên thương hiệu, tên công ty một cách hấp dẫn và hiệu quả. Ebook do Tác giả Nguyễn Tuấn Hùng, Công ty Tư vấn và Sáng tạo thương hiệu Sao Kim biên soạn và giới thiệu. Tên thương hiệu là một hạng mục bạn cần làm đúng ngay từ đầu. Hãy đầu tư ở giai đoạn đầu tiên hơn là bạn phải chỉnh sửa sau khi đã đi vào hoạt động. Thời đại kinh doanh với tốc độ vũ bão và những kế hoạch tấn công nhanh chóng của các đối thủ khi bạn mắc sai lầm, bạn dễ dàng trở thành người theo sau nếu như không có những bước đi đầu tiên chuẩn xác. Đây là lý do bạn cần phải có một cái tên chuyên nghiệp ngay trước khi bạn đăng ký kinh doanh.   Cái tên có thể làm nên một thương hiệu mạnh hoặc có thể làm tiêu tan doanh nghiệp bạn. Do vậy mà sở hữu một tên thương hiệu hấp dẫn chính là một tài sản to lớn giúp bạn thực hiện các nỗ lực marketing một cách tự động (chỉ thông qua cái tên!).  Trong lần trước, tôi đã chia sẻ chủ đề 7 cách đặt tên công ty phổ biến nhất, để tiếp tục loạt bài này, hôm nay tôi xin được chia sẻ 10 kiểu đặt tên thương hiệu phổ biến, ví dụ, ưu và nhược điểm của từng kiểu đặt tên.  Lựa chọn tên thương hiệu hấp dẫn không chỉ giúp cho các nỗ lực truyền thông của bạn dễ dàng và hiệu quả hơn mà hơn thế nữa một tên thương hiệu hấp dẫn cũng sẽ đóng góp không nhỏ để biến thương hiệu thành một tài sản có giá trị Mời các bạn đón đọc Đặt Tên Thương Hiệu Chuyên Nghiệp của tác giả Nguyễn Tuấn Hùng.
50 Công Ty Làm Thay Đổi Thế Giới
Một quyển sách tuyệt vời dành cho tất cả những ai quan tâm đến những thay đổi sâu sắc mà các công ty hàng đầu thế giới đã tạo ra đối với cuộc sống và diện mạo hành tinh chúng ta. 50 Công ty làm thay đổi thế giới chỉ ra những bí quyết mà các công ty lớn nhất mọi thời đại đã từng sử dụng để đi đến thành công. Đây là những công ty có bước đi đột phá, tạo ra xu hướng mới mẻ qua việc áp dụng các phương pháp quản trị kinh doanh hiệu quả và luôn kích thích sự sáng tạo. 50 Công ty làm thay đổi thế giới là một quyển sách thực sự giá trị cho những người đang và sẽ giữ vị trí điều hành doanh nghiệp vì những bài học quý giá mà nó chứa đựng bên trong. Cuốn sách cũng mang lại rất nhiều điều bổ ích và thú vị cho những ai ham mê nghiên cứu lịch sử và yêu thích những câu chuyện đầy cảm hứng về tài năng, sự sáng tạo và tinh thần làm việc hiệu quả của những con người kiệt xuất. Làm thế nào 50 công ty này có thể thay đổi thế giới? Bạn sẽ được cung cấp thông tin về cấu trúc tổng thể của ngành kinh doanh cùng với cấu trúc xã hội trong vài thập kỷ gần đây để tìm ra câu trả lời. Bạn sẽ gặp gỡ những con người có tầm nhìn rộng, ý chí mạnh mẽ, lòng can đảm không giới hạn và sự tận tâm tuyệt đối trong công việc. Họ là những người luôn nỗ lực hết mình để tìm ra ý tưởng mới và dẫn dắt công ty của họ đi đến thành công. Chính xác hơn, họ chính là nguồn sức mạnh thực sự làm thay đổi thế giới mà chúng ta đang sống. ***   Mời các bạn đón đọc 50 Công Ty Làm Thay Đổi Thế Giới của tác giả Howard Rothman.
