Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hoa Của Phế Tích

Hoa của phế tích là một trong bộ ba tiểu thuyết được phanbook phát hành vào năm nay. Từ câu chuyện một đôi vợ chồng trẻ tự sát vì những lí do bí hiểm mở ra một cuộc điều tra, theo đó là những bước chân lần theo những khu phố cũ, những đại lộ, những tòa nhà… đậm dấu tích của quá khứ. Giọng văn chậm rãi với những câu chữ buồn mà đẹp đến nao lòng của Modiano mang đến cho độc giả những dư âm mãi váng vất. Để từ đó người đọc có thể thấy được văn chương của Patick Modiano là văn chương của ký ức, bất định tương lai. *** Patrick Modiano là Nhà văn Pháp với hơn 30 tác phẩm bao gồm tiểu thuyết, kịch bản phim,... các tác phẩm của ông đã được dịch 36 thứ tiếng trên thế giới, đạt nhiều giải thưởng danh tiếng, phải kể đến giải Nobel Văn học năm 2014. "Lối viết văn của Modiano rất dễ đọc. Các tác phẩm của ông trông có vẻ đơn giản bởi vì nó tinh tế, thẳng thắn, đơn giản và rõ ràng. Bạn mở sách đọc một trang, và sẽ nhận ra ngay là sách của ông ta, rất thẳng thắn, câu văn ngắn gọn, không cầu kỳ - nhưng nó rất là tinh vi trong cách đơn giản của nó."_ Bí thư thường trực của học viện Nobel Peter Englund Con chó mùa xuân là một trong bộ ba tiểu thuyết được phanbook phát hành vào năm nay. Vẫn với lối viết đơn giản mà tinh tế, Patick Modiano đã dần người đọc vào một hành trình lạ lùng khi hai con đường ngược nhau, cắt nhau nơi ký ức. Như một tất định của đời sống, có tồn tại rồi sẽ có lãng quên, cuối cùng thì không gì có thể níu kéo được hiện hữu thuộc về quá khứ, và tất cả được chứa đựng trong lặng im vĩnh viễn. Để từ đó người đọc có thể thấy được văn chương của Patick Modiano là văn chương của ký ức, bất định tương lai. *** Kho đựng nỗi đau (tựa gốc: Remise de peine, viết năm 1988), Hoa của phế tích (tựa gốc: Fleurs de ruine, 1991), Con chó mùa xuân (tựa gốc: Chien de printemps, 1993) được nhà văn Patrick Modiano (giải Nobel Văn học, 2014) hoàn thành trong ba mốc thời gian khác nhau, nhưng mang đầy đủ những nét đặc thù của không khí, phong cách văn chương ông. Kho đựng nỗi đau lần đầu tiên bức chân dung thời thơ ấu của chú bé Patrick cùng em trai sống trong căn hộ của những diễn viên xiếc ở vùng ngoại vi Paris. Hoa của phế tích là cuộc lần theo manh mối về một vụ tự sát với lý do bí hiểm của đôi vợ chồng kỹ sư trẻ tuổi vào một ngày tháng 3 năm 1933. Còn Con chó mùa xuân là cuộc dò tìm của một người viết tiểu thuyết trẻ tuổi với nỗ lực phục dựng bản tiểu sử của Jasen - một nhiếp ảnh gia sống và ghi chép về Paris nhưng căn cước cá nhân lại nhiều điểm mù bởi dư chấn của thời Đức tạm chiếm… Ba cuốn tiểu thuyết này là dẫn chứng xuất sắc, thuyết phục cho điều mà Patrick Modiano viết trong diễn từ nhận giải Nobel Văn học vào năm 2014: “Người ta có thể lạc lối hoặc biến mất trong một đô thị. Người ta thậm chí có thể thay đổi căn cước và sống một đời khác. Người ta có thể lao mình vào một cuộc điều tra rất dài lâu để tìm lại những dấu vết của một ai đó, và lúc khởi đầu chỉ có một hoặc hai địa chỉ trong