Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bỗng Dưng Muốn Sống

Với bốn cuốn tiểu thuyết đã xuất bản dạng khổ lớn và ba cuốn dạng sách bỏ túi, Laurent Gounelle đã hai lần được ghi tên trong bảng xếp hạng 10 tiểu thuyết gia bán được nhiều sách nhất tại Pháp. Trong bảng top 10 năm 2014, do tuần báo Le Figaro bình chọn, anh đứng ở vị trí thứ 10 với 430.000 cuốn sách đã được bán. Là một chuyên gia về môn Khoa học nhân văn, được đào tạo tại Pháp và Hoa Kỳ, là diễn giả thường xuyên của các trường đại học, Laurent Gounelle đi khắp nơi trên thế giới để gặp gỡ, trò chuyện. Và trong mỗi dịp ấy, anh quan sát, ghi nhận từ mỗi người, theo cách của mình, đem đến những luồng sáng, những lời giải thích cho vấn đề cốt lõi nhất: làm sao để tinh thần thăng hoa và đem lại cho cuộc sống một ý nghĩa tích cực. Tôi đã rất ấn tượng và bị cuốn hút trước sự đam mê của anh đối với nền triết học phương Đông, mà theo tôi, anh đã thẩm thấu khá sâu đậm. Trong tác phẩm của mình, anh luôn nhấn mạnh đến sự sống chậm, đến thiên nhiên, đến những gì mà từ ngàn đời Tạo hóa ban tặng cho chúng ta. Laurent Gounelle phân tích một cách thuyết phục những bất cập của cuộc sống hiện đại luôn hối hả, xô bồ và chỉ ra mặt trái của sự toàn cầu hóa… Những phát triển của ngành công nghệ đã dần dần bào mòn đi khả năng cảm thụ và thấu cảm của con người. Cảm xúc trở nên lạnh lẽo, nhạt nhòa hơn khi ta bấm trên bàn phím một tin nhắn, một lá thư điện tử để hỏi thăm nhau thay bằng đến gặp nhau trò chuyện như trước kia. Nhiều thuần phong mỹ tục cũng bị cơn bão công nghệ cuốn dần đi. Anh cho rằng niềm vui, hạnh phúc, sung sướng hay khổ đau đều đến từ chính ta, ta suy nghĩ hay nhìn cuộc sống của mình như thế nào thì nó sẽ ra thế ấy. Trong cuốn sách Bỗng dưng muốn sống này, nhân vật chính Jonathan, là một người đàn ông trẻ đầy tham vọng và tràn trề nhựa sống, nhưng đang gặp rắc rối trong cuộc sống gia đình và công việc. Anh là đồng sở hữu một văn phòng bảo hiểm. Công việc bề bộn cùng những áp lực về doanh thu, về thu nhập và nhu cầu trong cuộc sống đã khiến anh bị cuốn vào một đời sống đơn điệu, sa vào những mánh khóe chiêu dụ khách hàng để có được các hợp đồng. Và rồi anh cùng gia đình bé nhỏ của mình bị rơi vào một cái bẫy do chính cộng sự giăng ra hòng mua rẻ số cổ phần của anh trong công ty. Đúng lúc bẫy vừa chụp xuống lưng chừng thì anh nhận được lời dự đoán của một cô gái Bô-hem: “Anh sắp chết…!”. Từ chỗ hoang mang lo sợ, chán nản, buông xuôi rồi từ từ thay đổi góc nhìn, cách cảm nhận cuộc sống, xoay chuyển tư duy và mục tiêu kinh doanh, âm thầm làm những điều thiện lành nho nhỏ mang lại niềm vui bất ngờ cho người khác, Jonathan đã “ngộ” ra được giá trị của sự an lạc. Khi hành động mang lại lợi ích, hạnh phúc cho người xung quanh, anh đã tự tạo ra được nguồn cảm hứng cho những ngày mới tràn đầy năng lượng. Anh đã không còn cảm thấy sợ cái chết. Nhưng hơn bao giờ hết, anh bỗng dưng khao khát được sống - một cuộc sống năng động mà an nhiên, từng giây từng phút gieo hạt giống yêu thương, từng khoảnh khắc nở nụ cười thân thiện, để đón trở về trong lòng mình sự thanh tĩnh, bình yên. Trải nghiệm những ngày đếm lùi để đối điện với bản án tử bí hiểm mà cô gái Bô-hem xa lạ báo trước, Jonathan cùng những phát hiện mới mẻ của mình sẽ mang lại cho bạn đọc nhiều điều bất ngờ, ẩn chứa những thông điệp kỳ diệu của cuộc sống và bạn sẽ hiểu vì sao nhân vật của chúng ta bỗng dưng muốn sống. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. Paris tháng 11/2017 Hiệu Constant *** Review Yến Yến:   “Để sống thoải mái cuộc sống của mình, – Bác Margie tiếp tục lên tiếng, – điều cần thiết là lắng nghe những gi vọng tới từ sâu trong tâm hồn chúng ta. Lắng nghe những bức thông điệp thì thầm phát ra từ chính tâm hồn chúng ta. Nhưng tâm hồn chúng ta thì giống như một thiên thần, luôn thì thầm bằng một giọng quá dịu êm, quá nhỏ, đến nỗi ta phải dỏng tai lên. Cháu làm sao có thể nghe thấy nó khi cháu đứng giữa đám đông huyên náo không ngừng chứ?…” Jonathan được nhắc đến là một nhân vật chính của cuốn sách này. Có lẽ khi cầm cuốn sách này trên tay, hầu như tất cả những người trẻ đều thấy bản thân mình ở trong đó: Bị cuốn đi bởi những bận rộn của lối sống hiện đại mà không hề có thời gian cho tâm hồn được ngơi nghỉ. Jonathan là một điển hình cho một người như thế – người đàn ông trẻ đầy tham vọng và tràn trề nhựa sống. Anh đồng sở hữu một văn phòng bảo hiểm nhưng công việc bộn bề cùng với những áp lực về doanh thu, về thu nhập và nhu cầu trong cuộc sống đã khiến anh bị cuốn vào một đời sống đơn điệu. Gia đình anh bắt đầu rạn nứt và đổ vỡ. cuộc sống ngày một bế tắc thì anh lại nhận được lời dự đoán của cô gái xem đường chỉ tay Bô-hem: “Anh sắp chết!” Cuộc sống của anh ngày một lao đao hơn khi anh không thể nào thoát ra khỏi ý nghĩ về cái chết của bản thân mình. Cuối cùng anh đã quyết định nghỉ việc, tìm đến nghỉ dưỡng để tịnh tâm. Đây cũng chính là quãng thời gian anh gặp bác gái của mình – Bác Margie – người phụ nữ với những chiêm nghiệm về cuộc đời và nhân sinh đã giúp anh cảm thấy “bỗng dưng muốn sống”. Bác giúp anh hòa hợp với thiên nhiên, giúp anh hiểu được mỗi chúng ta “là những cá thể hoàn chỉnh và thiên nhiên dẫn dắt chúng ta cảm nhận điều đó một cách sâu sắc, trong khi xã hội tạo ra nơi chúng ta sự trống vắng thiếu hụt”. Bác giúp anh biết lắng nghe tiếng nói từ sâu thẳm trong tâm hồn mình, để hiểu rõ, cuối cùng thì điều thực sự mình muốn là gì? Bằng những chiêm nghiệm qua cách dẫn dắt của bác Margie về sự sống chậm, đến thiên nhiên, đến những gì mà từ ngàn đời tạo hóa ban tặng cho chúng ta đã giúp chúng ta hiều bản thân mình hơn một cách nhẹ nhàng. Từ đó, Jonathan đã cân bằng lại được cuộc sống vồn vã trước kia của mình. Anh bắt đầu dành thời gian cho bản thân mình hơn đồng thời âm thầm làm những điều thiện lành nho nhỏ để mang lại niềm vui bất ngờ cho người khác. Gửi một tách cà phê cho một cô gái ngồi âu sầu ở quán, tặng một bó hoa hồng ngẫu nhiên cho người thứ bảy bước xuống từ một chuyến tàu,… Cuối cùng, anh cũng đã ngộ ra được giá trị của sự an lạc và phá bỏ lời nguyền về cái chết của cô gái Bo-hem. Và đơn giản, ai chẳng không muốn “muốn sống” một cuộc sống tuyệt với như thế. Hiểu tận cùng nỗi đau Từ cửa sổ phòng tắm trên tầng lầu ngôi nhà nhỏ màu đỏ mà anh thuê từ gần ba tháng nay trong một con hẻm xinh xắn của thành phố San Francisco, Jonathan vừa cạo râu, vừa quan sát lũ cỏ ba lá tròn mọc nhanh một cách vô cảm trên bãi gazon*. Bãi cỏ thảm hại, vàng ủng dưới ánh nắng chói chang nghiệt ngã của mặt trời tháng Bảy, dường như đã sẵn sàng xin chào thua rồi. Dùng chất clopyralid* thì chẳng ăn nhằm gì. Từ đầu tháng phun cả một bình đầy mà không mang lại tác dụng nào. Phải nhổ thôi, từng cọng một, mình buộc phải làm thế, - Jonathan tự nhủ trong lúc bàn cạo râu điện rà rà mơn man dưới cằm trong một âm thanh rì rì không ngớt. Anh thiết tha chăm sóc khu vườn đến mức tốt nhất: khu vườn nằm sau nhà và quay hướng Nam, là sân chơi cho cô con gái nhỏ của anh, Chloé, trong kỳ nghỉ cuối tuần, khi nó về ở với bố, xen kẽ hai tuần một lần. • Gazon là dạng bãi cỏ mọc do được gieo hạt, không phải