Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bên Kia Mây Trời Là Nơi Hẹn Ước

Tôi và cậu, đôi bạn thân rất thân, niềm thân ái thắm thiết bền lâu. Hai đứa hiểu nhau mà chẳng cần nói trọn một câu. Có chung nhau những sở thích vô cùng khác lạ. Rồi tình thân tiêu tan sau một ngày mùa hạ, khi cô ấy đến rồi đi không để lại lời nào. Giữa biển người mênh mông, Takuya và Hiroki trở nên gắn kết nhờ có chung những kĩ năng và sở thích khác hẳn cộng đồng. Nghĩ nhiều, làm nhiều, nói ít… Mấy năm thân thiết của hai cậu được ghi dấu bằng những lúc âm thầm đứng cạnh nhau trên sân ga đợi tàu đi học, âm thầm cùng chế tác chiếc máy bay chở ước vọng tương lai, âm thầm sẻ chia những tật xấu phải che mắt người ngoài, âm thầm cảm nhận nét đẹp của một cô gái, và âm thầm cả khi phát hiện ra nhau lại tiếp tục chung sở thích về một người. Người ấy không chỉ gây xáo trộn tâm tư, mà có lẽ còn sẽ gây chia rẽ tình bạn thân thiết của hai cậu… Trên vụn nắng lấp lánh mặt ao xanh, trong tiếng vĩ cầm réo rắt, tơ lòng mong manh của một cô bé và hai cậu bé đã lặng lẽ dệt nên những canh vải vô cùng phức tạp, không thể gỡ ra chỉ bằng cách đơn giản là quyết định ai ở bên ai. *** Trong lịch sử, nước Nhật chưa bao giờ rơi vào cảnh bị chia cắt hai miền. Thế nhưng, với tài năng và trí tưởng tượng phong phú, Kano Arata đã tạo nên một câu chuyện đầy cảm động, chân thực về nỗi đau chia cắt ấy trong 'Bên kia mây trời là nơi hẹn ước'. Một câu chuyện hư cấu đầy chân thật Light novel Bên kia mây trời là nơi hẹn ước lấy bối cảnh Nhật Bản hư cấu, nơi bị chia cắt hai miền Nam – Bắc và phải chịu sự thao túng từ các cường quốc khác. Sự đấu đá giữa Mĩ và Liên Bang, hai thế lực đã chia cắt nước Nhật, trở thành lý do chính để phe Liên Bang (chiếm đóng các đảo phía Bắc) cho phép nhà khoa học Tsukinoe Ekusun xây dựng lên ngọn tháp cao kỳ lạ. Trong bối cảnh loạn lạc vì những phe phái, mâu thuẫn như vậy, bộ ba người bạn trẻ  Hiroki, Sayuri và Takuya xuất hiện mang theo sự trong trẻo, hồn nhiên. Hiroki và Sayuri hạnh ngộ trên chuyến tàu hỏa, họ cùng chia sẻ với Takuya sự thích thú với tòa tháp của Liên Bang. Ba người bạn cùng hẹn rằng sẽ có một ngày nào đấy cùng bay đến ngọn tháp trên chiếc máy bay Velaciela (đôi cánh trắng) mà Takuya và Hiroki chế tạo. Tuy nhiên, lời hứa đó không thể thực hiện vì Sayuri đã mất tích đầy bí ẩn. Âm mưu và tình yêu Ba năm sau đó, Takuya làm việc cho cơ quan Liên Minh Khoa học (Alliance Scientific Facility) do Cơ quan an ninh quốc gia Hoa Kỳ tài trợ. Nhờ vậy, cậu dần phát hiện ra sự liên quan mật thiết giữa tòa tháp với một chiều không gian song song khác. Cùng lúc đó, Hiroki đến Tokyo để hoàn thành chương trình cấp 3. Dù bị trầm cảm sau vụ mất tích đột ngột của Sayuri, nhưng Hiroki vẫn đủ tỉnh táo để phát hiện ra những manh mối còn sót lại trong lá thư trước lúc biến mất mà Sayuri để lại. Cũng từ đây, những bí mật dần được vén màn với những âm mưu khủng khiếp đến từ cả hai cường quốc. Liệu Hiroki và Takuya có thể tìm được Sayuri?  Bộ ba sẽ làm thế nào để thoát khỏi cuộc chiến tương tàn giữa hai miền đất nước? Ngọn tháp kỳ lạ đóng vai trò gì? Tất cả những thắc mắc của độc giả sẽ đều được tác giả giải đáp khéo léo trong light novel 'Phía bên kia mây trời là nơi hẹn ước' Những lời khen dành cho 'Bên kia mây trời là nơi hẹn ước' Hầu như  những độc giả yêu quý bộ truyện, dù là nguôn tác manga hay anime đều nhận xét rằng họ bị thu hút bởi tính nhân văn của câu chuyện. Hiroki, Takuya và Sayuri là những người trẻ giữa cuộc chiến, song họ không chiến đấu bằng súng đạn mà lựa chọn tình bạn, quyết tâm thực hiện hoài bão làm vũ khí.  