một khu phố đã mất biệt. Chỉ dấu ngắn ngủi đôi khi hiện lên trên những phiếu tra cứu luôn luôn tìm được một âm hưởng trong tôi: Nơi cư trú cuối cùng được biết.” Trong lần ấn hành ba tiểu thuyết này, Phanbook cũng phát hành hộp giấy đựng sách Patrick Modiano với thiết kế đẹp, trang nhã dành cho độc giả sưu tầm đủ ba tác phẩm. *** VỀ NHÀ VĂN PATRICK MODIANO Patrick Modiano là nhà văn người Pháp, sinh năm 1945. Ông đạt giải Nobel văn học năm 2014. Nhiều tác phẩm của Modiano đã được in tại Việt Nam. Ba tác phẩm của Patrick Modiano do Phanbook ấn hành: Kho đựng nỗi đau, Hoa của phế tích, Con chó mùa xuân, đều do Hoàng Lam Vân dịch. *** Buổi tối Chủ nhật tháng Mười một ấy, tôi ở trên phố Abbé-de-l’Épée. Tôi đi dọc theo bức tường lớn của Học viện dành cho người câm điếc. Bên trái là tháp chuông nhà thờ Saint-Jacques-du-Haut-Pas cao cao. Tôi còn giữ kỷ niệm về một quán cà phê nơi góc phố Saint-Jacques, tôi hay đến đó sau khi xem phim, rạp Studio des Ursulines. Trên vỉa hè, lá rụng. Hoặc cũng có thể là các trang đã cháy thui của một quyển từ điển Gaffiot[1] cũ. Đây là khu phố của các trường và các tu viện. Vài cái tên cổ kính quay trở lại trong ký ức tôi: Estrapade, Conttescarpe, Tournefort, Pot-de-Fer... Tôi cảm thấy e sợ khi phải băng ngang những chốn tôi chưa từng đặt chân kể từ tuổi mười tám, hồi tôi còn hay lai vãng một trường trung học trên đồi Sainte-Geneviève[2]. Tôi có cảm giác các địa điểm vẫn cứ ở trong tình trạng mà tôi đã để chúng lại từ đầu thập niên sáu mươi, chúng bị bỏ hoang cùng quãng đó, cách đây đã hơn hăm lăm năm. Phố Gay-Lussac - cái phố im lìm ấy, nơi trước đây người ta từng dỡ đá lát và dựng chiến lũy[3] - cửa ra vào một khách sạn đã bị xây bịt lại và phần lớn cửa sổ không còn kính. Nhưng biển hiệu thì vẫn gắn ở đó, trên tường: Khách sạn Tương lai. Tương lai nào? Là tương lai, đã chấm dứt, của một sinh viên hồi những năm ba mươi, thuê lấy một căn phòng nhỏ tại khách sạn ấy, lúc vừa rời trường Sư phạm, và tối thứ Bảy thì mời các bạn học cũ đến chơi. Và họ đi vòng qua mấy khối nhà để tới rạp Studio des Ursulines xem một bộ phim. Tôi đi qua trước rào sắt và ngôi nhà màu trắng nhiều chớp cửa sổ, với rạp chiếu phim chiếm tầng trệt. Sảnh vào sáng đèn. Hẳn tôi có thể đi tiếp tới Val-de-Grâce, cái vùng yên bình ấy, nơi chúng tôi từng trốn, Jacqueline và tôi, để ông hầu tước không có cơ may gặp được nàng. Chúng tôi sống tại một khách sạn nằm đầu phố Pierre-Nicole. Chúng tôi tằn tiện với số tiền mà Jacqueline kiếm được bằng cách bán chiếc măng tô lông thú của nàng. Phố ngập nắng, vào buổi chiều Chủ nhật. Đám thủy lạp của ngôi nhà gạch nhỏ, đối diện trường Sévigné. Dây thường xuân phủ kín các ban công khách sạn. Con chó ngủ trong hành lang lối vào. Tôi đi đến phố Ulm. Nó hoang vắng. Có tự nhủ rằng vậy thì đâu có gì kỳ cục vào một tối Chủ nhật, tại cái khu phố chuyên cần và nhiều chất tỉnh lẻ này, thì tôi vẫn tự hỏi mình có đang còn ở Paris hay không. Trước mặt tôi là vòm tròn của Panthéon. Tôi sợ lại thấy chỉ có độc mình tôi, dưới chân tòa