Bí Quyết Kinh Doanh Của Người Do Thái
Có lẽ bạn đã từng nghe nói: khi một ông chủ ngân hàng lớn người Do Thái “ho hắng” một tiếng, toàn bộ các ngân hàng trên thế giới sẽ bị “cảm cúm” ngay; hay: năm tập đoàn tài chính lớn của người Do Thái liên hợp lại có thể khống chế toàn bộ thị trường vàng thế giới. Không phải vô cớ mà người Do Thái được ca tụng như vậy. Hơn 2000 năm sống phiêu bạt khắp nơi, bị xua đuổi và chà đạp, người Do Thái đã tích lũy cho mình rất nhiều hiểu biết về thương trường thế giới. Đó là viên đá đầu tiên đặt nền tảng cho những thành công rực rỡ sau này của họ. Dân tộc Do Thái nổi tiếng thế giới với tài kinh doanh độc đáo của mình. Họ luôn tuân thủ pháp luật nhưng lại sẵn sàng lách luật, luôn giữ chữ tín và đề cao trí tuệ trong kinh doanh... Tất cả như được hệ thống hóa thành bí quyết giúp người Do Thái được đánh giá là “thương nhân số một thế giới”. *** Người Do Thái luôn được đánh giá cao về tư duy làm giàu độc đáo. Họ sớm hình thành những "quy tắc ngầm" trong kinh doanh cũng như lối sống, truyền qua nhiều thế hệ. Dưới đây là 12 nguyên tắc cốt lõi về việc kiếm tiền của họ. 1. Phục vụ phụ nữ Để kiếm tiền, mục tiêu đầu tiên của người Do Thái nhắm tới là phụ nữ, bởi đây là "tay hòm chìa khóa" trong gia đình. Từ trước tới nay, nhiệm vụ của nam giới là kiếm tiền, mà kiếm tiền không có nghĩa là sẽ giữ tiền trong tay. Quyền chi tiền phần lớn vẫn do phụ nữ quyết định. Phụ nữ không chỉ mua sắm kim cương, trang sức, vàng bạc để tích luỹ, họ còn là người mua sắm các vật dụng thường ngày hay lo toan các công việc gia đình. Nhắm trúng đối tượng này, tiền của nhất định sẽ tới. 2. Đi khắp nơi kiếm tiền Đi mọi nơi kiếm tiền là đặc điểm tự nhiên của người Do Thái. Những thương nhân Do Thái ít có thị trường cố định mà mở rộng khắp nơi khi bản thân đủ tiềm lực. Họ không ngại khó, ngại khổ khi đi từ Đông sang Tây, xuống Nam ngược Bắc để kiếm tiền cũng như mở rộng thị trường. Ở đâu họ cũng thực hiện các giao dịch lớn nhỏ. Bởi vậy để làm giàu, không thể ngồi một chỗ mà phải chạy khắp nơi, đúng như câu nói ''làm ăn tứ phương, kiếm tiền tứ hướng''. Người Do Thái vốn nổi tiếng thế giới về những quy tắc làm giàu độc đáo. Ảnh minh họa: qq Người Do Thái vốn nổi tiếng thế giới về những quy tắc làm giàu độc đáo. Ảnh minh họa: qq 3. Quy tắc 78/22 Người Do Thái chỉ ra, trong xã hội, tỷ lệ người bình thường và người có tiền khoảng 78/22, nghĩa là 22% người có tiền chiếm tới 78% khối lượng tài sản. Bởi vậy, chỉ cần biết kiếm tiền từ những người có tiền. Quy tắc 78/22 còn là một quy luật tự nhiên, ví dụ 22% các ngành như quần áo, ăn uống, xây dựng, đồ trang sức, y tế... về cơ bản chiếm khoảng 78% phí tiêu dùng sinh hoạt. Vì thế, các lĩnh vực kinh doanh truyền thống của người Do Thái đa số đều tập trung vào ăn uống, quần áo... đặc biệt là các sản phẩm dành cho phụ nữ và trẻ em. 4. Phục vụ cái miệng Người Do Thái cho rằng kinh doanh nên nhắm vào nhu cầu ăn uống của mọi người, bởi ăn là một trong những nhu cầu cơ bản nhất. Thu nhập bình quân đầu người tăng, người tiêu dùng sẽ khắt khe và dành nhiều thời gian hơn trong việc làm hài lòng khẩu vị của mình. Vì vậy, kinh doanh ăn uống không bao giờ lỗi thời. 5. Sử dụng trí tuệ để kiếm tiền Người Do Thái luôn cho rằng, sự thông minh có thể kiếm ra tiền mới là thông minh thực sự. Theo cách này, tiền đã trở thành thước đo của trí tuệ, chỉ khi trí tuệ được chuyển hóa thành tiền thì mới là trí tuệ sống. Bởi vậy, người kinh doanh cần dùng trí tuệ để suy nghĩ và phân tích hành vi người tiêu dùng. Chỉ khi hiểu được nhu cầu của khách hàng, mới có thể làm ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu và có thể tồn tại trên thị trường. 