Hiroki và Takuya đã có lúc buông lơi cuộc hẹn trên tòa tháp với Sayuri mà từ bỏ việc lắm ráp máy bay, nhưng sau đó cũng chính để cứu Sayuri mà cả hai tiếp tục hoàn thành 'đôi cánh trắng' ấy. Còn Sayuri, cô bé chấp nhận đánh đổi ký ức 3 năm để giúp được quân kháng chiến có cơ hội thống nhất hai miền đất nước... Tất cả những chi tiết ấy đều tô điểm cũng như khẳng định giá trị tuyệt vời của bộ light novel này. Light novel 'Bên kia mây trời là nơi hẹn ước' hiện đã được IPM phát hành tại Việt Nam. *** Phải chăng ta đang nghe hơi thở của bầu trời nơi tháp kia khóc than trôi xa về phương Bắc. Miyazawa Kenji Tôi bất giác ngẩng đầu nhìn trời trong lúc đợi đèn xanh ở ngã tư trước trung tâm thương mại Odakyu HALC. Khoảnh trời hẹp bên trên cổng Tây ga Shinjuku bị vây quanh bốn phía bởi cao ốc, chẳng rực rỡ cho lắm vào sáng sớm, nhưng cũng coi như khá trong xanh giữa đô thị xám xịt, đủ khiến tôi nhận ra hè đang về. Trong hình dung của tôi, hương sắc mùa hè giống như một khối không khí nồng nàn, chầm chậm rơi xuống từ không trung. Tôi nheo mắt, mường tượng về khối hương sắc mùa hè ấy. Vào khoảnh khắc đó, kí ức về mùa hè đặc biệt, mùa hè của mười sáu năm trước, bỗng bồi hồi trào dâng trong lồng ngực. Buồng phổi như thắt lại, đau nghẹn đến mức nước mắt chực rơi. Mất một lúc mới nhận ra đèn tín hiệu đã chuyển sang xanh, tôi vội vàng bước qua đường, theo dòng người hướng về cửa soát vé ở cổng Tây. Nhà ga đang giờ cao điểm. Đám đông trước mặt tôi tạo thành dòng người tấp nập, lần lượt tràn qua cửa soát vé tự động. Tôi ngắm nhìn cảnh tượng đó, lòng chẳng mảy may ngạc nhiên hay xúc động. Chừng này con người cùng sống trong một thành phố, mỗi người lại có cuộc đời riêng. Ngẫm lại mới thấy, chẳng rõ từ lúc nào chuyện này không còn khiến tôi kinh ngạc. Tôi ý thức được gánh nặng trên vai mình. Bước sang tuổi ba mươi mốt, tôi đã thấm thía nỗi mỏi mệt tương xứng với tuổi tác. Không quá to tát, nhưng cũng khó bơ đi mà sống. Tôi bỗng không muốn đến công ty nữa. Tính cách tôi vốn hơi khác thường, đúng hơn là y như trẻ con. Nhưng nghĩ lại, hồi nhỏ tôi từng trốn học bao giờ chưa nhỉ? Hình như là chưa. Tôi ngờ rằng mình đã lớn lên theo cách không trọn vẹn. Bởi người ta khó có thể trưởng thành thực sự nếu chưa làm trẻ con đúng nghĩa khi còn bé. Tôi chẳng biết việc làm người lớn có giá trị đến nhường nào. Có điều, chí ít mối hoài nghi về sự trưởng thành nửa vời của bản thân vẫn luôn canh cánh trong lòng tôi. Tôi điểm lại lịch trình hôm nay. Trước mắt không có cuộc hẹn nào cả. Việc gấp không phải không có, nhưng chắc sẽ xoay xở được thôi. Tôi bỏ cặp đi làm vào tủ gửi đồ của nhà ga, khóa lại. Lấy điện thoại trong túi áo ra, tôi định bụng gọi đến công ty... Tôi chợt đổi ý, tắt nguồn rồi cất điện thoại vào túi áo. Tôi quyết tâm, đã trốn thì trốn cho ra trò đúng kiểu trẻ con. Tôi biết ngay mình muốn đi đâu. Sau khi xuống ga Tokyo qua tuyến Chuo, tôi mua vé tàu tốc hành tuyến shinkansen Tohoku đi Hachinohe cùng vé về Aomori. Bước lên con tàu shinkansen Hayate rời ga lúc 8 giờ 56 phút, tôi nhét mình trong ghế ngồi chật hẹp, mơ màng ngủ gà ngủ gật suốt hành trình gần ba tiếng. Tôi chuyển sang tàu hỏa tốc hành ở Hachinohe, đi tới ga Aomori. Đợi thêm ba mươi phút, tôi lên chuyến tàu hỏa chạy bằng dầu diesel của tuyến Tsugaru. Đây là tuyến tàu chặng ngắn chạy đến tận cùng bán đảo Tsugaru, điểm cực Bắc đảo Honshu. Chuyến tàu vùng quê đầy hoài niệm. Đoàn tàu gồm hai toa. Mỗi ngày vỏn vẹn năm chuyến. Không có gì thay đổi. Toa tàu vắng khách tạo cảm giác bình lặng đến lạ kì. Người dân sống ở Tsugaru chỉ đi