công trình cho người chết ấy, dưới ánh trăng, thế là tôi vội rẽ sang phố Lhomond. Tôi dừng lại trước trường Ái Nhĩ Lan. Một cái chuông điểm tám tiếng, có lẽ chuông của giáo đoàn Thánh Linh mà mặt tiền đồ sộ đang ở kia, bên tay phải tôi. Thêm vài bước nữa, tôi bước vào quảng trường Estrapade. Tôi tìm số 26 phố Fossés-Saint-Jacques. Một tòa nhà hiện đại, kia, trước mặt tôi. Chắc hẳn tòa nhà cũ đã bị phá đi chừng hai mươi năm về trước. Ngày 24 tháng Tư năm 1933. Cặp vợ chồng trẻ tự sát vì những lý do bí hiểm. Đúng là một câu chuyện lạ thường, những gì đã xảy ra đêm qua trong tòa nhà số 26, phố Fossés-Saint-Jacques, gần Panthéon, ở nhà ông và bà T. Ông Urbain T., kỹ sư trẻ tuổi, tốt nghiệp thủ khoa trường Hóa học, cách đó ba năm lấy cô Gisèle S., hăm sáu tuổi, hơn ông một tuổi. Bà T. là một phụ nữ xinh đẹp tóc vàng, cao và thanh mảnh. Về phần chồng bà, ông thuộc típ đàn ông tóc nâu đẹp trai. Cặp vợ chồng hồi tháng Bảy vừa rồi chuyển vào sống ở tầng trệt số 26, phố Fossés-Saint-Jacques, trong một cái xưởng được họ cải tạo thành nhà ở. Cặp vợ chồng trẻ rất gắn bó với nhau. Dường như chẳng mối lo lắng nào nhuốm lên hạnh phúc của họ. Tối thứ Bảy, Urbain T. quyết định cùng vợ ra ngoài đi ăn tối. Họ rời khỏi nhà vào quãng bảy giờ. Mãi khoảng hai giờ sáng họ mới về, cùng hai cặp khác. Gây ồn ào chối tai, họ đánh thức các hàng xóm vốn dĩ chẳng mấy quen thuộc với những biểu hiện ầm ĩ như vậy từ phía những người thuê nhà thông thường rất kín đáo. Chắc hẳn bữa tiệc đã có các biến cố bất ngờ. Quãng bốn giờ sáng, những người khách đi khỏi. Trong vòng nửa tiếng sau đó, vốn dĩ trôi qua trong im lặng, hai phát nổ sượng đục vang lên. Chín giờ, một hàng xóm, ra khỏi nhà, đi qua trước cửa nhà của vợ chồng T. Bà ta nghe thấy có tiếng rên rỉ. Đột nhiên nhớ đến những tiếng nổ trong đêm, bà ta thấy lo lắng nên đập cửa. Cửa mở ra và Gisèle T. xuất hiện. Máu chầm chậm chảy từ một vết thương thấy rõ dưới vú trái. Cô thì thầm: “Chồng tôi! Chồng tôi! Chết rồi”. Một lúc sau, ông Magnan, cảnh sát trưởng, tới nơi. Gisèle T. rên rỉ, nằm trên một cái đi văng. Trong phòng bên cạnh, người ta phát hiện xác chồng cô. Anh vẫn giữ chặt một khẩu súng ngắn trong bàn tay co quắp. Anh ta đã tự sát bằng một viên đạn bắn thẳng vào tim. Bên cạnh anh, một bức thư nguệch ngoạc: “Vợ tôi đã tự sát. Chúng tôi đã say rượu. Tôi tự sát đây. Đừng tìm...”.   Dường như, theo cuộc điều tra, Urbain và Gisèle T., sau bữa tối, đã đến một quán bar ở Montparnasse. Tối hôm trước, từ phố Fossés-Saint-Jacques, tôi đã đi bộ tới giao lộ nơi có quán Dôme và quán Rotonde, sau khi để lại sau lưng khu vườn Đài Thiên văn tối tăm. Vợ chồng T. hẳn đã đi theo cùng con đường như tôi, vào cái đêm năm 1933 ấy. Tôi chợt thấy mình đang ở một cái nơi mà tôi đã tránh kể từ những năm sáu mươi. Cũng như khu Ursulines, khu Montparnasse làm tôi nghĩ đến tòa lâu đài của nàng công chúa trong khu rừng ngủ. Tôi từng có cùng cảm giác ấy, hồi hai mươi tuổi, khi thuê phòng để trú vài đêm tại một khách sạn trên phố Delambre: Thời ấy Montparnasse