6. Tăng doanh thu quan trọng hơn tiết kiệm Những thương nhân Do Thái có một niềm tin không thể lay chuyển: Của cải là do bỏ mồ hôi công sức tạo ra, chứ không phải là tiết kiệm, tích góp mà có. Vì thế, muốn thu được lợi nhuận cao, phải sẵn sàng đầu tư mạnh mẽ. 7. Trân trọng thời gian như vàng bạc Trong châm ngôn kinh doanh của người Do Thái có câu: "Đừng đánh cắp thời gian". Nội dung không chỉ liên quan đến kiếm tiền mà còn nhắc nhở cách hành xử đúng đắn khi kinh doanh. Ở một tầng ý nghĩa khác, câu nói này khuyên bạn nắm chắc từng phút từng giây mới có thể giành được cơ hội. Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, ai chậm chân người đó sẽ mất cơ hội. Để thành công, luôn phải đi trước một bước, chủ động và không ngừng đổi mới để nắm bắt được cơ hội đến với mình. 8. Tận dụng thông tin nắm bắt cơ hội Người Do Thái vốn nổi tiếng trong việc thu thập thông tin trong kinh doanh. Đây được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Một khi có trong tay thông tin về cơ hội kiếm tiền, họ sẽ không bỏ lỡ. Ví dụ trong một trung tâm thương mại khi các doanh nghiệp có cơ hội ngang nhau, với cùng điều kiện như nhau, nếu ai biết nắm bắt cơ hội người đó sẽ chiến thắng. Điều này cũng có nghĩa nên chủ động tìm hiểu và phân tích thị trường, không nên ỷ lại, rơi vào thế bị động. 9. Đặt uy tín lên hàng đầu Trong kinh doanh, người Do Thái nổi tiếng biết trọng chữ tín. Một khi đã ký hợp đồng, dù việc gì xảy ra, họ quyết không nuốt lời. Họ cũng luôn tuân thủ quy luật của cuộc chơi, thiết lập mối quan hệ cộng sự đáng tin cậy với đối tác, dùng sự chân thành lay động trái tim khách hàng khi muốn công việc thuận lợi, suôn sẻ. 10. Đứng ở trên cao mới nhìn thấy được xa Người Do Thái cho rằng trong kinh doanh nên "cố gắng nhìn thêm vài bước", sự phát triển trong tương lai mà bạn có thể nghĩ đến là bao nhiêu, thì thành công sẽ có được bấy nhiêu. "Chân không thể chạm đến, thì mắt phải thấy được. Mắt không thể thấy được, thì tim phải cảm nhận được." Dù vậy làm gì, cũng phải có những bước đi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Bước trước một bước, mới có thể dẫn dắt và tạo ra nhu cầu của thị trường. 11. Phối hợp tốt các nguồn lực Nhà kinh tế học người Do Thái William Rigson đã nói, bạn có thể vay mọi thứ từ tiền, tài năng, công nghệ cho đến tri thức. Thế giới này đã chuẩn bị tất cả các nguồn lực bạn cần, tất cả những gì bạn phải làm là thu thập và sử dụng trí tuệ để kết hợp chúng và tạo ra sản phẩm của riêng mình. 12. Đàm phán tạo ra giá trị Một câu chuyện kinh điển được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng người Do Thái: Có người cho hai đứa trẻ một quả cam, vì chia chác mà chúng cãi nhau. Thấy vậy người cho đề xuất, bổ đôi cho mỗi đứa một nửa. Đứa trẻ thứ nhất về nhà, vứt các múi cam đi, đem vỏ nghiền nát rồi trộn vào bột mì nướng bánh ăn. Đứa trẻ còn lại thì lấy múi cam ép thành nước uống, vứt vỏ vào thùng rác. Mặc dù hai đứa trẻ đều có nửa quả cam, nhưng chúng đã không tận dụng hết nguyên liệu của mình nên không đạt được lợi ích lớn nhất. Trong kinh doanh, phải đối mặt với rất nhiều cuộc