là bãi cỏ mọc tự nhiên. • Một loại thuốc diệt cỏ. Vừa tiếp tục cạo râu, Jonathan vừa kiểm tra thư điện tử trên chiếc điện thoại thông minh của mình. Những yêu cầu của khách hàng, một đơn khiếu nại, một bữa ăn trưa bị hoãn, bản báo cáo hàng tháng của ban Kế toán, một món quà tặng thương mại của Công ty Cung ứng điện thoại và vài bản thông tin mới. Quay lại trước gương, anh vớ một cây phớt nhỏ và một lọ thuốc nhuộm tóc màu đen. Rất tinh tế, anh thấm nước nhuộm lên những sợi tóc bạc đầu tiên trên đầu mình. Tuổi ba mươi sáu vẫn còn quá sớm để có thể chấp nhận dấu ấn thời gian. Anh hối hả chuẩn bị để kịp đến đúng giờ hẹn, cuộc gặp gỡ hàng ngày ở quán cà phê trên quảng trường diễn ra mỗi sáng kể từ khi thành lập công ty bảo hiểm từ 5 năm trước, ba cộng sự đều gặp nhau tại đó để dùng cà phê sáng, nhanh thôi, ngay trên mảnh sân hiên ngoài trời. Một trong ba người chính là bạn gái cũ của anh, Angela, và sự chia tay mới đây giữa anh và cô ấy đã không làm thay đổi thói quen hình như đã trở thành bất biến này. Văn phòng bảo hiểm của họ là cơ quan duy nhất trong thành phố chuyên về lượng khách hàng gồm các tiểu thương nhỏ của cả khu vực. Sau thời kỳ khởi đầu khá khó khăn, văn phòng hiện thời đã vận hành tốt và cho phép các cộng sự cùng trợ lý của họ được nhận lương tháng, dẫu khoản tiền lương ấy vẫn còn khiêm tốn. Văn phòng đã bén rễ và hứa hẹn những viễn cảnh tăng trưởng. Chắc chắn là còn phải chiến đấu và đôi khi Jonathan cảm thấy chút nản chí chợt thoáng qua tâm tưởng, nhưng anh tiếp tục tin rằng mọi chuyện đều có thể xảy ra, và những giới hạn duy nhất chính là giới hạn mà ta tự đặt cho mình. Anh bước xuống bậc tam cấp và đi ra cổng. Không khí thơm nồng phảng phất mùi sương mù mùa hè. Tình trạng khu vườn nhỏ nằm giữa ngôi nhà và đường phố cũng chẳng khá khẩm hơn khu vườn đằng sau kia. Khu vườn này quay hướng Bắc, lại bị rêu mọc ở khắp nơi. Có thư tín nằm đợi Jonathan trong thùng thư. Anh bóc một phong thư do nhà băng gửi tới. Tiền thanh toán phí sửa xe đã khiến tài khoản bị báo động đỏ. Phải nhanh chóng cứu trợ thôi. Lá thư thứ hai đến từ nhà cung ứng điện thoại. Có lẽ lại là một hóa đơn nữa… - Xin chào! Cũng ra lấy thư tín như anh, người hàng xóm chào anh với dáng vẻ hoàn toàn thư thái, điệu bộ của kẻ mà hình như cuộc sống luôn mỉm cười với hắn. Jonathan cũng chào đáp lại. Một con mèo cọ vào chân anh và miệng kêu meo meo. Jonathan cúi xuống âu yếm nó. Đó là con mèo của một bà lão ở trong khu chung cư nhỏ bên cạnh. Jonathan thường xuyên thấy nó trong vườn nhà mình, Chloé vui thích vô cùng khi gặp nó. Trên phố, con mèo liền tiến lên đi trước Jonathan rồi kêu meo meo khi đến khu chung cư, mắt ngước nhìn anh. Jonathan đẩy cánh cửa và nó lao nhanh vào bên trong, trong lúc mắt vẫn không rời khỏi anh. - Mày muốn tao đi cùng với mày ư, đúng không? Tao đang vội lắm, mày biết đó, - Jonathan nói trong lúc mở cửa thang máy. Đi nào, nhanh lên đi! Nhưng con mèo cứ đứng lì ở chân cầu thang bộ, miệng kêu meo meo nhẹ nhàng. - Mày thích đi cầu thang bộ hơn, tao biết… nhưng tao không có thời gian. Nào, đến đây đi… Con mèo chớp chớp mắt nài nỉ. Jonathan thở hắt ra. - Mày quá đáng lắm rồi đấy… Anh ôm con mèo trên tay và bước nhanh qua các bậc cầu thang lên tận tầng ba. Anh bấm chuông rồi lại đi xuống ngay mà không đợi. - A! Mày đây rồi, đồ háo chiến! - Tiếng bà cụ già vang lên. Jonathan bước nhanh trong con hẻm giữa những ngôi nhà còn ngái ngủ, rồi rẽ phải vào phố buôn bán để đến khu quảng trường nhỏ, nơi anh có hẹn. Anh chợt nghĩ đến sự kiện diễn ra hôm trước mà anh đã tham dự: chống nạn phá rừng trong vùng Amazôn. Cuộc biểu tình đã quy tụ vài trăm người tham gia và thu hút được sự chú ý của báo chí địa phương. Thoạt đầu, được thế đã là tốt rồi. Đi qua trước cửa hiệu bán đồ thể thao, anh liếc nhìn đôi giày đã trêu ngươi anh từ ít lâu nay. Tuyệt hảo nhưng đắt quá chừng. Xa hơn chút nữa, mùi bánh ga-tô nóng thơm lừng quyến rũ thoảng tới quấy nhiễu mũi anh. Mùi thơm này bay ra từ những ô cửa sổ được trổ rất khéo trên mặt tiền một cửa hiệu bánh ngọt Áo. Anh đã suýt xiêu lòng, nhưng rồi cố gắng đi nhanh hơn. Quá nhiều chất cholesterol. Trong tất cả các cuộc chiến thường nhật, thì cuộc chiến đấu chống lại những ham muốn mà người ta luôn luôn cố tình làm nảy sinh trong chúng ta, liệu đã phải là tệ hại nhất không nhỉ? Vài người vô gia cư đang nằm ngủ rải rác đây đó, dưới những tấm chăn. Ông chủ hiệu bán đồ khô người Mê-hi-cô đã mở cửa, cũng như các sạp báo và xa hơn chút nữa là ông chủ hiệu làm đầu gốc Puerto Rico. Anh chạm mặt một số khuôn mặt thân quen đang trên đường đi làm, vẻ mặt họ lơ đễnh. Chỉ một giờ đồng hồ nữa thôi, khu phố này sẽ rất náo động. Mission District là khu cổ nhất thành phố San Francisco. Tất cả nơi đây đều tạp nham: những ngôi biệt thự thời Victoria đã hơi cũ nằm cạnh những tòa nhà cao tầng vô hồn, những tòa nhà hiện đại này lại nằm cạnh những khu chung cư cổ lỗ xập xệ. Những ngôi nhà cổ màu phấn phơn phớt cạnh những tòa nhà phủ đầy những hình vẽ tự phát với những gam màu lòe loẹt. Chính dân chúng nơi đây cũng sống rải rác giữa nhiều cộng đồng khác nhau. Họ chạm mặt nhau nhưng không thực sự giao du với nhau. Ta nghe thấy đủ các thứ tiếng như Trung Quốc, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Ả Rập hoặc Nga. Ai nấy sống trong thế giới của mình mà không bận tâm đến những người xung quanh. Một người ăn mày tiến đến và chìa tay ra. Jonathan lưỡng lự giây lát rồi bước qua trong lúc cố tránh nhìn vào mắt ông ấy. Ta làm sao có thể cho tất cả mọi người được. Michael - cộng sự của anh - đã chọn bàn trên sân quán cà phê. Đó là một người đàn ông trạc tứ tuần, lịch lãm với nụ cười quyến rũ, nói rất nhanh và luôn tràn trề năng lượng đến nỗi ta phải tự hỏi liệu có phải anh ấy được gắn với các hộp pin cao áp hay đơn giản là đã được tiêm amphêtamin. Com-plê màu cát, áo sơ mi trắng và cà-vạt lụa màu vàng dệt nổi, anh ta ngồi trước một cốc cà phê to và phần bánh carrot cake, mà nó hình như được chọn để hợp với màu chiếc cà-vạt. Phần sân hiên quán cà phê chiếm dụng một khoảng lớn vỉa hè, đủ sâu để khiến ta quên đi luồng xe hơi đang chạy ngoài kia, đằng sau dãy cây thấp, được trồng trong những bồn gỗ lớn sánh ngang các vườn ươm trong các tòa lâu đài. Bàn ghế được làm từ song mây tạo thêm cảm giác rằng ta đang ở nơi khác, chứ không phải ở trung tâm thành phố. - Cậu ổn chứ? - Michael lên tiếng với một chất giọng đầy hưng phấn. Cảnh tượng gần giống với các màn diễn của Jim Carrey trong phim Mặt nạ*. • Phim The Mask với sự tham gia của nam diễn viên điện ảnh Mỹ Jim Carrey. - Còn anh thì sao? - Jonathan đáp lại hệt như thường lệ. Anh lấy trong túi ra một lọ nước tẩy trùng, nhỏ vài giọt lên những ngón tay và xoa thật mạnh. Michael nhìn anh với một nụ cười thích thú trên môi. - Tuyệt đỉnh! Cậu dùng gì hả? Hôm nay có bánh ga-tô ngon lắm. - Giờ anh lại ăn sáng bằng bánh ga-tô à? - Đấy là chế độ ăn mới của tôi đấy: một chút đường vào buổi sáng để khởi động, sau đó thì suốt cả ngày sẽ chẳng có gì hết. - Thế thì gọi bánh ga-tô đi. Michael ra hiệu cho người bồi bàn và gọi đồ ăn. Trong ba cộng sự thì Michael là người xử lý tốt nhất những mánh lới