đối với tôi đã có dáng vẻ của một khu phố sống sót sau chính nó và đang chậm rãi thối rữa, cách xa khỏi Paris. Những lúc trời mưa trên phố Odessa hay phố Khởi Hành, tôi thấy như thể mình đang ở một bến cảng vùng Bretagne, dưới làn mưa phùn. Từ nhà ga, hẵng còn chưa bị phá hủy, bốc lên những bụm không khí của Brest hay Lorient. Bữa tiệc, ở đây, đã kết thúc từ lâu. Tôi còn nhớ rằng biển hiệu của quán Jimmy’s ngày xưa vẫn còn treo trên bức tường của phố Huyghens, và nó bị rơi mất dăm ba chữ, gió ngoài khơi đã thổi tung chúng đi mất. Đó là lần đầu tiên - theo các báo hồi tháng Tư năm 1933 - cặp vợ chồng trẻ bước vào một quán ban đêm của khu Montparnasse. Họ đã hơi quá chén trong bữa tối chăng? Hoặc giả, hết sức đơn giản, họ muốn phá vỡ, dẫu chỉ trong một buổi tối, dòng chảy êm đềm cuộc đời họ? Một nhân chứng khẳng định đã trông thấy họ, quãng mười giờ tối, tại quán Café de la Marine, một sàn dancing, ở số 243, đại lộ Raspail; một người khác, ở quán cabaret tên là Isles, trên phố Vavin, đi cùng hai phụ nữ. Cảnh sát cho công bố ảnh họ nhằm kêu gọi những lời chứng rất có nguy cơ cần phải được thẩm tra kỹ vì có rất nhiều phụ nữ trẻ tóc vàng và chàng trai tóc nâu, như Urbain và Gisèle T. Trong vòng vài ngày, người ta tìm cách xác định hai cặp trai gái mà vợ chồng T. đã đưa về nhà họ, trên phố Fossés-Saint-Jacques, rồi cuộc điều tra được khép lại. Gisèle T., trước khi chết vì các vết thương, đã cất tiếng nói, nhưng những kỷ niệm của cô mơ hồ. Đúng, họ đã gặp, tại Montparnasse, hai phụ nữ, hai người xa lạ mà cô chẳng hề biết gì... Và những người đó đã lôi kéo họ tới Le Perreux, tại một sàn dancing nơi có hai người đàn ông đến với họ. Rồi họ tới một ngôi nhà, ở đó có một cái thang máy màu đỏ. Tối nay, tôi đi theo dấu chân họ trong một khu phố ủ dột được tòa tháp Montparnasse phủ tấm màn tang tóc. Trong ngày, nó che giấu mặt trời và phóng cái bóng của nó lên đại lộ Edgar-Quinet cùng các phố lân cận. Tôi để lại sau lưng quán Coupole mà người ta đang phá đi dưới một mặt tiền bằng bê tông. Tôi thấy thật khó mà tin rằng Montparnasse xưa kia từng biết đến một cuộc sống về đêm... Chính xác thì vào thời nào tôi từng sống ở cái khách sạn trên phố Delambre kia? Quãng năm 1965, khi tôi làm quen với Jacqueline và không lâu trước khi tôi lên đường đi Viên, bên Áo. Căn phòng bên cạnh phòng tôi được thuê bởi một người đàn ông trạc ba lăm tuổi, một người đàn ông tóc vàng mà tôi hay gặp trong hành lang, rốt cuộc tôi cũng bắt đầu quen biết ông ta. Tên ông ta? Cái gì đó giống như Devez hay Duvelz. Lúc nào ông ta cũng ăn vận hết sức chỉn chu và đính một huy chương trên hàng cúc áo. Nhiều lần, ông ta từng mời tôi uống một cốc, rất gần khách sạn, tại một quán bar, Rosebud. Tôi không dám từ chối, ông ta có vẻ rất thích nơi đó. - Ở đây tuyệt quá... Ông ta nói giọng nhiều âm răng, giọng của một người con nhà gia giáo, ông ta đã kể với tôi là ông ta từng ở hơn ba năm “vùng bưng biền”[4] và tại đó, ông ta đã kiếm được tấm huy chương kia. Nhưng cuộc chiến tranh Algérie khiến ông