lại bằng tuyến đường sắt duy nhất này. Có thể vì vậy mà tôi nhận thấy ở nó sự thân thuộc đặc biệt. Thế nhưng, trong đó có cả cảm giác lạc lõng. Bởi tôi đã trở thành kẻ xa lạ trên mảnh đất này. Tôi không còn thuộc về bầu không khí thân thương ấy nữa. Một cặp đôi cấp hai ngồi ở khoang ghế đằng xa. Cả hai đang vui vẻ trò chuyện. Tôi bồi hồi ngắm cảnh tượng ấy. Hai đứa mặc đồng phục trường cấp hai của tôi. Bộ đồng phục cũng không đổi khác so với trước kia. Tôi nghe thấy nội dung cuộc đối thoại. Toàn chuyện lặt vặt của trẻ con, nhưng trông cả hai rất vui vẻ, không vướng bận gì cả. Tôi cũng có một thời rạng rỡ, vô ưu như thế. Những điều nhỏ nhặt từng là báu vật, đem đến niềm vui khôn tả. Cạnh tôi có một người bạn thân cùng một cô gái xinh đẹp. Ba chúng tôi ngồi trên chuyến tàu này, mong sao cỗ xe lửa vận hành bằng dầu diesel vốn vừa nặng vừa chậm chạy từ từ hơn nữa. Giờ đây tất cả chỉ còn trong kí ức xa vời... Đúng rồi. Tôi đã đi rất xa. Khi ấy, tôi gắng hết sức vùng vẫy, cốt để đi càng xa càng tốt. Cái đích mà tôi của ngày đó cố gắng vươn tới có phải chính là đây? Tôi cũng chẳng biết. Tôi xuống ga Tsugaru-Hamana, trước điểm cuối của tuyến một ga. Tôi vừa đưa mắt nhìn bãi để xe nhỏ dành cho xe đạp, vừa bước về hướng ngược lại với ngôi làng, băng qua gầm cầu cạn của tuyến Tsugaru-Kaikyo mới, tuyến đường sắt xây dở chưa từng được đưa vào sử dụng. Đoạn đường tiếp theo hơi dốc. Chẳng mấy chốc tôi đã tới nhà máy bỏ hoang dựng theo kiểu nhà tiền chế*. Đi tắt qua phần đất của xưởng, tôi khom mình lách sang bên kia hàng rào đã hỏng, chầm chậm leo lên ngọn đồi nhỏ ở phía sau. Mất nửa tiếng đồng hồ vượt qua quãng đường um tùm cây cối, cảnh vật đột ngột hiện ra. Trước mắt tôi là đồng cỏ mênh mông ánh lên màu lục nhạt, trông hệt như trang trại, cỏ non mơn mởn mọc ngút tầm mắt, tỏa hương tươi mát hòa quyện trong gió. Một thế giới xanh dịu, bao la, trải dài vô tận. Tôi chậm rãi bước vào vùng cỏ. Tiếng xào xạc khi đám cỏ lay động khẽ lướt qua tai. Ở khá xa bên tay phải là một nhà ga hoang phế nằm trơ trọi. Ba sân ga bê tông nối với nhau bằng cây cầu gỗ bộ hành nằm trên cao. Vài chỗ trên tường hay sàn cầu đã mục. Nhà ga bị bỏ hoang khi việc xây dựng còn dang dở, vì thế chưa có chuyến tàu nào chạy qua đây. Nó chẳng thể đưa người ta đi đâu, cũng chẳng đón ai ghé đến. Trước kia, nơi này từng chứa đựng toàn bộ cuộc sống của tôi. Tôi ngước nhìn bầu trời rộng lớn đến quá đáng. Những đám mây dày bồng bềnh trôi trên tầng không xanh thẳm. Tôi ngửa mặt, ngước lên nhìn quanh một lượt, bầu trời cũng xoay tròn, sắc xanh như thể dồn hết về chỗ tôi. Giữa khoảng không cao vời vợi, một chiếc máy bay hiện ra. Chiếc máy bay nhỏ màu trắng. Velaciela... Là ảo ảnh do tôi tưởng tượng. Nó không thực sự bay trên trời. Mà chỉ tồn tại trong kí ức cũ kĩ của tôi. Một cỗ máy với hình thù lạ lùng, không được nhắc đến và cũng không thể xuất hiện trong bất kì tập san máy bay nào. Velaciela. Tác phẩm của ba chúng tôi. Chiếc máy bay đẹp đến nao lòng. “Tuyệt quá...” Giọng Sayuri vang lên bên tai. Không, là ảo giác thôi. Cô đã không còn. Chỉ là một mảnh kí ức bị khuấy động và tái hiện nhờ không gian. Vậy mà tôi lại có thể góp nhặt gần như trọn vẹn hình ảnh của cô. Tiếng bước chân cất lên khi cô bé chạy trên cỏ, đuổi kịp tôi từ phía sau, vượt qua tôi rồi quay đầu lại, chiếc váy đồng phục ngắn và mái tóc đen ngang vai đung đưa. “Máy bay!” Sayuri mừng rỡ nói. Cô vẫn mang hình hài nữ sinh cấp hai của mười sáu năm trước. “Sao mình lại xuất hiện trong hình dáng đó? Bạn biết dáng vẻ mình khi trưởng thành hơn cơ mà?” Gió lướt qua da, đem tôi