đàm phán. Lúc này, nên tăng cường giao tiếp để gây dựng thiện cảm với đối tác, và cùng nhau làm việc để ra được kết quả đôi bên cùng có lợi. *** Năm 1997, George Soros đã khiến cuộc khủng hoảng tiền tệ bùng phát tại Đông Nam Á, thu vào cho mình những khoản tiền khổng lồ. George Soros trở thành Thượng đế của chính mình, nhưng lại là kẻ thù của các quốc gia Đông Nam Á. Ông là một người Mỹ gốc Do Thái. Có thể nói, Do Thái là một trong những dân tộc thông minh nhất trên thế giới. Họ đã cống hiến cho nhân loại những bộ óc vĩ đại nhất trong các lĩnh vực từ khoa học xã hội cho đến khoa học tự nhiên như Karl Marx, Einstein... Do Thái còn là dân tộc giàu có nhất trên thế giới, trong đó các gương mặt tiêu biểu như là George Soros, Warren Buffett... Từ những người nắm giữ bánh lái con thuyền kinh tế Mỹ như Ellen, Greenspan, Morgan, Rockefeller, Michael Hammer cho đến những người hoạt động trong lĩnh vực giải trí như Reuters, Pilates, anh em nhà Warner... đều tài ba mưu lược hơn người. Chẳng lạ khi có người đã nói một cách châm biếm: “Ba thương nhân Do Thải hắt hơi trong nhà, hệ thống ngàn hàng trên toàn thế giới đều sẽ bị cảm dây chuyền; năm thương nhân Do Thái kết hợp với nhau, có thể khống chế toàn bộ thị trường vàng bạc thế giới”. Có thể thấy, thành công của người Do Thái có sức ảnh hưởng vô cùng lớn không chỉ với nền kinh tế mà với cả nền chính trị thế giới trong thời đại ngày nay. Dân tộc Do Thái vốn có những truyền thống ưu việt như trọng chữ tín, quý trọng thời gian, có cái nhìn thoáng về tiền bạc... Bên cạnh đó, còn phải kể đến những ảnh hưởng từ lịch sử đau thương của một dân tộc thần thánh đã giúp người Do Thái biết nhiều về thị trường thế giới, cũng chính từ đó mà họ đã bắt đầu theo đuổi hoạt động đầu cơ và cho vay. Tất cả những yếu tố trên đã giúp thương nhân Do Thái trở thành “thương nhân hàng đầu thế giới”. Nhưng điều quan trọng hơn cả là dân tộc Do Thái luôn không ngừng học tập, không ngừng sáng tạo. Dùng trí tuệ tạo nên của cải chính là đặc trưng lớn nhất của thương nhân Do Thái. Họ chính là tấm gương sáng đáng để chúng ta noi theo. Mời các bạn đón đọc Bí Quyết Kinh Doanh Của Người Do Thái của tác giả Tri Thức Việt.
Sức Mạnh Của Sự Khích Lệ
   Điều gì khiến ta quan tâm nhiều nhất trong cuộc sống, công việc và những mối quan hệ với người khác? Chúng ta luôn mong muốn có được những kết quả tốt nhất, thế nhưng, chúng ta lại thường có thói quen chỉ chú ý đến những khuyết điểm hơn là ưu điểm và mặt tích cực. Và chúng ta cũng có khuynh hướng chỉ trích, phê bình hơn là động viên, khích lệ. Nếu thế, những mối quan hệ của chúng ta sẽ như thế nào? Chắc chắn sẽ trở nên xấu đi!        Trong những lúc chúng ta phải đối mặt với thất bại, lo lắng, bế tắc trong công việc, cuộc sống thì chính sự khích lệ, cảm thông sẽ là nguồn động viên lớn lao tiếp thêm nhiệt tình để chúng ta vượt qua những khó khăn mà tiếp tục theo đuổi mục tiêu. Tiến sĩ Ken Blanchard đã rút ra được kinh nghiệm quí báu đó khi làm việc với những người huấn luyện cá voi ở Công viên Thế giới Đại dương (Orlando, Florida) để rồi chia sẻ với bạn đọc trong cuốn sách nổi tiếng đầy cảm hứng và thú vị Whale Done! - Sức mạnh của sự Khích lệ.       