nghề nghiệp, Jonathan thường xuyên cảm thấy và dành cho anh ta một sự ngưỡng mộ nhất định. Anh thèm muốn sự lưu loát thuần thục mà Michael có được để dẫn dụ khách hàng vào một tình thế thích hợp để rồi bị thuyết phục. Khi đi cùng anh ta tiến hành thăm dò tư tưởng của những tiểu thương, Jonathan chứng kiến nhiều cảnh đáng kinh ngạc mà Michael đã có thể lật ngược tình thế để thuyết phục được một khách hàng tiềm năng nhưng hết sức khó tính. Sau một thời gian dài được đào tạo và huấn luyện các phương pháp bán hàng, Jonathan đã xoay xở khá thành công, nhưng anh vẫn cần phải có nhiều nỗ lực đáng kể ở những điểm mà Michael đã thực hiện với một sự thuần thục cao độ, thông thạo mọi chi tiết kỹ thuật để thuyết phục được khách hàng đồng ý ký hợp đồng mới, những chọn lựa mới, luôn luôn gia tăng các điều khoản bảo hiểm để bảo vệ mình hơn nữa, cho đến tận lúc cứ đồng ý mua các khoản mà không hề nhận ra rằng trên thực tế chúng bảo hiểm cho cùng một rủi ro… Trong lĩnh vực này - anh ta đã thổ lộ bí quyết với các cộng sự của mình - sợ hãi là cảm xúc chúa tể, đồng minh cốt lõi của người bán hàng. Cảm xúc đó mà nảy sinh trong ánh mắt của nhà buôn thì ngay lập tức gợi lên hình ảnh của một thảm họa, một vụ trộm, một vụ kiện tụng. Thoạt đầu rất nhỏ, nhưng rất âm ỉ, nó nhanh chóng thấm vào tận các hang cùng ngõ hẻm của trí óc cho đến lúc nó trở nên chiếm ưu thế trong tính năng quyết định. Khi ấy khoản lệ phí hàng năm sẽ được đưa ra, khoản này sẽ được so sánh với phí tổn của một trận hỏa hoạn, một tai nạn hoặc một vụ kiện tụng bởi một khách hàng tiêu dùng giận dữ? Các viễn cảnh tai nạn càng ảm đạm bao nhiêu thì các khoản đóng bảo hiểm hình như càng chẳng đắt đỏ gì… Jonathan là một người trung thực, nên anh thường cảm thấy hơi có lỗi. Nhưng tất cả các đối thủ cạnh tranh của anh đều vận dụng những kỹ thuật này, mà nếu một mình từ bỏ chúng thì e sẽ bị trừng phạt. Trong thế giới nhẫn tâm này, các quy tắc là đúng như chúng vốn thế, - anh tự nhủ. Tốt hơn là chấp nhận chúng và cố gắng lấy lại vốn liếng của mình nếu như ta không muốn đến nhập bọn cùng với những kẻ bị xã hội ruồng bỏ… - Cậu biết đấy, - Michael nói, - tôi đã suy nghĩ rất nhiều về tình trạng của cậu trong những ngày gần đây. - Tình trạng của tôi ư? Michael gật đầu nhẹ. Ánh mắt anh ta ngập tràn sự cảm thông. - Càng quan sát kỹ các bạn, thì tôi lại càng tự nhủ rằng quả là địa ngục đối với cậu khi cứ tiếp tục làm việc hàng ngày với người vợ cũ như hiện nay. Hơi bị bất ngờ, Jonathan ngước nhìn người cộng sự mà không đáp lại. - Các người cứ làm khổ lẫn nhau. Thật chẳng ra làm sao cả. Jonathan vẫn nín thinh. - Và chuyện ấy không thể kéo dài mãi được. Jonathan cụp mắt xuống. Michael nhìn anh gần như rất trìu mến. - Thế nên tốt hơn là thúc tiến trước đi… Anh ta cắn một miếng bánh carrot cake. - Tôi đã động não ghê lắm, lật ngược lật xuôi vấn đề, và cuối cùng tôi đã tìm ra đề xuất này cho cậu. - Một đề xuất à? - Ừ. Jonathan lại quay về với trạng thái yên lặng. - Cậu không cần trả lời ngay lập tức đâu, hãy cứ bình tĩnh suy xét cho kỹ. Jonathan nhìn anh ta một cách chăm chú. - Tôi sẵn sàng, - Michael lên tiếng, - gắng sức để mua lại các phần của cậu, nếu như cậu muốn rút đi. - Các phần của tôi… thuộc văn phòng công ty ư? - Đúng thế, chứ không phải phần bánh ga-tô của cậu đâu. Jonathan không sao thốt được thành lời. Anh chưa bao giờ có ý định rời khỏi công ty mà họ đã cùng nhau sáng lập nên. Anh đã đầu tư vào đó biết bao nhiêu, cả thể xác lẫn tâm hồn, đến nỗi mà nơi đó đã trở thành… như chính một bộ phận của cơ thể anh vậy. Anh cảm thấy lòng quặn thắt. Rời khỏi công ty đồng nghĩa với việc tự cắt đi phần cốt lõi nhất của cuộc đời anh. Bắt đầu lại từ con số 0. Phải gầy dựng lại toàn bộ… Một màn hình ti vi gắn trên tường trong quán cà phê đang phát những hình ảnh về Austin Fisher, quán quân quần vợt đã giật được cơ man là giải thưởng. Sau khi đã tiếp tục chiến thắng giải Wimbledon vài tuần trước, cầu thủ này lại có mặt tại Flushing Meadow với rất nhiều triển vọng cho giải US mở rộng. Jonathan nhìn những hình ảnh, vẻ mơ màng. Bán lại các cổ phần cho Michael chắc cũng sẽ đồng nghĩa với việc từ bỏ ước mơ thầm kín của anh: vượt anh ta, để đến lượt anh sẽ trở thành người thu được thành quả kinh doanh tốt nhất. - Tôi sẽ phải đi vay thêm, - Michael tiếp tục lên tiếng - cũng nặng đô đấy, nhưng có lẽ đó là điều mà tất cả chúng ta nên làm. - Hello mọi người! Angela ngồi vào bàn cùng họ và ồn ĩ thở hắt ra để biểu lộ sự bực bội của mình, tuy nhiên vẫn có nụ cười thoáng trên môi. Jonathan biết rõ tâm tính cô ấy. - Cô khỏe chứ? - Michael hỏi. - Con gái anh đã không muốn đánh răng, - cô gái lên tiếng trong lúc hất cằm về phía Jonathan. - Đương nhiên là mẹ nó đã không nhân nhượng. Em đã phải chiến đấu trong suốt mười phút liền… Kết quả là khi đến nơi thì cổng trường đã đóng. Nó đã phải tự bấm chuông phòng người quản trường và đã bị mắng cho một trận. Đáng đời nó lắm! - Cà phê Mỹ, như thường lệ chứ hả? - Michael hỏi mà không đánh mất đi nụ cười của mình. - Không, một cà phê đúp đi, - Angela đáp và lại tiếp tục thở hắt ra. Michael gọi cà phê. Angela đưa mắt nhìn Jonathan kèm theo một nụ cười a-xít. - Anh có vẻ bình thản nhỉ. Thư giãn… Anh không phản ứng. Cô luồn bàn tay vào mái tóc hạt dẻ sáng màu và dài chớm vai của mình. - Anh đã trách em, - cô nói, - dành thời gian chăm sóc đám cây cối hơn là chăm con gái nhưng mà… - Anh chưa bao giờ trách em điều ấy, - Jonathan phản kháng bằng một chất giọng đã kịp mang màu cờ trắng rồi. - Nhưng đám cây cối của em, như anh thấy đấy, chúng chẳng bao giờ lăn lộn ra đất và kêu toáng lên cả. Jonathan cố kìm một nụ cười, rồi uống tách cà phê của mình mà không nói gì. Họ chia tay nhau đã ba tháng nay, nhưng cô tiếp tục trách cứ anh hệt như trước đây. Và kỳ lạ, đột nhiên anh cảm thấy thích điều ấy. Bởi nó gây cho anh cảm giác quan hệ giữa anh và cô, dẫu đã chia cắt, nhưng vẫn tiếp tục. Anh chợt ngộ ra điều mà anh đã chưa bao giờ thú nhận: tận sâu trong tâm khảm mình, tia hy vọng sẽ nối lại tình xưa vẫn đang ngủ gà ngủ gật đâu đó. Bán các cổ phần của anh trong công ty cho Michael là dập tắt cả tia hy vọng đó trong anh, khi hủy bỏ mối quan hệ hàng ngày cuối cùng giữa anh và Angela. Anh quáng quàng đi đến buổi hẹn làm việc đầu tiên trong ngày, bỏ mặc các cộng sự trên sân hiên quán cà phê. Bản danh sách những khách hàng tiềm năng cần gặp gỡ thì dài. Sẽ là một ngày vất vả đang chờ đợi đấy, nhưng hôm nay là ngày làm việc cuối cùng trước kỳ nghỉ cuối tuần. Anh sẽ còn thời gian để nghỉ ngơi. Anh còn lâu mới hình dung rằng chỉ hai ngày sau, cuộc đời của anh sẽ thay đổi hoàn toàn. Mời các bạn đón đọc Bỗng Dưng Muốn Sống của tác giả Laurent Gounelle.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Xa Ngoài Kia Nơi Loài Tôm Hát