về với thực tại. Chiếc máy bay, bóng hình Sayuri, cả hai vụt tan biến. Tôi thẫn thờ nhìn nơi ảo ảnh Sayuri vừa đứng. Tôi ngẩn người hồi lâu, ngắm màu xanh của đồng cỏ và bầu trời. Cuối dải đất nhô cao như ngọn đồi là mũi đất. Đứng trên đó có thể nhìn thấy biển. Biển màu xanh đen lạnh lẽo. Sâu thẳm và tối tăm, nhưng lại trong suốt đến kì lạ. Đó là màu eo biển Tsugaru vào mùa hè. Xa hơn nữa, bên kia eo biển là đảo Hokkaido xanh xám, nửa như hòa vào màu trời. Tôi bỗng thắc mắc vì sự thiếu vắng một chi tiết đáng lẽ phải có ở đây. Đúng rồi. Ngọn tháp. Ngày trước, mỗi khi đứng ở chỗ này, trông sang đảo Hokkaido bên kia eo biển, tôi đều thấy ngọn tháp trắng lừng lững giữa nền trời đầy mây. Ngọn tháp cao ngất, từ bán đảo Tsugaru vẫn trông thấy được. Đường thẳng màu trắng xinh đẹp như được vẽ lên không trung bằng thước kẻ, có phần giống bản phác thảo thang máy vũ trụ trong tạp chí khoa học dành cho thiếu niên. Kiến trúc khổng lồ đến mức vô thực, chẳng khác nào tới từ nền văn minh thuộc thế giới khác. Nhưng giờ không thấy tháp đâu. Không còn nữa. Tôi đã đánh mất nó. Thảm cỏ xao động trong gió, gợn sóng như mặt nước, mang hơi hướm Sayuri lại bên tôi. “Mình luôn có linh tính sắp đánh mất thứ gì đó. Thế giới đẹp đẽ nhường này, vậy mà...” Phải. Cô từng nói thế, rằng luôn có dự cảm mất mát. Bấy giờ tôi mới học cấp hai, chắc chắn chưa thể hiểu hết, nhưng lời cô vẫn lay động tôi một cách kì lạ. Chuyện xảy ra nhiều năm trước cuộc chiến ấy. Bấy giờ Hokkaido được gọi bằng cái tên Ezo, là mảnh đất bị quốc gia khác xâm lăng, kẻ địch chiếm đóng. Gần ngay trước mắt mà không thể đặt chân đến. Ở một chân trời ngoài tầm với. Là nơi hẹn ước. Đúng vậy. Mùa hè ấy, ba chúng tôi đứng đây ngắm ngọn tháp và cùng lập một lời hứa. Vào một ngày mà hôm nay đã thành dĩ vãng xa xôi, bên kia mây trời từng là nơi hẹn ước với Sayuri. Ngọn tháp mất đi là lỗi của tôi. Sayuri cũng không còn bên tôi nữa. Sayuri... Cô ấy giờ thế nào? Tại sao lúc này tôi không thể ở bên Sayuri? Vừa nghe tiếng cỏ xào xạc, tôi vừa cúi mặt, xòe ngón tay ra đếm. Đếm những thứ đã để mất, đã phá hỏng, đã vứt bỏ suốt mười mấy năm nay. Tính thử mới thấy chẳng có bao nhiêu. Vậy mà sao cảm giác lại nặng nề thế này. Tôi chầm chậm bước tới chỗ đường ray sắt bị bỏ hoang trong tình trạng lắp đặt dở. Trước mắt tôi là nơi hai đường ray giao nhau rồi tách ra. Tôi ngồi xuống thanh ray gỉ sét. Tôi khóc. Có lẽ tôi đã đánh mất toàn những thứ không được phép mất đi. Nhưng chừng nào tôi còn là tôi, cậu ấy còn là cậu ấy, cô ấy còn là cô ấy, đó vẫn là điều bất khả kháng. Con đường của chúng tôi không cho phép chuyển tuyến hay thay đổi điểm đến. Khi bầu trời đã loáng thoáng nhuốm sắc đỏ, tôi vẫn ngồi im như thế. Tôi lắc đầu, xua đi cảm xúc u buồn rồi chậm rãi đứng dậy, khẽ phủi gỉ sét bám trên quần xuống. Đã đến lúc trở về với “hiện tại”. Tôi quay người cất bước, bỏ biển lại sau lưng.   Mời các bạn đón đọc Bên Kia Mây Trời Là Nơi Hẹn Ước của tác giả Kanoh Arata & Shinkai Makoto & HẢI HÀ (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Dây Oan - Hồ Biểu Chánh