Trong tác phẩm Whale Done! - Sức mạnh của sự Khích lệ, Ken Blanchard đã đưa ra phương pháp khích lệ những mặt tích cực để định hướng những hành vi chưa tốt của người khác. Để tăng hiệu quả công việc cũng như cải thiện các mối quan hệ, thay vì tạo ra những tình huống tiêu cực làm tinh thần người khác suy giảm, ông đã phát hiện ra phương pháp khích lệ, động viên con người phát huy khả năng, ý chí và sự tích cực trong ngôn từ, thái độ, hành vi.         Bằng những nghiên cứu, trải nghiệm và quá trình thâm nhập thực tế trong suốt mười năm, tác giả đã đúc kết nên những kinh nghiệm quý báu và hữu ích: “Nếu ta mở lòng với mọi người bằng một thái độ sống tích cực thì ta sẽ nhận lại được những kết quả tích cực”, “Hãy nghĩ và đối xử với người khác theo cách mình muốn họ trở thành” v.v... ***  Thông qua câu chuyên thú vị có thật vê viêc huấn luyền cá voi, cuốn sách của Tiến sĩ Ken Blanchard có giá trị như một bài học sâu sắc và là bí quyết để thành công trong công vỉêc và các mối quan hê gia đình. Khi bạn đối xử với một người theo cách như thế nào thì họ sẽ có khuynh hướng trở thành người như vậy.    Sự khích lê và công nhận những mặt tích cực của người khác sẽ là nguồn động viên to lớn có sức mạnh diệu kỳ hơn là chỉ để ý vào những sai sót, lỗi lầm... *** REVIEW SÁCH Review sách Sức mạnh của sự khích lệ - Ken Blanchard, Ph.D Whale done! Sức mạnh của sự khích lệ đem đến một góc nhìn mới về giao tiếp. Thông qua câu chuyện thú vị có thật về việc huấn luyện cá voi, cuốn sách Sức mạnh của sự khích lệ có giá trị như một bài học sâu sắc và là bí quyết để thành công trong công việc và các mối quan hệ gia đình. Khi bạn đối xử với một người theo cách như thế nào thì họ sẽ có khuynh hướng trở thành người như vậy. *** Vài nét về Ken Blanchard Ken Blanchard là người sáng lập và là tổng giám đốc của Ken Blanchard Companies. Ông là một trong những tác giả, diễn giả chuyên nghiên cứu về thái độ sống của con người, đồng thời là nhà tư vấn tâm lý - quản trị kinh doanh hàng đầu thế giới. Những ý niệm sâu sắc, khác biệt của Ken Blanchard đã tạo ra ảnh hưởng rất lớn trong lĩnh vực tư vấn và quản lý. Ông là tác giả của hơn 30 cuốn sách thuộc loại bán chạy. Những quyển sách của ông đã bán trên 12 triệu bản và được dịch ra hơn 25 ngôn ngữ, phần lớn trong số đó đã trở thành sách gối đầu của bạn đọc trên khắp thế giới. Bạn đọc có thể tham khảo thêm các cuốn sách của Ken Blanchard: Lãnh đạo phục vụ, Vị giám đốc một phút,… Về cuốn sách Whale done! Sức mạnh của sự khích lệ Ken Blanchard đã đưa ra phương pháp khích lệ những mặt tích cực để định hướng những hành vi chưa tốt của người khác. Để tăng hiệu quả công việc cũng như cải thiện các mối quan hệ, thay vì tạo ra những tình huống tiêu cực làm tinh thần người khác suy giảm, ông đã phát hiện ra phương pháp khích lệ và sự tích cực trong ngôn từ, thái độ, hành vi. Bằng những nghiên cứu, trải nghiệm và quá trình thâm nhập thực tế trong suốt mười năm, tác giả đã đúc kết nên những kinh nghiệm quý báu và hữu ích: “Nếu ta mở lòng với mọi người bằng một thái độ sống tích cực thì ta sẽ nhận lại được những kết quả tích cực”, “Hãy nghĩ và đối xử với người khác theo cách mình muốn họ trở thành” Cảm nhận về sách Cảm xúc là thứ khó hiểu và khó kiểm soát nhất và mỗi một lời nói của bạn khi giao tiếp có thể khiến đối phương bị ảnh hưởng tiêu cực và ngược lại là những lời động viên, khích lệ sẽ tiếp thêm động lực để họ có thể sửa chữa sai lầm hay phát triển bản thân tốt hơn nữa. Phản hồi Khích lệ bao gồm 4 bước sau đây: Khích lệ kịp thời. Hãy phân tích cụ thể về những gì người khác