ta thấy lộn mửa. Ông ta đã cần rất nhiều thời gian thì mới hồi phục được từ đó. Ông ta sắp sửa kế tục bố ông ta làm chủ một doanh nghiệp dệt sợi lớn trên miền Bắc. Rất mau chóng, tôi nhận ra rằng ông ta không nói cho tôi sự thật: Về “doanh nghiệp dệt sợi” ấy, ông ta luôn luôn mơ hồ. Và ông ta tự nói ngược với chính mình, một hôm khẳng định với tôi là từng tốt nghiệp trường Saint-Maixent, ngay trước khi sang Algérie, rồi, tới hôm sau, rằng ông ta đã hoàn toàn học bên Anh. Đôi khi, cái giọng đầy âm răng của ông ta nhường chỗ cho giọng đớt của một kẻ bán hàng rong. Chắc cần phải có chuyện tôi bước đi, tối Chủ nhật ấy, trong khu Montparnasse, thì cái tay Duvelz - hay Devez - kia mới có thể đột nhiên hiện ra từ hư vô như thế. Một hôm, tôi còn nhớ, chúng tôi đã tình cờ gặp nhau trên phố Rennes, và ông ta đã mời tôi một bốc bia - như ông ta nói - tại một trong những quán cà phê thuộc giao lộ Saint-Placide buồn thảm. Quán cabaret tên Isles, trên phố Vavin, nơi hẳn người ta phải để ý thấy sự hiện diện của cặp vợ chồng, chiếm tầng hầm của tiệm Vikings. Bầu không khí đậm màu sắc Scandinavia cùng gỗ ốp tường sáng màu của Vikings trông thật tương phản với cái quán rượu nhọ nhem ấy. Chỉ cần đi xuống hết cầu thang: Từ những ly cocktail và các món nhẹ Na-uy ở tầng trệt, người ta sục thẳng vào giữa những điệu nhảy Martinique. Có phải vợ chồng T. đã gặp hai người phụ nữ ở đó? Tôi có cảm giác phải là tại Café de la Marine, đại lộ Raspail, về phía Denfert-Rochereau. Tôi còn nhớ căn hộ nơi Duvelz từng dẫn chúng tôi, Jacqueline và tôi, đến, cũng nằm ở đầu đại lộ Raspail đó. Cả lần ấy nữa, tôi cũng không dám từ chối lời mời của ông ta. Trong vòng gần một tuần, ông ta đã nằn nì cả hai chúng tôi một tối thứ Bảy nào đó cần phải tới nhà một người bạn gái của ông ta, ông ta rất muốn giới thiệu chúng tôi với người ấy. Bà mở cửa cho chúng tôi và, trong bóng tối lờ mờ của tiền phòng, tôi không nhìn rõ khuôn mặt bà. Phòng khách lớn, nơi chúng tôi bước vào, khiến tôi choáng váng vì vẻ xa xỉ của nó, chẳng hề tương hợp với căn phòng nhỏ của Duvelz, trên phố Delambre. Ông ta ở đó. Ông ta giới thiệu chúng tôi với nhau. Tôi đã quên mất tên bà: Đó là một phụ nữ tóc nâu đường nét hài hòa, một bên mặt, ở đoạn gò má, có vết sẹo lớn. Chúng tôi, Jacqueline và tôi, ngồi xuống trường kỷ. Duvelz và người phụ nữ, trong phô tơi, đối diện với chúng tôi. Chắc bà khoảng ba lăm, cùng độ tuổi với Duvelz. Bà tò mò nhìn chúng tôi. - Em có thấy họ thật duyên dáng không, cả hai?, Duvelz hỏi, bằng giọng nói nhiều âm răng của mình. Bà chăm chăm nhìn chúng tôi. Bà hỏi chúng tôi: - Hai người có muốn uống gì không? Giữa chúng tôi xuất hiện một quãng ngại ngần. Bà rót rượu porto mời chúng tôi. Duvelz uống một ngụm lớn. - Thoải mái đi, ông ta nói. Đây là một người bạn lâu năm... Bà ném về phía chúng tôi một nụ cười rụt rè. - Thậm chí chúng tôi từng đính hôn với nhau. Nhưng cô ấy đã phải lấy người khác... Bà không hề nhíu mày. Bà vẫn ngồi rất thẳng ở phô tơi, tay cầm ly rượu. - Chồng cô ấy hay đi vắng... Chắc