.....Thầy hay tin ấy thì thầy ngẩn-ngơ, bỏ ăn bỏ ngủ. Thầy nghĩ cô Ðằng phạm tội giết chồng thì cô phải chịu hình phạt mà đền cái tội đại ác ấy, bởi vì theo lẽ Trời cũng như theo luật người, hễ có vay thì phải trả, không trốn đâu cho khỏi được. Mà cái tội ác của cô Ðằng phạm đây gốc ở nơi mình mà ra. Tuy mình không xúi cô làm như vậy, nhưng mà mình nhen nhúm bếp lửa tình trong lòng cô, mình làm cho cô cuồng tâm loạn trí, chẳng còn phân biệt tội phước dữ lành được nữa, nên cô mới dùng thuốc độc mà giết chồng. Ấy vậy tội của cô làm cũng là tội của mình, cô là cái tay làm, còn mình là cái óc khiến, bây giờ ra trả nợ oan-trái ấy, há mình đành trốn lánh hay sao. Ðã biết cô tự quyết gánh vác một mình, đã biết việc mình tư tình với cô không ai hiểu thấu, nhưng mà dầu người ta không hiểu, chớ Trời Ðất há không biết hay sao? Cái nợ oan trái nầy mình không thể trốn đâu cho khỏi, trước sau gì mình cũng phải trả phứt cho rồi, dầu bị khổ hình mà lương tâm được bình an, mình hủy cái kiếp lao đao nầy thì hoặc may kiếp sau mình mới được hoan lạc.... *** Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ, người có công mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Người đương thời và nhiều thế hệ về sau đã đón nhận tác phẩm Hồ Biểu Chánh với tất cả sự nồng nhiệt, trân trọng. Lịch sử văn học Việt Nam không thể phủ nhận đóng góp to lớn của Hồ Biểu Chánh. Một trong những yếu tố làm nên sự thành công ấy chính là tác phẩm của ông có được một hình thức ngôn ngữ đầy ấn tượng, thể hiện phong cách ngôn ngữ văn xuôi Nam bộ những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Hồ Biểu Chánh sinh năm 1884 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Tháng 8 năm 1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt. Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 74 tuổi. Lăng mộ ông hiện nay được đặt ở đường Thống Nhất, phường 11 quận Gò Vấp. Tác phẩm: Nợ Đời Bỏ Chồng Bỏ Vợ Dây Oan Đóa Hoa Tàn Đoạn Tình Nặng Gánh Cang Thường Cay Đắng Mùi Đời Con Nhà Giàu ... Mời các bạn đón đọc Dây Oan của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Cây Dâu Tằm - Jude Deveraux
Trời đất quay cuồng, nỗi buồn, sự hụt hẫng đã nhấn chìm Lillian Manville. Cái chết bất ngờ của James Manville để lại trong lòng người vợ trẻ một sự trống vắng không gì bù đắp nổi. Trong khi hàng tá luật sư sẵn sàng lao vào cuộc chiến giành gia sản vì nàng thì Lillian chỉ lặng lẽ ôm nỗi đau để nhớ thương người chồng quá cố. Nhà tỉ phú James Manville để lại cái gì cho vợ trong bản di chúc sau cùng? Không gì cả. Người vợ yêu của ông ta không được gì trong đống tài sản trị giá hàng tỉ đô ngoài căn nhà nông trại rách nát, bẩn thỉu chưa từng thấy tại một làng quê hẻo lánh, xa xôi nhất. Lillian đã từ chối khởi kiện và cả đống tài sản kếch xù thuộc về anh,chị của James - 2 con người mà có cải sinh đến mấy lần vẫn không thay đổi được bản tính kinh khủng của họ. Lillian tin rằng James luôn luôn làm điều đúng và có mục đích. Và lần này mục đích của chàng là gì khi trao căn nhà đổ nát này lại cho vợ, cùng lời nhắn cho người bạn thân:"Nàng sẽ hạnh phúc ở nơi này". Phải chăng căn nhà này có liên quan đến tuổi thơ đầy bí ẩn của nhà tỉ phú? Hay là chính cuộc đời của Lillian? Lillian bước vào cuộc sống mới với cái tên mới: Bailey. Nàng tìm thấy sự bình yên, thanh thản, và cuộc sống mới đầy ắp khó khăn nhưng cũng chan chưa tình người và tình yêu. Nàng tìm ra tình yêu mới và cũng tìm ra bí mật của ngôi nhà nông trại mà chồng nàng để lại. Một bí mật... một bi kịch. Cuối cùng, cái gì là của mình thì vẫn là của mình, người bạn thân đồng thời cũng là luật sư của chồng nàng đã âm thầm thay nàng đòi lại công bằng. Lillian Manville một lần nữa lại trở thành người đàn bà giàu có chăng?... *** Jude Deveraux là một tác giả người Mỹ về những chuyện tình lịch sử. Deveraux đã viết hơn 40 cuốn tiểu thuyết, nhiều trong số đó đã nằm trong danh sách bán chạy nhất của Thời báo New York, bao gồm các tựa như A Knight in Shining Armor and Remembrance; cô đã bán được hơn 50 triệu bản vào năm 2016. Mời các bạn đón đọc Cây Dâu Tằm của tác giả Jude Deveraux.