Sáu triệu bản bán ra trên toàn thế giới 58 tuần trong danh sách bán chạy của New York Times Dẫn đầu mục tiểu thuyết bán chạy của Amazon trong năm 2019 Trong nhiều năm, những tin đồn về "Cô gái đầm lầy" đã ám ảnh Barkley Cove, một thị trấn yên tĩnh trên bờ biển Bắc Carolina. Vì vậy, khi nơi này rúng động với cái chết đầy bí ẩn của Chase Andrew, người dân địa phương ngay lập tức đổ dồn nghi ngờ vào cô. Nhưng Kya Clark – cô gái hoang dã ấy có phải là thủ phạm? Thông minh và nhạy cảm, cô đã sống sót sau nhiều năm cô đơn trong đầm lầy, trú ẩn trong lòng mẹ thiên nhiên, kết bạn với mòng biển và học những bài học đắt giá trên bờ cát. Khi trái tim tuổi mới lớn mở ra, cô cũng chạm vào yêu thương với hai chàng trai, bắt đầu một cuộc sống mới cho đến khi điều bất ngờ xảy đến… “Một tiểu thuyết lãng mạn đầy ắp hơi thở thiên nhiên với một cú ngoặt chết người.” — REFINERY29 “Đầy chất thơ… Sức hấp dẫn của cuốn sách đến từ sự liên kết sâu sắc giữa Kya với vùng đất đã là nhà cô, và với mọi sinh vật của vùng đất đó.” — BOOKLIST *** Cuốn sách "Xa ngoài kia nơi loài tôm hát" của Delia Owens là một tiểu thuyết lãng mạn đầy ắp hơi thở thiên nhiên đẹp đẽ và đau đớn. Cuốn sách Xa ngoài kia nơi loài tôm hát (Tên gốc: Where the Crawdads Sing) lấy bối cảnh những năm 1950 về cô gái trẻ Kya Clark ở Bắc Caroline, nước Mỹ. Kya được biết với cái tên "Cô gái đầm lầy" bởi cô sống một mình giữa thiên nhiên, chỉ kết nối với một vài người. Nhưng khi một vụ án mạng xảy ra, tất cả đổ dồn vào cô bé hoang dã và đơn độc ấy. Lấy vụ án làm trung tâm cuốn sách, tác giả Delia Owens dẫn dắt người đọc khám phá vùng ngập nước hoang sơ và vắng vẻ của bờ Bắc Carolina qua đôi mắt của một đứa trẻ bị bỏ rơi. Đây là tiểu thuyết đầu tay của Delia Owens, được xuất bản lần đầu năm 2018, nhưng đã nhanh chóng chiếm được sự yêu mến của đông đảo độc giả. Cuốn sách đạt được 6 triệu bản bán ra trên thế giới, liên tục đứng trong danh sách bán chạy của New York Times suốt 58 tuần và dẫn đầu mục tiểu thuyết bán chạy của Amazon trong năm 2019. Trên Goodreads, cuốn sách nhận được gần một triệu đánh giá khi 88% độc giả nói rằng mình yêu thích cuốn sách. Trên Amazon, tác phẩm của Delia Owens cũng nhận được hơn 111.000 đánh giá, trong đó có hơn 86.000 đánh giá 5 sao. Delia Owens sinh năm 1949, là tác giả, nhà động vật học người Mỹ. Bên cạnh cuốn tiểu thuyết Xa ngoài kia nơi loài tôm hát, bà còn cùng chồng cũ viết ba cuốn sách về thế giới hoang dã tại châu Phi. Tại Việt Nam, Xa ngoài kia nơi loài tôm hát được dịch giả Trương Hoàng Uyên Phương chuyển ngữ. Theo cô, việc chuyển ngữ tựa đề của cuốn sách là một thách thức lớn, khó nhất là làm sao để người đọc hình dung được một không gian hoang vu và xa vắng, văng vẳng âm thanh rất nguyên sơ của các loài hoang dã. Cuốn sách được viết bằng thứ văn phong đặc biệt, đầy sức sống và hoang dại như tự nhiên, nhưng cũng đầy chất thơ và có sức gợi mãnh liệt. Từ chính nội dung tuyệt đẹp đó, tên sách Xa ngoài kia nơi loài tôm hát đã được ra đời. Dịch giả Uyên Phương cũng đánh giá cuốn sách nổi bật nhất với hai điểm: Cuộc sống khắc nghiệt mà cũng đầy chất thơ của Kya ở đầm lầy và bí ẩn vụ án mạng. Vì Kya gần như phải đơn độc sinh tồn nơi hoang dã, tự nhiên đã trở thành người bạn, người mẹ, người thầy của cô bé. Đó là một thiên nhiên rất đẹp, tráng lệ và huyền bí, trù phú mà khắc nghiệt, tàn nhẫn nhưng lại dịu dàng. Người đọc sẽ dễ dàng bị cuốn hút, ngỡ ngàng, rung động và có lúc rùng mình với những bài học từ thiên nhiên đó. Còn về vụ án mạng trong cuốn sách, dịch giả bật mí rằng, có lẽ độc giả sẽ phải suy nghĩ rất lâu về định kiến cũng như sự phán xét của con người. *** MỞ ĐẦU 1969 Đồng lầy chẳng phải đầm lầy. Đồng lầy là một không gian tràn ánh sáng, nơi cỏ vươn lên trong nước, và nước trôi vào trong bầu trời. Dòng chảy chầm chậm quanh co, mang theo quả cầu mặt trời ra đến biển, và lũ chim chân dài lêu nghêu cất mình vụt lên với sự uyển chuyển không ai ngờ đến – thân hình chúng dường như không được tạo ra để bay lượn – trên nền âm thanh cả ngàn con ngỗng tuyết kêu ran. Rồi trong chính đồng lầy, ở đó đây, đầm lầy đích thực len lỏi vào những vùng trũng thấp, ẩn khuất giữa ẩm ướt đại ngàn. Nước đầm lầy tĩnh lặng và tối tăm, nuốt chửng ánh sáng trong cổ họng bùn nhớp nháp. Trong cái hang đó, cả những loài chuyên lẩn lút về đêm cũng hoạt động ban ngày. Nơi đây cũng có tiếng động, tất nhiên, nhưng so với đồng lầy thì đầm lầy tĩnh mịch hơn hẳn vì sự phân hủy là hoạt động chế ngự tất cả. Sự sống mục nát, bốc mùi và trở về thứ mùn thối rữa; một chốn trầm mình sầu bi của cái chết cho sự sống vươn lên. Vào buổi sáng ngày 30 tháng Mười năm 1969, xác của Chase Andrews nằm trong đầm lầy, cái đầm hẳn sẽ nuốt chửng nó dần dần, lặng lẽ. Vĩnh viễn che giấu nó. Đầm lầy tường tận mọi điều về cái chết, và không nhất thiết coi đó là thảm kịch, chắc chắn chẳng phải là tội ác. Thế nhưng buổi sáng này, hai cậu bé từ ngôi làng đạp xe đến chỗ tháp phòng cháy cũ, và từ chỗ ngoặt thứ ba trên cầu thang đã trông thấy chiếc áo khoác denim của cái xác kia. *** 1952 Sáng ngày hầm hập cái nóng trời tháng Tám, hơi thở ẩm ướt của đồng lầy giăng màn sương mờ lên những nhánh sồi với cành thông. Trảng cây cọ đứng im đến lạ lùng, chỉ có tiếng vỗ cánh trầm trầm, chậm chạp của lũ diệc cất mình lên từ phá nước. Và rồi Kya, bấy giờ chỉ mới sáu tuổi, nghe tiếng cửa lưới sập lại. Đứng trên chiếc ghế cao, con bé ngừng cọ bợn cháo ngô bám trên nồi và để nồi xuống bồn đầy bọt xà phòng đã xẹp. Chẳng còn tiếng động nào nữa ngoài tiếng thở của con bé. Ai vừa ra khỏi lán vậy nhỉ? Không phải má. Má có bao giờ để cửa sập lại đâu. Ấy vậy mà khi chạy ra hiên, Kya lại thấy má trong bộ váy dài nâu, những nếp xếp li nhịp nhịp víu vào mắt cá khi bà bước xuôi dải đường cát trong đôi giày cao gót. Đôi giày mũi bầu giả da cá sấu. Đôi duy nhất để bà mang ra ngoài. Kya muốn gọi to nhưng biết khôn hồn thì chớ có đánh thức ba dậy, vậy là nó mở cửa ra đứng trên bậc thềm gạch ván. Từ chỗ đó, con bé thấy chiếc vali nhỏ màu xanh lam má xách theo. Mọi ngày thì với sự tin tưởng của một chú chó con, Kya biết má sẽ quay về với chút thịt gói trong giấy nâu dính mỡ hoặc một con gà, đầu lủng lẳng chúc xuống. Thế nhưng bà chưa bao giờ mang đôi giày da cá sấu, chưa bao giờ xách theo hành lý cả. Má luôn luôn nhìn lại từ chỗ lối đi nhỏ gặp đường mòn, một tay giơ lên cao, lòng bàn tay trắng nõn nà vẫy vẫy trước khi bà quay lưng bước tiếp, len lỏi qua những khu rừng đầm lầy cùng phá nước khin khít cỏ đuôi mèo, rồi có lẽ nếu con nước gia ơn, cuối cùng bà sẽ ra đến phố. Thế nhưng hôm nay bà không ngoảnh lại mà cứ dấn bước, loạng choạng giữa những vết lún trên đường. Dáng vóc cao của bà thỉnh thoảng hiện ra qua những lỗ hổng giữa rừng, cho đến khi chỉ còn thấy thấp thoáng màu trắng chiếc khăn choàng qua kẽ lá. Kya vụt chạy đến chỗ nó biết con đường sẽ lộ ra; chắc chắn má sẽ dừng lại vẫy tay từ đó, nhưng tới nơi, con bé chỉ kịp thoáng thấy màu lam của chiếc vali trước khi nó mất hút – cái màu sao mà chỏi giữa cánh rừng mướt rượt màu xanh lục. Một cảm giác nặng nề dày đặc như bùn gòn đen chèn lên ngực con bé khi nó quay lại đợi ở bậc thềm. Kya là đứa nhỏ nhất trong đám anh em nhà này, mấy anh chị lớn hơn nó nhiều, mặc dù sau này con bé không nhớ tuổi của họ nữa. Bọn trẻ sống với ba và má, chen chúc nhau như bầy thỏ nhốt chuồng, trong cái lán thô sơ tạm bợ, hàng hiên có lưới che lỏ mắt dòm ra dưới những tán sồi. Jodie, thằng anh gần Kya nhất nhưng vẫn lớn hơn nó bảy tuổi, bước từ trong nhà ra và đứng