chúng ta có thể tận dụng điều đó để đi chơi chung cả bốn người... Các bạn nghĩ sao? - Đi chơi đâu? Jacqueline hỏi. - Nơi nào các bạn muốn... Thậm chí chúng tôi còn không có nhu cầu ra ngoài. Ông ta nhún vai. - Ở đây thật hay... Phải không? Bà vẫn ngồi rất thẳng ở phô tơi. Bà châm một điếu thuốc lá, có lẽ để che giấu sự căng thẳng. Duvelz đã lại làm thêm một ngụm porto nữa. Ông ta đặt ly của mình lên cái bàn thấp, ông ta đứng dậy và bước về phía bà. - Cô ấy thật xinh đẹp, phải không? Ông ta đưa ngón tay trỏ lướt trên vết sẹo ở má. Rồi ông ta cởi cúc cái áo của bà và vuốt ve hai vú. Bà không hề động cựa. - Hồi trước chúng tôi đã gặp một tai nạn ô tô rất nghiêm trọng, ông ta nói. Bà hất tay ông ta ra bằng một động tác dữ tợn. Bà lại mỉm cười với chúng tôi. - Chắc hai người đói rồi... Giọng bà trầm và thoáng có âm sắc nước ngoài, dường như vậy. - Anh có thể giúp em mang bữa tối vào đây không? bà hỏi ông ta, giọng khá xẵng. - Tất nhiên rồi. Họ đứng dậy, cả hai. - Toàn đồ lạnh thôi, bà nói. Hai người thấy có được không? - Rất được, Jacqueline đáp. Ông ta đã choàng tay quanh vai bà và kéo bà ra khỏi phòng khách, ông ta thò đầu qua khe cửa mở. - Các bạn có thích sâm banh không? Ông ta đã đánh mất cái giọng nhiều âm răng. - Rất thích, Jacqueline đáp. - Có ngay đây. Chỉ còn lại chúng tôi trong phòng khách, vài phút, và tôi dồn hết nỗ lực ký ức để tập hợp lại càng nhiều chi tiết càng tốt. Những cửa sổ bệ thấp nhìn xuống đại lộ mở hé vì trời nóng. Đó là số 19 đại lộ Raspail. Năm 1965. Một cây đàn piano loại có đuôi đặt tận về cuối phòng. Trường kỷ và hai phô tơi đều làm bằng cùng một thứ da màu đen. Cái bàn thấp, bằng kim loại dát bạc. Một cái tên như là Devez hay Duvelz. Vết sẹo trên má. Cái áo bị cởi cúc. Một làn ánh sáng rất rực của đèn chiếu, hay nói đúng hơn là của đèn pin. Nó chỉ rọi sáng một mảnh nhỏ của décor, một giây phút đơn lẻ, mà để những gì còn lại trong bóng tối, bởi chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được đoạn sau các sự kiện và nói cho đúng thì hai người kia là ai. Chúng tôi lẻn ra khỏi phòng khách và, thậm chí còn không khép cửa lại, chúng tôi đi xuống cầu thang. Lúc nãy, chúng tôi đã dùng thang máy để lên, nhưng nó không màu đỏ, giống cái thang máy mà Gisèle T. từng nhắc đến. Mời các bạn đón đọc Hoa Của Phế Tích của tác giả Patrick Modiano & Hoàng Lam Vân (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Những Cây Cầu Ở Quận Madison - Robert James Waller
Nếu bạn vẫn còn đang tự hỏi tình yêu là gì? thì “Những cây cầu ở quận Madison” sẽ cho bạn đáp án. Đó là khi yêu ai đó thật lòng thì cứ hãy để cho họ được làm những gì họ yêu thích, và hãy để cho họ được là chính mình. Xuyên suốt câu chuyện là chuyện tình đẹp nhưng đầy ám ảnh giữa Francesca – một phụ nữ đã có gia đình và Kancaid – chàng nhiếp ảnh phong lưu. Tình yêu chỉ diễn ra trong 4 ngày nhưng nó đủ cho cả một đời. Và dường như nó quá lớn, đến nỗi cả hai phải chấp nhận xa nhau để những gì đẹp nhất sẽ được trường tồn. Tác phẩm được viết bằng giọng văn mộc mạc mà