Mộng Kinh Sư - Phan Du
"Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân." - Chỉ một lời điểm chỉ của Trạng Trình đã biến Nguyễn Hoàng đang hoang mang như “chó nhà có tang” thành Chân chủ một phương, vạch đôi sơn hà. Ngôi cổ tự linh thiêng mang tên Linh Mụ đã gắn liền với chín chúa mười ba vua nhà Nguyễn như thế nào? Truyền thuyết về Trích tiên của xứ này không phải ai cũng biết! "Bắc Tuyên phi, Nam Tống thị" - Đặng Thị Huệ dùng nhan sắc khuynh đảo Phủ chúa Đàng Ngoài như thế nào, thì nàng Tống thị Đàng Trong với tuyệt chiêu "vòng kết trăm hoa" hút hồn nam nhân từ nam chí bắc. Hai bên kẻ hô người ứng, nhất tiếu khuynh thành, tái tiếu khuynh quốc, gây nên bao nỗi đoạn trường ra sao? Quyền thần Trương Phúc Loan để sổng một Giáo Hiến, mà di lại cái họa Tây Sơn; Quận công Hoàng Ngũ Phúc bỏ sót Hoàng tôn Dương, nên Gia Long có cơ quật khởi. Bánh xe lịch sử xoay vòng lặp lại thế nào? Mộng Kinh Sư sẽ đem lại cho độc giả câu trả lời đầy đủ! Gói gọn trong hơn 200 trang sách, Mộng Kinh Sư tái hiện những bước hưng vong thăng trầm của dòng họ Nguyễn ở Đàng Trong qua các đời chúa, mỗi chúa với những đặc điểm và công trạng riêng; song song với quá trình hình thành và phát triển của ngôi chùa Thiên Mụ (Linh Mụ) được cho xây cất bởi Nguyễn Hoàng. Tác phẩm ngoài giá trị khảo cứu còn có giá trị lớn về mặt văn học. Một tác phẩm mà những người đam mê lịch sử, những bạn yêu thích tiểu thuyết, những tín đồ của tò mò chủ nghĩa sẽ không thể bỏ qua! *** LINH MỤ TỰ VÀ DÒNG HỌ CHÂN CHỦ PHƯƠNG NAM Khắp cả một vùng Hương Ngự non thanh, nước đẹp, thắng cảnh thực chẳng hiếm gì và chùa chiền không phải là ít ỏi. Trong số trên tám mươi đền chùa có tên tuổi tọa lạc đó đây trong toàn tỉnh, vẫn còn có nhiều danh lam có thể chinh phục được lòng ái mộ và tình lưu luyến của du khách hoặc bằng cảnh trí đặc sắc, hoặc với lối kiến trúc quy mô hay với những kỳ tích về nguồn gốc, chứ không riêng gì Linh Mụ tự. Nhưng dù sao, Linh Mụ tự vẫn chiếm được cái ưu thế trội vượt hơn hết, không những vì cái cảnh trí thơ mộng nơi này, nhưng còn vì một đặc điểm mà các danh lam khác không làm sao có được. Đó là những yếu tố phong thủy của cuộc đất nó chiếm cứ, yếu tố đã tạo nên một liên hệ thiêng liêng, mật thiết và bền bỉ, giữa ngôi chùa với dòng họ chân chủ phương Nam. Số là xưa kia, Tiên Chúa Nguyễn Hoàng, tức Thái Tổ Gia Dũ Hoàng đế (1558 -1613)[1] sau khi vào trấn đất Thuận Hóa - bắt đầu từ tháng Mười năm Mậu Ngọ, tức năm Chính Trị nguyên niên thời Lê (1558), với niềm tin tưởng vững chắc ở sức bảo trợ huyền nhiệm của một dãy Hoành Sơn hùng tráng theo lời truyền bảo của Bạch Vân cư sĩ - tuy lập Dinh ở làng Ái Tử, thuộc huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong (nay thuộc tỉnh Quảng Trị), nhưng cặp mắt yêu chuộng phong thủy của Tiên Chúa lại thường soi rọi địa hình, địa vật khắp cả một vùng Thuận Hóa[2]. Chẳng có núi nào, sông nào, chẳng có những cuộc đất lạ nào mà Tiên Chúa không tìm đến, không thăm dò, vì mục đích chiêm ngoạn cái khí tượng vạn thiên của các nơi danh thắng cũng có, mà phần chính là vì cái chủ đích khám phá những địa thế có khí mạch của núi non ngưng kết, cần cho công cuộc khai cơ, hưng nghiệp. Gót phiếm du của vị chúa phương Nam, một hôm, đã dừng lại trước một ngọn đồi đột khởi giữa một cánh đồng ở thôn Hà Khê, xã An Ninh, huyện Hương Trà[3]. Đồi có hình rất lạ. Giữa khoảng bình địa, nó hiện ra như một con rồng quay đầu nhìn lại dãy núi chính, nơi nó phát xuất. Phía trước, ngay dưới chân đồi, là một dòng sông uốn khúc uyển chuyển, xinh mềm như vòng tay ngọc nữ, và, phía sau, đồi tiếp giáp với một cái hồ, mặt nước phẳng lặng như tờ. Dưới cái nhìn sành sỏi của các nhà địa lý, cảnh trí có cái đặc tính giai thắng này nhất định phải là nơi từng có linh khí ngưng tụ. Tiên Chúa lại tiến lên đỉnh đồi, nhìn ngắm quanh vùng. Trước mắt là cả một bức tranh sơn thủy vô cùng ngoạn mục, huyền ảo chẳng kém gì cảnh sắc trong tranh thủy mặc trên quạt của Mã Viễn đời Tống hay trên lụa của Ngô Đạo Tử đời Đường. Trông về