sau con bé. Jodie có cùng cặp mắt và mái tóc đen của em gái; thằng nhỏ đã dạy con bé bài hát của lũ chim, tên gọi những vì sao và cách lái thuyền qua đám cỏ răng cưa. “Má sẽ về thôi,” thằng anh nói. “Em hông biết. Má mang đôi dày cá sấu đó.” “Một bà má hông bỏ mấy đứa con nhỏ đâu. Điều đó hông nằm trong bản tính của họ.” “Anh kể với em là cáo cái bỏ con của nó mà.” “Ừ, nhưng con cáo đó bị toạc hết chân rồi. Nó xẻ chết đói nếu cố nuôi cả mình dới bầy con nhỏ. Tốt hơn là nó bỏ đám này, dưỡng thương cho lành lại, rồi đẻ thêm khi có thể nuôi tụi nhóc ra hồn. Má thì đâu có đói, má sẽ quay lại.” Jodie không chắc chắn như nó ra vẻ thế, nhưng vẫn nói vậy vì Kya. Cổ họng nghèn nghẹn, con bé thì thầm, “Nhưng má xách theo cái vali xanh như xắp đi xa lắm.” Cái lán nằm tựa vào trảng cọ lùn, vô số cụm cọ mọc rải rác, tỏa khắp bãi cát tới chỗ chuỗi những phá nước xanh, và ở xa xa là toàn bộ vùng đồng lầy sau đó. Hàng dặm lưỡi cỏ cứng cáp đến độ chúng mọc lên cả trong nước mặn, chỉ bị ngắt quãng bởi những thân cây uốn cong đến nỗi chúng mang hình hài cơn gió. Rừng sồi dồn lại quanh những phía khác của cái lán nhỏ, bao bọc lấy phá nước gần đó nhất, nơi mặt nước giàu sự sống đến sục sôi. Bầu không khí trĩu muối và bài ca mòng biển tràn qua hàng cây dạt tới từ biển cả. Từ thế kỷ 16, việc khẳng định quyền sở hữu một vùng lãnh thổ chẳng thay đổi gì mấy. Những khu đồng lầy có chủ rải rác đó đây không được mô tả trên giấy tờ pháp lý, chỉ được vạch ranh giới tự nhiên – một cây sồi chết ở kia, một con lạch đằng này – bởi những kẻ trốn chạy. Người ta đâu có tự dưng dùng cọ dựng chốn nương thân ở đầm lầy, trừ phi đang trốn kẻ nào đó hay đã cùng đường tận lối. Đồng lầy được bao bởi một đường bờ biển bị xé nham nhở, mà những nhà thám hiểm ngày trước gán cho cái tên “Nghĩa địa của Đại Tây Dương” vì dòng chảy rút xa bờ, những luồng gió dữ và bãi cạn sẽ đánh cho tàu thuyền vỡ nát như mấy chiếc nón giấy dọc vùng bờ sẽ trở thành bờ Bắc Carolina. Nhật ký một thủy thủ viết, “vòng quanh bờ biển… nhưng không thấy lối vào… một cơn bão dữ dội ập tới… chúng tôi buộc phải quay ra để giữ cho mình và con tàu được an toàn, và bị xô đẩy dồn dập bởi một cơn sóng dữ… Đất liền… toàn đồng lầy nối đầm lầy, chúng tôi quay về tàu… Làm nản lòng tất cả những ai sau này tìm tới đây cư ngụ.” Những người tìm đất an cư bỏ qua chốn này, và vùng đồng lầy nổi tiếng đây trở thành một tấm lưới, vớt lên một mớ lộn xộn những tay thủy thủ nổi loạn, nạn nhân đắm tàu, con nợ và bọn người trốn chạy khỏi chiến tranh, thuế má hay luật lệ mà họ không ưa. Những kẻ mà bệnh sốt rét không giết chết hay đầm lầy không nuốt chửng sinh ra một bộ lạc người rừng thuộc nhiều chủng tộc và nền văn hóa, mỗi người có thể đốn trụi một khu rừng nhỏ với một cái rìu và vác một con hươu đi hàng dặm. Như lũ chuột sông, mỗi người có riêng một lãnh thổ, nhưng họ phải hòa nhập với cảnh sống ngoài rìa hoặc đơn giản là một ngày biến mất trong đầm tối. Hai trăm năm sau, nhóm này kết nạp thêm những nô lệ bỏ trốn vào đồng lầy và các nô lệ được trả tự do, không xu dính túi và cùng quẫn, tản mát vào vùng đất ngập nước vì chẳng còn bao nhiêu lựa chọn khác. Có lẽ đó là vùng hiểm ác, nhưng không một tấc đất nào nghèo. Tầng tầng lớp lớp sự sống – cua rù rì ngoe nguẩy, tôm hùm đất sủi bùn, hằng hà chim nước, cá, tôm, sò, hươu béo xị, ngỗng mập núc – chất chồng trên đất hay trong nước. Kẻ không ngại lùng sục tìm bữa ăn sẽ không đời nào chết đói được. Bấy giờ là năm 1952, nên đã bốn thế kỷ liền vùng đất bị giành quyền sở hữu bởi một chuỗi rời rạc những người không có sổ sách nào ghi lại. Hầu hết là trước cuộc Nội chiến. Một vài kẻ khác đến chiếm dụng đất gần đây, đặc biệt là sau hai cuộc chiến tranh thế giới, khi những người đàn ông trở về trong tan nát và túng quẫn. Đồng lầy không giam giữ mà định nghĩa con người họ, và như tất cả những vùng đất linh thiêng, chúng giữ cho bí mật của họ được vùi sâu. Họ chiếm đất mà chẳng ai quan tâm vì không ai thèm muốn nó. Dù sao, nó cũng chỉ là thứ bãi lầy hoang. Cũng như cách họ làm lậu rượu whiskey, cư dân đồng lầy đặt ra luật lệ của riêng mình – không giống kiểu luật khắc vào đá hay ghi lên giấy, mà là thứ luật sâu xa hơn, in hằn trong gen họ. Tự nhiên và cổ xưa, như nở ra từ trứng diều hâu với bồ câu. Khi bị dồn vào đường cùng, bí bách, tuyệt vọng hay bị cô lập, con người trở lại với thứ bản năng nhằm thẳng tới sinh tồn. Nhanh gọn và đích đáng. Chúng luôn là những lá chủ bài vì được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thường xuyên hơn loại gen hiền. Đó chẳng phải đạo lý gì, chỉ là phép toán đơn giản. Giữa đồng loại, bồ câu cũng đánh nhau thường xuyên chẳng kém diều hâu. Hôm đó má không về. Chẳng ai đả động gì tới chuyện đó. Ba lại càng không. Bốc mùi cá và nước dùng, ông khua nắp nồi loảng xoảng. “Bữa tối có gì hả?” Mắt cụp xuống, mấy anh chị em chúng nó nhún vai. Ba chửi thề rồi khập khiễng đi ra, trở vào rừng rậm. Đã có nhiều vụ cãi cọ trước đó; má thậm chí đã bỏ đi một hai lần, nhưng lần nào bà cũng quay về, vơ lấy bất kỳ đứa nhỏ nào để ôm ấp. Hai cô chị lớn nấu bữa tối gồm bánh ngô với đậu đỏ, nhưng không đứa nào ngồi vào bàn ăn như chúng sẽ ngồi với má. Mỗi đứa xúc vội đậu từ nồi, trút đại bánh ngô lên trên, rồi lảng đi ăn ở góc của chúng trên thảm trải sàn hay cái sô-pha sờn cũ. Kya không ăn được. Nó ngồi trên bậc thềm trước hiên nhìn xuống con đường. Người cao so với tuổi, gầy trơ xương, con bé có nước da rám thẫm và mớ tóc đen, thẳng, dày như cánh quạ. Màn đêm buộc nó ngừng trông ngóng. Tiếng ếch ồm ộp sẽ vùi đi tiếng bước chân; dẫu vậy, con bé vẫn nằm trên cái giường ngoài hiên, dỏng tai nghe ngóng. Mới sáng hôm đó, nó hãy còn thức dậy trong tiếng mỡ lợn xèo xèo trên chảo sắt và mùi bánh mì sạm nâu trong lò. Kéo cái quần yếm lên người, con bé xộc vào bếp để bày dĩa và nĩa. Nhặt mấy con mọt trong cháo bỏ ra. Hầu như sáng nào cũng vậy, tươi cười, má sẽ ôm lấy nó – “Chào buổi sáng, con gái đặc biệt của má” – và hai má con sẽ làm hết việc này tới việc nọ, thoăn thoắt như múa. Thỉnh thoảng má còn cất giọng hát dân ca hay đọc vài đoạn thơ cho con trẻ: “Chú heo nhỏ đi chợ lon ton.” Hoặc má sẽ đẩy đưa Kya theo điệu jitterbug nhịp dồn, chân họ giẫm bùm bụp lên sàn gỗ dán cho đến khi tiếng nhạc từ cái radio chạy pin dần tắt ngỏm, nghe như nó đang tự hát cho mình nghe dưới đáy một cái thùng tròn. Vào những buổi sáng khác, má lại nói mấy chuyện người lớn mà Kya không hiểu, nhưng con bé đoán rằng lời nói của má cần có chỗ để thoát ra, nên nó thấm lấy từng lời qua da, trong khi tay nhét thêm củi vào lò. Gật gù làm như hiểu rõ. Sau đó là cái nhốn nháo ngược xuôi khi mọi người thức dậy và ăn sáng. Ba không ở đó. Ông chỉ có hai chế độ: im lặng và gào thét. Nên cũng tốt khi ông cứ ngủ, hoặc không về nhà. Thế nhưng sáng nay, má im lặng; nụ cười đánh mất, mắt đỏ hoe. Bà cột thấp ngang trán một cái khăn màu trắng theo kiểu hải tặc, nhưng cái viền thâm tím vàng của một vết bầm vẫn lộ ra. Ngay sau bữa sáng, trước khi chén dĩa được rửa sạch, má đã cho vài món tư trang vào vali và theo lối nhỏ mà đi mất. Sáng hôm sau, Kya lại tới chỗ cũ của nó trên bậc cửa, cặp mắt đen hun hút xoáy