thực hiện đúng hay gần đúng. Hãy nói ra những cảm xúc tích cực mà mình cảm nhận được về những gì người khác thực hiện đúng. Khuyến khích, động viên họ tiếp tục thực hiện tốt như thế. Hãy động viên, khích lệ người khác theo cách họ mong đợi, chứ không phải theo cách chúng ta muốn Chúng ta cần xây dựng lòng tin và chỉ nên tập trung vào những khía cạnh tích cực Những hành động tích cực luôn bắt nguồn từ những suy nghĩ tốt đẹp, tác động tích cực. Con người có dũng khí để chinh phục mọi thử thách, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc bởi chúng ta có niềm tin mãnh liệt vào hành động của chính mình. Hãy chú ý đến những khía cạnh tích cực, dành tặng những lời khuyến khích, động viên đến những người xung quanh bạn để họ luôn có động lực để hoàn thành những mong muốn của mình. Hãy động viên, khích lệ người khác theo cách họ mong đợi, chứ không phải theo cách chúng ta muốn “Nếu ta mở lòng với mọi người bằng một thái độ sống tích cực thì ta sẽ nhận được những kết quả tích cực” Hãy để việc cổ vũ, động viên mọi người đến từ sự tôn trọng và thấu hiểu đối phương của bạn. Mở lòng hơn để khích lệ họ theo cách họ mong đợi chứ đừng đặt nặng suy nghĩ, lối sống áp đặt của bạn lên suy nghĩ của người khác. Niềm tin của mỗi người một khác, giúp họ duy trì ngọn lửa bên trong để luôn tỏa sáng là một thái độ sống đúng đắn bạn có thể trao đến mọi người. Tôn trọng cách suy nghĩ, quy tắc sống của mọi người là điều căn bản đầu tiên bạn có thể làm nếu muốn động viên họ. Phản hồi chuyển hướng Mô tả sai phạm một cách rõ ràng ngay khi nó vừa xảy ra, đồng thời tránh không đổ lỗi cho người khác. Chỉ ra những tác động tiêu cực của sai phạm đó. Nếu lỗi mà nhân viên của bạn gây ra là do thiếu thông tin, hãy nhận lỗi cùng họ vì đã không hướng dẫn công việc rõ ràng từ đầu. Hãy giải thích lại công việc cần thực hiện thật chi tiết và kiểm tra xem người nghe có hiểu mọi điều không. Hãy tỏ ra và nói cho người đó biết bạn vẫn luôn tin tưởng vào anh ta. Phản hồi chuyển hướng mang những thông điệp đến nhà lãnh đạo. Thay đổi cách chúng ta trình bày, phân tích mọi chuyện theo hướng tích cực cũng khiến nhân viên sẽ cảm thấy nhẹ nhàng, có động lực sửa chữa. Mọi sự im lặng, khiển trách khiến đối phương bẽ mặt đều gây ra cảm xúc tiêu cực, ảnh hưởng đến lòng tự trọng của người khác. Tùy vào mỗi tình huống mà chúng ta có thể làm dịu đi những lời nói tiêu cực, sai phạm từ mọi người. Niềm tin lẫn nhau và thái độ làm việc chuyên nghiệp giúp bạn kết nối dễ dàng hơn với đồng nghiệp. Hãy luôn quan tâm và động viên người khác, ngay cả khi mọi chuyện vẫn đang tốt đẹp! Bởi vì chỉ khi người khác mắc sai lầm, khó khăn chúng ta mới quan tâm đến họ hơn nhưng hãy thể hiện sự quan tâm, khích lệ họ ngay cả những lúc cuộc sống vẫn đang diễn ra suôn sẻ. Nguồn năng lượng sống tốt đẹp cần được chúng ta thúc đẩy mỗi ngày chứ không phải ở một dịp đặc biệt hay cụ thể nào cả. “Sự quan tâm cũng giống như tia nắng mặt trời chiếu rọi lên trái đất. Mặt trời chiếu sáng nơi đâu, sự sống nơi đó sẽ sinh sôi, phát triển”. Những câu chuyện, bài học về cách đối nhân xử thế luôn là công cụ để chúng ta hoàn thiện bản thân mỗi ngày. Thêm lời khích lệ vào sổ tay tích cực để luôn giữ năng lượng thúc đẩy chính mình cùng những người xung quanh tiến về phía trước nhé.   Mời các bạn đón đọc Sức Mạnh Của Sự Khích Lệ của tác giả Ken Blanchard, Ph.D & Liên Nhu (dịch).