phương nam, một vòng sông thanh tú, và bên kia sông, một ngọn gò thuộc xã Nguyệt Biều, gò Thọ Khang - về sau này được mang tên là gò Thọ Xương hay Long Thọ Cang[4] - nơi mà những canh gà từng được coi như là một trong những yếu tố đã tạo thành cái nguồn thi vị bàng bạc khắp cả một bầu trời Hương Ngự: Gió đưa cành trúc la đà. Tiếng chuông Linh Mụ, canh gà Thọ Xương[5]. Cùng với gò, một bãi hoang phù sa phô trương cái sức sinh sôi rất mực sung thiệm[6] của loài thảo mộc. Xa hơn là cánh đồng Nguyệt Biều phì nhiêu, êm ả. Trông về phương tây, dòng sông, sau khi vừa rẽ qua một khúc quanh, dàn rộng cõi lòng hầu như mênh mông với mặt nước phẳng lì, bóng bẩy như một bức định kính tráng bằng chất ngọc lưu ly vừa đông lại. Xa xa, án ngữ chân trời, một dãy núi xanh huyền ảo, chạy dài phía sau màn sương thoang thoáng, điểm chuyết, cùng với sông kia, gò nọ, cho cảnh trí nơi này cái vẻ lồng lộng, bao la, sáng lạn và thanh khiết của một cõi trời đã lau sạch bụi trần. Nhưng có thể cặp mắt của vị chân chủ phương Nam đã phải để ý đến một điểm đặc biệt hơn các thức đẹp kết hợp thành cái toàn bộ cảnh trí thơ mộng này. Đó là một đường hào - đào khá sâu - cắt đứt chân đồi tàn nhẫn như dấu vết lưỡi gươm sắc bén của tên đao phủ thiện nghệ còn lưu lại trên cổ tử tù. Bàn tay thô bạo, ngu xuẩn nào đã vô tình làm cái chuyện rất đáng kiêng kỵ về mặt phong thủy đó? Xén ngang chân đồi thì có khác gì là cắt đứt long mạch, làm phân tán cái khí thế của núi non ngưng tụ! Hoặc giả đã có tay tổ nào trong giới phong thủy bày ra cái trò yểm trừ này chăng? Chúa phương Nam liền mở cuộc dò la, thăm hỏi đám bô lão, để tìm hiểu và khám phá cho ra nguyên do. Và quả đúng như điều nghi hoặc của Tiên Chúa, hào đào là nhằm mục đích yểm trừ, và tác giả của cái công trình phá hoại này lại không ai khác hơn là tướng Cao Biền, một tay địa lý đại danh từng có chủ trương triệt tiêu tất cả mọi yếu tố phong thủy có thể giúp cho chân mạng đế vương xuất hiện ở phương Nam.[7] Các vị bô lão hiểu chuyện đã tường trình cùng Tiên Chúa rằng: vì biết được tại đồi này có một nữ thần thường hiện ra, lại xem xét kỹ, thì lòng gò có linh khí đáng ngại, nên Cao Biền đã dùng phép thuật yểm trừ và cho đào hào để dứt tuyệt long mạch. Từ đấy, ngọn đồi vắng bóng nữ thần. Dân làng qua lại đồi này, dù vào lúc giữa trưa đứng bóng hay trong đêm vắng canh khuya, cũng chẳng bao giờ còn được mục kích sự hiển hiện của thần linh như trước. Lạ hơn là cái hồ ở phía sau đồi - về sau được mang tên là Bình Hồ - nước cứ ngày càng đỏ ra như máu[8]. Một hồ máu rõ ràng! Phải chăng là máu của Rồng thiêng? Và như thế rất nhiều năm qua, không ai còn nhắc đến chuyện nữ thần, nhưng rồi, một đêm kia, có đám hành giả, nhân đi ngang qua đồi vào khoảng quá giờ Tý, đã tình cờ trông thấy, dưới bóng trăng khuya mới mọc, một bà lão, tóc và chân mày bạc phơ, ngồi ở chân đồi. Áo dài của bà cụ đỏ chói màu ráng pha, nổi bật trên chiếc quần màu lục rất tươi. Ánh trăng tuy còn lơ mơ, nhưng dường như đã được pha lẫn một nguồn ánh sáng huyền diệu nào đó, để soi tỏ được không những y phục, mà cả cái dáng mạo phúc hậu, trang nghiêm của bà cụ, cùng những đường nét thêu trổ tuyệt mỹ trên đôi hài gấm đế trắng và chiếc nón thúng - cũng cùng một màu trắng - có quai lụa hồng. Bà cụ nhìn vào đường hào, nhìn lên đỉnh đồi, rồi nói lớn, như có ý để những lời tiên tri của mình được lọt trọn vẹn vào tai đám hành giả đã tán loạn cả hồn phách vì cuộc gặp gỡ bất thần và đáng hãi hùng này: “Cao Biền vì ác ý muốn dứt tuyệt long mạch ở phương Nam, nhưng làm sao có thể nghịch lại sự định phận của Thiên Thư. Sơn hà nào có chân chủ nấy. Long mạch tuy bị dứt, nhưng chưa tuyệt. Máu Rồng còn tươi. Một ngày kia chuyện buồn rồi cũng chấm dứt. Bàn tay của chân chủ phương Nam sẽ lấp hào đi để cho linh khí tụ lại, long mạch nối liền. Một con Linh Quy, để được thoát kiếp, sẽ hút sạch máu trong lòng hồ. Nước hồ trong ra, cõi trời Nam càng thêm hưng thịnh, trăm họ vui khúc âu ca.” ... Mời các bạn đón đọc Mộng Kinh Sư của tác giả Phan Du.