xuống con đường như một đường hầm đợi tàu qua. Đồng lầy phía xa bị màn sương bao phủ, sương sà thấp đến nỗi cái gót mềm của nó chạm hẳn xuống bùn. Chân trần, Kya nhịp nhịp ngón chân, xoay xoay ngọn cỏ chọc vào đám ấu trùng kiến sư tử, nhưng một đứa nhỏ sáu tuổi nào có ngồi yên được, chẳng mấy chốc con bé đã la cà tới bãi triều, tiếng nước vỗ liếm láp ngón chân nó. Ngồi xổm bên rìa nước, con bé dõi theo lũ cá tuế vọt qua vọt lại giữa chỗ nắng với chỗ có bóng râm. Jodie cất tiếng gọi Kya từ đám cọ lùn. Con bé nhìn chăm chăm; có lẽ anh nó tới đưa tin mới. Nhưng trong lúc thằng anh len lỏi qua mấy tán lá đầy gai, con bé nhìn dáng đi lững thững của anh và biết má không có ở nhà. “Em muốn chơi thám hiểm hông hả?” Jodie hỏi. “Anh nói anh quá tuổi chơi hám hiểm rồi mà.” “Đâu, anh nói vậy thôi. Hông bao giờ quá tuổi cả. Đua đi!” Hai đứa ùa chạy qua bãi triều, băng rừng cây lao ra bờ biển. Kya ré lên khi thằng anh vọt qua mặt nó và cười nắc nẻ cho tới khi chúng chạy đến chỗ cây sồi lớn chìa ra trên cát những cánh tay khổng lồ. Jodie và anh cả Murph đã đóng vài miếng ván lên cành cây làm đài quan sát và phòng thủ. Giờ thì hầu hết ván gỗ đã sụp xuống, đong đưa một cách nguy hiểm, chỉ dính vào thân cây nhờ mấy cây đinh sét. Thường ngày, nếu Kya có được cho chơi đoàn thám hiểm thì nó cũng phải đóng vai nô lệ, đưa tới cho các anh bánh mì còn nóng lén lấy từ chảo của má. Thế nhưng hôm nay Jodie nói, “Em có thể làm thuyền trưởng.” Kya giơ cao tay phải trong tư thế xông lên. “Đuổi bọn Tây Ban Nha đi!” Hai đứa nhỏ bẻ cây làm kiếm, xộc qua những bụi mâm xôi um tùm, hét váng lên và đâm kẻ thù lia lịa. Rồi – màn tưởng tượng chợt đến chợt tan – Kya bước lại chỗ một khúc cây phủ đầy rêu và ngồi xuống. Im lặng, Jodie đến ngồi cạnh em. Thằng bé muốn nói gì đó để đứa em gái thôi nghĩ về má, nhưng từ ngữ tắt nghẹn, thế là hai đứa lặng ngắm cái bóng loang loáng bơi bơi của lũ gọng vó. Sau khi quay về, Kya trở lại chỗ bậc thềm và đợi thật lâu, nhưng trong lúc nhìn đăm đắm về phía cuối đường, nó không hề khóc. Gương mặt nó bất động, môi mím lại thành một đường mỏng dưới đôi mắt khắc khoải kiếm tìm. Nhưng ngày hôm đó má cũng không trở lại. Mời các bạn đón đọc Xa Ngoài Kia Nơi Loài Tôm Hát của tác giả Delia Owens & Trương Hoàng Uyên Phương (dịch).
Bay Bằng Đôi Cánh Gãy
Willem 12  tuổi sống với bà ngoại ở tầng 18, Chung cư Beckham, London. Do mắc một dạng rối loạn tự kỷ, Willem hơi ngô nghê trong giao tiếp, ai nói sao cậu hiểu đúng y nghĩa đen vậy, không hiểu người ta nói đùa, với bất cứ việc gì cậu cũng hết sức nghiêm túc, từ làm bài tập về nhà cho đến thức ăn phải để riêng từng đĩa, đến quần áo mặc đúng ngày, và rất nhiều chuyện đặc biệt kỳ lạ (và kỳ cục) khác... Tất nhiên Willem không chỉ rất khó có bạn, mà còn là đối tượng để đám lêu lổng trong trường lẫn trong chung cư bắt nạt. Thế mà, cô Hubert, giáo viên Toán đồng thời là chủ nhiệm lớp, lại không giao cho Willem bài tập về nhà giải 10 phương trình như những đứa khác trong lớp; cô bảo Willem phải kết được hai người bạn cùng tuổi. Vậy nên Willem không được tính bà ngoại, chú bán burger vào được rồi! Lớp học nào cũng có mấy đứa "xóm nhà lá" chuyên nghề quậy phá. Nhưng lũ học trò nhất quỷ nhì ma của lớp Willem còn hơn vậy nhiều, có tới hai băng đảng xưng hùng xưng bá. Một phe là băng Giang hồ Phố Beckham - nghe là biết lũ trẻ trâu trong chung cư của Willem rồi. Phe kia là Băng Tarkey, mà tụi nó khoái xưng là Băng T hơn, đích thị lũ trẻ choai bên Chung cư Tarkey gần đó.  Cầm đầu mấy đứa Giang hồ Phố Beckham trong lớp Willem là thằng Finn. Hai đứa "tà lọt" cho thằng Finn là thằng Laurence và TJ. Ba thằng ôn con này gặp Willem đâu là bắt nạt đó, cái trò thằng Finn khoái nhất là bắt Willem leo lên bàn, leo lên kệ... leo lên bất cứ gì và nhảy xuống theo tiếng hô của nó! Nhưng bữa đó thật bá đạo quá quắt, ba thằng dí Willem trèo lên bờ tường bao khuôn viên trường và bắt thằng nhỏ phải nhảy xuống. Cái tường cao thế kia, lại còn găm đầy miểng chai trên bề mặt...  Giữa lúc ba thằng Finn, Laurence và TJ thi nhau hú hét, chế nhạo, khủng bố tinh thần Willem, chợt có tiếng kêu khóc can ngăn của Sasha Barton. Sasha và Finn là bạn từ hồi chơi hố cát nhà trẻ. Gần đây, thằng Finn nắm tay Sasha làm con bé thấy bủn rủn kỳ cục! "Cảm nắng" thằng Finn ư? Lẽ nào! Nhưng khi Willem liều mạng nhảy từ trên tường xuống, vẫy hai tay như cánh chim và té "rắc" một phát, gãy chân, thằng Finn nắm tay Sasha lôi tuột đi thì con nhỏ răm rắp làm theo, bỏ mặc Willem nằm rên la trên đất.  Willem được đưa đi bệnh viện, cái chân gãy bó bột to đùng. Và cô Hubert quét ánh mắt tia laser nhìn cả hai băng trẻ trâu trong lớp, nghi ngờ không biết ai là thủ phạm vụ kinh thiên động địa này! Trong khi Sasha đang bứt rứt hối hận, cô Hubert lại hỏi ai có thể thay mặt cả lớp đến bệnh viện thăm nom Willem, tỏ tình bằng hữu không. Mặc kệ thằng Finn tức lồi mắt, Sasha đứng bật dậy xung phong.  Đến bệnh viện và chăm một cậu bạn tự kỷ, giao tiếp ngô nghê, nói năng nghiêm trọng như ông cụ non... không phải là phiền phức và chán òm sao? Dĩ nhiên rắc rối chẳng phải dạng vừa! Và Finn đời nào để yên.  Nhưng câu chuyện "tay ba" Finn - Sasha - Willem lọt thỏm giữa câu chuyện lớn hơn nhiều trong cuộc sống ở trường và ở chung cư của chúng. Lũ vô công rỗi nghề đàn anh - đại ca - của hai băng đảng Phố Beckham và Băng T bắt tay nhau chơi lớn: bạo động, cướp phá cửa hàng, thiêu rụi ô tô, đập vỡ kính cửa sổ, choảng nhau đến đổ máu... Những tháng ngày mà nơi này nơi kia ở London bùng lên những cuộc nổi loạn của thanh niên thất nghiệp và bọn trẻ mới lớn a dua, vào hùa... Tuy nhiên, tình bạn bắt đầu từ chiếc xe lăn đẩy Willem chân bó bột, Sasha tả xung hữu đột qua đám bạo loạn đưa bạn về nhà, và thằng Finn thoắt ẩn thoắt hiện, lúc là bạn lúc là kẻ làm loạn - hết sức khó hiểu - dẫn đến nhiều cơ duyên khác cho cuộc đời của ba đứa trẻ. Đầu tiên chúng được gặp Ông già phép màu Archie và Dự án Cộng đồng sửa ô tô ông mở ở tầng hầm chung cư Beckham. Cơ duyên thứ hai, hết sức phi thường, chạm đúng giấc mơ thầm kín - được bay - của Willem và Sasha là gặp gỡ nàng Tiêm kích Spitfire Maisy - một trong những chiến đấu cơ anh hùng của Không quân Anh trong Thế chiến II còn sót lại. Ba là: bài tập thuyết trình nhóm do cô Hubert giao, dẫn đến việc ba đứa Finn - Sasha - Willem và chú chó Buster của Finn lập Hội Spitfire. Và cuối cùng: Đôi cánh bằng gỗ Willem tự chế tạo theo bản vẽ của danh họa đồng thời cũng là nhà sáng chế người Ý Leonardo da Vinci - và lần tung cánh chim trời của cậu ta từ tầng mái chung cư Beckham... hạ cánh nơi chảo ăngten cửa sổ phòng thằng Finn ở tầng 11!  Hồi hộp, cuốn hút theo sự phát triển của từng nhân vật... Bay bằng đôi cánh gãy là câu chuyện cảm động tuyệt vời về tình bạn, tình yêu, những tổn thương tâm lý của trẻ em là nạn nhân bạo hành gia đình; lòng tốt giữa người và người; và dành tặng cho những bóng hồng cánh gió của nước Anh trong Thế chiến II. Cuộc sống đương đại của thành phố London, những vấn đề của giới trẻ ngày nay hiện lên sống động và xúc động trong từng câu chữ! Bay bằng đôi cánh gãy sẽ đưa trí tưởng tượng của các em không chỉ đến những tầng mây đẹp của trời cao mà còn đến những cảm xúc tinh tế nhất trong tâm hồn để làm một con người tự do, dám ước mơ và dám theo đuổi ước mơ... đến vô cùng và xa hơn nữa! *** WILLEM Khi thằng Finn Mason gào ‘nhảy đi’, tức là phải nhảy bật lên cao hết sức bình sinh, bằng không thì chết chắc. Tôi hít một hơi sâu. ‘Nhảy đi, thằng ngu,’ Finn hét lên, một cục nước bọt bắn ra khỏi mép nó. Đứng hai bên thằng Finn là TJ và Laurence. Bọn nó nhìn tôi chằm chằm. Miệng chúng há hốc. Tôi nhích nhích ngón chân ra gờ tường bao khuôn viên trường. Một miếng mảnh chai do thầy Patricks, thầy giám thị, cắm lên trên bậu tường để giữ lũ học trò bất xuất và lũ trộm bất nhập, nghiến lạo xạo dưới chân tôi. Chẳng có tên trộm nào thèm đột nhập vào cái trường này vì đâu còn gì mà chôm chỉa. Thằng Finn Mason đã vét sạch sành sanh rồi. ‘Nhảy đê! Nhảy đê! Nhảy đê!’ Laurence và TJ hô vang. Laurence cười ha hả. Còn TJ trông như thể sắp đổ bệnh đến nơi. Mấy ngón tay tôi bắt đầu run. Tôi thò tay vào túi phải tìm con máy bay mô hình Spitfire Mark 1 của mình. Nó đã biến đâu mất! Xoay xoay cánh quạt ở mũi con máy bay mô hình này thường giúp tay tôi bớt quýnh quáng và đầu óc tôi có thể tập trung giải quyết những bài toán khó nhằn, ví dụ như lần này, khi tôi đang bị ép phải nhảy từ trên bờ tường cao chót vót xuống. Tôi sục tay qua túi trái, dù biết chắc mình luôn cất con mô hình Spitfire Mark 1 ở túi bên phải thôi. Nó cũng không có ở đó. Mất rồi. Mấy ngón tay tôi run bần bật. Lẽ ra tôi không nên đứng trên gờ tường bao khuôn viên trường mới phải. Lẽ ra giờ này tôi đang làm bài tập về nhà. Cô Hubert dạy toán đã giao riêng cho tôi một bài tập khác với cả lớp. Chúng nó phải giải 10 phương trình. Còn tôi phải kết được hai người bạn. Cô Hubert nói bà tôi thì không tính vì là người nhà. Chú Bernie ở Quầy Burger Bernie cũng không được vì chú ấy là người bán hàng. Tôi hỏi cô Hubert có phải là bạn tôi không thì cô trả lời không, cô là cô giáo dạy môn toán của tôi thôi. ‘Em phải kết bạn với hai người cùng tuổi em,’ cô nói. ‘Nhảy đi!’ thằng Finn gào. Nó không phải là bạn tôi. Tôi nhích tới thêm một chút. Một miếng miểng chai đâm xuyên qua vạt đế giày mỏng lét, đôi giày đi học tôi ưa thích thứ nhì, màu đen cột dây, và cứa vào ngón cái chân trái. Thầy Patricks không nên gắn miểng chai lên bậu tường, vì lý do sức khỏe và an toàn mới phải chứ. Thầy Patricks không nên làm giám thị. Thầy ấy nên làm gián điệp ám sát của SAS[1] mới đúng. Thật tức cười, phải không, những chuyện như vậy lại hiện lên trong đầu khi bạn sắp phải nhảy xuống khỏi bậu tường và chết ngắc. Có tiếng máy bay bay ù ù trên trời. Tôi ngước lên. Hình như là một chiếc Boeing 747-400, nhưng cũng khó mà nói trúng được khi bạn đang cố giữ thăng bằng trên gờ tường cao chót vót thế này. Loại máy bay đó có thể bay một mạch không ngừng đến 7.670 hải lý. Mấy thông số máy bay giúp tôi bình tĩnh một chút. ‘Nhảy đi,’ thằng Finn quát. Thằng Finn có quả đầu tóc vàng loăn xoăn. Nó không chải đầu. Mũi nó có bảy nốt tàn nhang. Tôi đã nhẩm đếm tàn nhang trên mũi thằng ấy khi nó bắt tôi nhảy từ bàn học xuống đất giờ ra chơi ngày hôm qua. Từ trên tường cao nhìn xuống, thằng Finn, TJ và Laurence trông bé xíu. ‘Tao đã bảo NHẢY!’ Finn gào. Tôi nhìn xuống. Tôi, Willem Edward Smith, xin tuyên bố ở đây rằng tôi không hề sợ độ cao. Gia đình tôi sống ở tầng 18 Chung cư Beckham. ‘Chúng ta ngủ cao hơn cả lũ chim,’ bà tôi vẫn thường nói. Nếu đúng là tôi sắp chết thật thì tôi sẽ xin vị thánh nào phụ trách trên ấy - Chúa chẳng hạn, hoặc nếu ngài bận thì có thể phụ tá của ngài Thánh Phêrô cũng được - cho tôi đầu thai thành một chú chim vì tôi không thích làm Willem Edward Smith cho lắm. Bà tôi dạy phải luôn vươn tới đỉnh cao. Nên tôi hy vọng Chúa sẽ có mặt ở đó khi tôi đưa lời thỉnh cầu. Có lẽ tôi nên đặt lịch hẹn gặp ngài. Bà còn dạy tôi một điều nữa là phải luôn lên kế hoạch cho mọi chuyện, có như vậy mới đối phó được những bất ngờ quái gở trong đời. Thế nên mỗi khi nhìn thấy Finn đi trên hành lang trong trường là tôi sẽ bắt đầu nhảy lên nhảy xuống tại chỗ trước cả khi nó bảo tôi làm vậy. Tôi vò tóc bù xù và kéo đứt một chiếc cúc áo và tự tát vào mặt mình cho đến khi má tôi hằn một vệt đỏ. Kế hoạch của tôi là lừa thằng Finn tin nó đã đánh tôi rồi. Finn là thằng não cá vàng nên đôi khi kế hoạch này thành công, nhưng những lần còn lại nó toàn bắt tôi nhảy cao hơn nữa và đạp vào bụng tôi. ‘Nhảy đi! Nhảy đi! Nhảy đi!’ Chúng nó đồng thanh gào mỗi lúc một to hơn. Ngón tay tôi run rẩy hơn nữa. Nếu tôi nhảy xuống bờ tường này rồi chết đi thì mỗi sáng ai sẽ pha trà và bưng cho bà tôi đĩa bánh quy ăn nhẹ đây? Mà tiện thể, tôi cho rằng chấm dứt cuộc đời ngắn ngủi mới 12 năm của tôi như này là hết sức ngớ ngẩn, và tôi bắt đầu nhẩm đếm số ngày, phút và giây mình có mặt trên Trái Đất. ‘Nhảy đi, cái thằng rác rưởi thảm hại,’ Finn cắt ngang phép tính nhẩm trong đầu tôi. Tôi hít sâu một hơi và nhích mấy ngón chân ra khỏi gờ tường thêm nữa. Mặt đất bắt đầu xoay mòng mòng. Tôi lảo đảo. TJ đưa tay lên che mắt. Một đứa con gái nào đó hét lên. Sasha Barton chạy bổ đến chỗ chúng tôi. ‘Finn, cậu đang làm gì đấy? Cậu làm hại Willem thì sẽ bị tống cổ ra khỏi trường lần nữa là cái chắc! Và đừng hòng gặp lại nhau. Vĩnh viễn luôn nha. Rồi bố tớ sẽ cấm cậu xuất hiện trong đời tớ luôn, lần thứ sáu trong năm nay rồi đó.’ Sasha ngước nhìn tôi và lén nháy mắt một cái cực khẽ. Một cái chớp nhẹ, nhưng tôi đã kịp thấy. Nếu ai đó nháy mắt với bạn, có phải họ là bạn của bạn không? Thế rồi con nhỏ hất mái tóc đen dài ra sau tai, lắc lắc đôi khuyên vàng và phẩy tay với thằng Finn. ‘Để yên cho Willem đi Finn, làm ơn mà,’ Sasha nói, nhìn thẳng vào mắt Finn. Thằng Finn không thèm nhìn vào mắt Sasha. Nó nhìn chằm chằm ngực con bé. Có điều ngực con nhỏ không lớn lắm - không đủ để ngăn Finn muốn giết tôi. ‘NHẢY XUỐNG!’ nó gầm lên. Thế là tôi NHẢY XUỐNG. Tôi vờ như mình đang ở trong một chiếc máy bay và dù không cố ý nhưng hình như tôi đã đập đập hai cánh tay như cánh chim khi lao xuống và thế là làm lộ bí mật. Và khi chân tôi gãy rắc một cái, tôi thét lên đau đớn. Nhưng tôi đã không chết. Tôi vẫn là Willem Edward Smith sống ở tầng 18, Căn hộ 103 Chung cư Beckham, Phố Beckham, Tây bắc London, NW1 7AD. Thằng Finn cười phá lên. Rồi cả đám bắt đầu cười hùa theo thằng đó. Nó cúi sát xuống, rít vào mặt tôi, ‘Nó nghĩ nó là chim cơ đấy. Bay đi, con, bay đi.’ ‘Này các em kia! Mấy đứa đang làm gì thế?’ Là thầy giám thị Patricks đang lao về phía chúng tôi. ‘Chuồn thôi!’ thằng Finn thét lên. Finn chộp lấy tay Sasha lôi tuột đi và cả đám bỏ chạy theo, để mặc tôi nằm đó với một chân bị gãy. Có cái gì lấp lánh trong đám cỏ. Là một chiếc khuyên tai của Sasha. Tôi với tay chộp lấy, dù về lý thuyết thì người mới bị thương không nên cử động. Đau điếng. Tôi lén giấu chiếc khuyên vào túi. Nó là bằng chứng tố cáo Sasha đã có mặt ở đây khi tôi nhảy từ trên tường xuống đất, mà tôi thì không muốn một người có thể là bạn mình phải gặp rắc rối. ‘Đợi đấy,’ tôi gào với theo chúng nó. ‘Một ngày nào đó nhất định tao sẽ bay được.’ Mời các bạn đón đọc Bay Bằng Đôi Cánh Gãy của tác giả Jane Elson & Nhung Nhung (dịch).