Hồng Nhan Thượng Hải - Thời Thanh Xuân - Trương Hiền Lượng & Trần Đan Yến
Hồng Nhan Thượng Hải – Thời Thanh xuân là 2 truyện dài của 2 nhà văn nổi tiếng Trung Quốc – Trần Đan Yến và Trương Hiền Lượng.​ Truyện dài Hồng nhan Thượng Hải (Trần Đan Yến) là một câu chuyện lấy bối cảnh Thượng Hải từ năm 1944 qua lời kể của nhiều người về cuộc đời của Diêu Diêu - ra đời vào mùa hè năm 1944. Diêu Diêu là con gái thứ hai của một ngôi sao điện ảnh nhưng sống hòa đồng với bạn bè và chịu sự giáo dục nghiêm khắc và nóng nảy của mẹ. Cô giống mẹ ở tính muốn có danh tiếng nhưng lại lựa chọn chính trị. Song tiền đồ chính trị của cô luôn gặp khó khăn, trắc trở vì mẹ cô là ngôi sao của giai cấp tư sản vì vậy Diêu Diêu đã phải chịu những hy sinh, mất mát ngay cả những người mà cô yêu thương nhất... Truyện dài Thời Thanh Xuân của nhà văn Trương Hiền Lượng viết về những khoảnh khắc, ký ức và những câu chuyện được định nghĩa là “thời thanh xuân” mà tác giả cũng chính là nhân vật “tôi” đã trải qua, đã cảm nhận được trong thời gian đi cải tạo ở thời kỳ bài trừ phái hữu, cải cách văn hóa của Trung Quốc.​ *** Thưa cụ, cụ có thể kể cho cháu về mùa hè Thượng Hải năm 1944, về những câu chuyện bình thường mà ngày ngày đã xảy ra ở đây. - Tôi tìm đến Ngụy Thiệu Xương, được sinh hạ, lớn lên và gần như cả một đời người đã gắn bó với cái thành phố đông dân nhất này của Trung Quốc. Giờ là mùa xuân, cách năm 1944 phải đến 56 năm rồi, trời mưa và cả Thượng Hải đượm màu xám nhạt, các góc phố có phần tối hơn, giống như tàn thuốc điểm vài chấm đen, bóng những khuông cửa in lên tường mờ nhòa, loang lổ. Những ai chưa quen với Thượng Hải dầm dề mưa xuân thì khó có thể cảm thụ cùng vẻ đẹp mềm mại, mây khói của màu trời mùa này, và tương tự khó lòng thể hội một cái gì đó thương cảm nhè nhẹ ẩn chứa trong hơi mưa ẩm ướt. Mưa rả rích, liên miên, chẳng biết đến lúc nào mới tạnh, và đến lúc nào mới nghe được tiếng sấm đầu xuân. Cụ già Ngụy nhớ như in, thời tiết năm 1944 cũng giống thế này, cụ còn kể chuyện năm 1932, khi người Nhật ném bom Thượng Hải với cảnh tượng ở “Thương vụ ấn thư quán” trên đường Bảo Sơn, thiêu trụi một nhà in và một thư viện lớn nhất Đông Á. Bốn mươi vạn cuốn sách, trong đó có sáu vạn cuốn đặc biệt và toàn bộ số giấy chuẩn bị in sách đều trở thành tro bụi. Trời Thượng Hải ngập trong mưa tuyết, những cánh tuyết màu đen từ Bảo Sơn theo gió mùa đông bắc bay khắp thành phố, rơi xuống, phủ lên áo quần phơi ngoài ban công mọi con đường, nhất là Nam Kinh đông lộ. Ngụy Thiệu Xương có vẻ mỉm cười, thần sắc đổi thay khi kể chuyện cháy sách ở “Thương vụ ấn thư quán”, nhưng khi cụ ngẩng lên, hất mái đầu bạc trắng thì bạn sẽ nhìn thấy một gương mặt gắng gượng, chịu đựng và vô cùng nhẫn nại với dĩ vãng, cụ chẳng cười chút nào, cụ hơi ngạc nhiên vì sao tôi lại muốn biết những gì về năm 1944 ở Thượng Hải. - Dạ thưa, cháu đang viết sách, kể chuyện một người mà năm đó đã sinh ra ở đây, cháu muốn biết những tình tiết chân thực khó có thể tìm thấy trong sử sách, tân văn báo chí, thậm chí cả các truyện ký hay hồi ức của các bậc vĩ nhân, bởi vì nhân vật của cháu là cô gái rất bình thường. - Tôi trả lời và cảm thấy, cô ta như hạt bụi dính trên pho sách sử, nhưng tôi muốn hạt bụi đó vĩnh viễn không bị quét đi, rơi mất. ... Mời các bạn đón đọc Hồng Nhan Thượng Hải - Thời Thanh Xuân của tác giả Trương Hiền Lượng & Trần Đan Yến.