Dĩ Vãng
Chúng tôi, buổi này, cho ra mắt cuốn Dĩ Vãng, là có ý giới thiệu với các bạn cuốn văn đầu tiên của thi sĩ Hồ Dzếnh (mà những bài thơ trong tờ Tiểu Thuyết thứ bẩy đã khiến các bạn để ý từ lâu). Đây không phải là một câu chuyện biến ảo, ly kỳ đầy những sự hội hộp. Đây chỉ là một câu chuyện dĩ vãng của một thi nhân nhiều tình mộng. …Năm tháng trôi qua, cỏ đã bao nhiêu lần úa và mọc xanh trên những nấm mồ. Một thi nhân, giữa một đêm lành lạnh, nướng sợi tóc bạc vào ngọn lửa một chiếc đèn leo lét, trạnh nhớ đến thời xưa. Thi nhân buồn rầu đọc một lá thư của người mà mười lăm năm trước, chàng đã mất bao nhiêu nước mắt ước ao. Thư ấy có câu: …(Đến bây giờ…người yêu ông đã mất, tôi mới lại dám ngỏ chút lòng oan khổ mà đằng đẵng bao lâu nay tôi từng chép nó bằng nước mắt của một thiếu phụ có chồng, con)… Thi nhân thoáng thấy hình ảnh một người hiền phụ đợi chồng, thấy tất cả một giấc một mộng đương trôi về quá khứ… Tất cả, tất cả cuốn văn chỉ gợi cho ta niềm nhớ, thương một cái gì đẹp đẽ lắm đã mất từ lâu. Nhà Xuất Bản. Á Châu. *** Hồ Dzếnh (1916–1991), tên thật là Hà Triệu Anh hay Hà Anh (ghi theo giọng Quảng Đông là Hồ Dzếnh) là một nhà thơ của Việt Nam. Ông được biết nhiều nhất qua tập thơ Quê ngoại với một giọng thơ nhẹ nhàng, siêu thoát, phảng phất hương vị thơ cổ Trung Hoa. Ngoài ra, Hồ Dzếnh còn là một nhà văn với nhiều tác phẩm, tiêu biểu là tập truyện ngắn Chân trời cũ (1942), Thạch Lam đề tựa. Ông sinh năm 1916 tại làng Đông Bích, xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Cha ông là Hà Kiến Huân, người gốc Quảng Đông sang sinh sống ở Việt Nam từ khoảng 1890, mẹ Đặng Thị Văn là người Việt, quê ở bến Ghép, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa. Ông học trung học, dạy tư, làm thơ, viết báo từ năm 1931 tại Hà Nội. Năm 1953 ông vào Sài Gòn làm báo, năm 1954 trở về Hà Nội tiếp tục viết báo, làm thơ. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ngay từ buổi đầu thành lập (1957). Ông mất ngày 13 tháng 8 năm 1991 tại Hà Nội do xuất huyết dạ dày và viêm thận[1]. Hồ Dzếnh được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. Hồ Dzếnh là một tín hữu Công giáo Rôma, tên thánh của ông là Phaolô Têrêsa.   Nhà thơ Bùi Giáng trong nhiều tập thi thoại đã cho rằng Hồ Dzếnh là người làm thơ lục bát cực hay, nhưng bù lại thơ thất ngôn chỉ ở mức bình thường. Bài "Rằm tháng giêng", theo Bùi Giáng trong cuốn Thi ca tư tưởng thì: "Người Việt Nam có thể không đọc Nguyễn Du, nhưng không thể nào không đọc bài thơ kia của Hồ Dzếnh". Nhà văn Kiều Thanh Quế viết: "Ngòi bút Hồ Dzếnh đã có được lắm đặc tánh khả quan trong khi phô diễn. Nó nên tỏ ra có sức mạnh trong những tiểu thuyết dày dặn, thì tên tuổi của người Minh Hương ấy – Hồ Dzếnh là người Minh Hương, văn học quốc ngữ không nề hà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu nhà văn Việt Nam hữu tài." (Tạp chí Tri Tân số 67, 13/6/1942) "Lời giới thiệu" Tuyển tập Hồ Dzếnh – Tác phẩm chọn lọc, Nhà xuất bản Văn Học 1988, nhận định: "Tác phẩm của Hồ Dzếnh không nhiều, lại không tập trung ở một tờ báo hay đặc san nào. Với bản chất trầm lắng, ông luôn luôn khiêm tốn tự cho mình là người mới bắt đầu bước vào nghề viết. Tuy nhiên, với hai tập văn thơ Chân trời cũ và Quê ngoại, Hồ Dzếnh được biết đến như một nhà thơ có chân tài. " Nhà thơ Hoài Anh viết về Hồ Dzếnh: "Phần đóng góp quan trọng nhất cho văn học Việt Nam của anh lại là tập Chân trời cũ, thể hiện nếp sinh hoạt, tính cách, tình cảm, tâm lý của bà con gốc Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hồ Dzếnh chỉ kể chuyện về người cha mình, các anh, chị, em mình, con ngựa của cha mình... mà làm cho người đọc Việt Nam rung động tận đáy lòng." (Chân dung văn học, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2001) Nhà văn, giáo sư Đặng Thai Mai đánh giá tập truyện Cô gái Bình Xuyên (Nhà xuất bản Tiếng Phương Đông, 1946) viết về cuộc kháng chiến chống Pháp của người dân Nam bộ thời 1945-1946 như là một trong những tín hiệu đầu tiên của văn học kháng chiến. Mời các bạn đón đọc Dĩ Vãng của tác giả Hồ Dzếnh.
Tâm Lý Học Về Tiền
Tiền bạc có ở khắp mọi nơi, nó ảnh hưởng đến tất cả chúng ta, và khiến phần lớn chúng ta bối rối. Mọi người nghĩ về nó theo những cách hơi khác nhau một chút. Nó mang lại những bài học có thể được áp dụng tới rất nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, như rủi ro, sự tự tin, và hạnh phúc. Rất ít chủ đề cung cấp một lăng kính phóng to đầy quyền lực giúp giải thích vì sao mọi người lại hành xử theo cách họ làm hơn là về tiền bạc. Đó mới là một trong những chương trình hoành tráng nhất trên thế giới. Chúng ta hiếm khi lâm vào hoàn cảnh nợ ngập đầu ư? Biết tiết kiệm để dành cho lúc khốn khó hơn ư? Chuẩn bị sẵn sàng cho việc nghỉ hưu? Có những cái nhìn thiết thực về mối quan hệ giữa tiền và hạnh phúc của chúng ta hơn phải không? Chúng ta đều làm những điều điên rồ với tiền bạc, bởi vì chúng ta đều còn khá mới mẻ với trò chơi này và điều có vẻ điên rồ với bạn lại có khi hợp lý với tôi. Nhưng không ai là điên rồ cả – chúng ta đều đưa ra các quyết định dựa trên những trải nghiệm độc đáo riêng có mang vẻ hợp lý với mình ở bất cứ thời điểm nào. Mục đích của cuốn sách này là sử dụng những câu chuyện ngắn để thuyết phục bạn rằng những kỹ năng mềm còn quan trọng hơn khía cạnh lý thuyết của đồng tiền. Thông qua một tập hợp những thử nghiệm và sai lầm của nhiều năm chúng ta đã học được cách trở thành những nông dân giỏi giang hơn, những thợ sửa ống nước nhiều kỹ năng hơn, và những nhà hóa học tiên tiến hơn. Nhưng liệu việc thử nghiệm và sai lầm có dạy chúng ta trở nên giỏi hơn trong cách quản lý tài chính cá nhân của chính mình không? Nhiều tiền không liên quan nhiều đến việc bạn thông minh như thế nào mà lại liên quan lớn đến cách bạn hành xử. Và cách hành xử thì rất khó để uốn nắn, ngay cả đối với những người thực sự thông minh. Một thiên tài không kiểm soát được cảm xúc của anh ta có thể dẫn tới một thảm họa tài chính. Điều ngược lại cũng đúng. Những người bình thường không có kiến thức về tài chính có thể trở nên giàu có nếu họ nắm trong tay những kỹ năng hành xử không liên quan đến những thước đo chính thống về trí thông minh. Sự thành công trong tài chính không phải là một lĩnh vực khoa học khó nhằn. Nó là một kỹ năng mềm, nơi mà cách bạn hành xử quan trọng hơn điều mà bạn biết. Trong “Tâm lý học về tiền”, tác giả từng đoạt giải thưởng Morgan Housel chia sẻ 19 câu chuyện ngắn khám phá những cách kỳ lạ mà mọi người nghĩ về tiền bạc và dạy bạn cách hiểu rõ hơn về một trong những chủ đề quan trọng nhất của cuộc sống. Mời bạn đón đọc Tâm Lý Học Về Tiền của tác giả Morgan Housel & Hoàng Thị Minh Phúc (dịch)!