đầy cuốn hút, khiến cho người đọc không chỉ đọc và cảm nhận, mà còn là người chứng kiến câu chuyện tình. Đọc “Những cây cầu ở quận Madison” để lắng đọng lòng mình, cảm nhận sự màu nhiệm của tình yêu và cũng để thấy rằng cuộc sống này không chỉ có những chuyện tình “yêu cuồng sống vội”, mà vẫn còn đấy những chuyện tình đẹp và thuần khiết. Nếu bạn là người từng trải qua một tình yêu đích thực trong đời, một tình yêu vì lý do nào đó không toại nguyện, bạn sẽ hiểu vì sao cuốn tiểu thuyết đầu tay xinh xắn này đã làm cho người đọc khắp nơi trên thế giới xúc động đến thế, đến nỗi nó trở thành rất đất khách, và hơn nữa, một hiện tượng xuất bản. Đó là chuyện mối tình giữa Robert Kincaid, một nhiếp ảnh gia tự do trên đường đi tìm những cây cầu mái ở quận Madison với Francesca Johnson, vợ một nông gia. Nhưng cây cầu ở quận Madison là lời nói thay cho khát vọng tình yêu nam nữ ở khắp nơi, nó nói cho chúng ta biết tình yêu là gì, rằng khi con người yêu và được yêu mãnh liệt sẽ làm cho cuộc đời lật sang một trang mới ra sao. Cuốn sách bán chạy và được đánh giá cao ở Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản và các nước khác. Mời các bạn đón đọc Những Cây Cầu Ở Quận Madison của tác giả Robert James Waller!
Chạm Yêu - Sarah Dessen
AudioBook Chạm Yêu Remy luôn biết đâu là thời điểm tốt nhất để trao gửi “Bài diễn thuyết tiễn biệt” đến các anh bạn trai của mình: ngay sau khi niềm đam mê lãng mạn đầu tiên qua đi, trước khi tình cảm thực sự xuất hiện. Cô sở hữu một “công thức” tính thời gian hoàn hảo và gần như chính xác tuyệt đối cho mọi trường hợp, chưa kể hằng hà sa số kinh nghiệm cô học được trong quá trình dõi theo cuộc sống của mẹ mình, người đã kết hôn đến bốn lần và vẫn đang chuẩn bị tiến hành đám cưới lần thứ năm. Và Dexter xuất hiện. Đúng lúc các kế hoạch tuyệt hảo của Remy đang trên đà thành hiện thực. Chàng trai này có gì đặc biệt mà lại biến việc tuân thủ nguyên tắc của Remy trở nên khó khăn và đầy rắc rối như thế? Anh hội tụ tất cả những gì Remy ghét: bừa bãi, không biết sắp xếp, bốc đồng, và tệ hơn hết, cũng là một nhạc sĩ giống cha cô. Remy chưa bao giờ được biết về cha mình. Ông là tác giả của một bài hát nổi tiếng dành tặng riêng cho cô, nhưng rồi đơn giản chỉ là ông biến mất không bao giờ trở lại trong cuộc đời cô nữa. Cô đang chuẩn bị tiến đến một tương lai mà cô tin là sự xếp đặt hoàn hảo cho riêng mình: trở thành sinh viên Đại học Stanford danh tiếng, chuyển đến sống ở California nắng ấm, thoát khỏi gánh nặng làm trụ cột cho mẹ và anh trai. Tự do muôn năm! Thế mà bây giờ, việc chia tay với Dexter làm cô lấn cấn. Dexter thực sự ra sao...? Có thể nào Remy cuối cùng cũng tìm ra ý nghĩa của những bài tình ca? Sarah Dessen, tác giả của Someone like you và Dreamland, đem đến cho bạn đọc tác phẩm đắm say nhất của mình, khi giới thiệu với chúng ta một hình mẫu thiếu nữ tin rằng trái tim mình được làm bằng đá tảng và một anh chàng cố sức chứng minh rằng cô đã sai.. Mời các bạn đón đọc Chạm Yêu của tác giả Sarah Dessen.
Muối Của Tình Yêu - Sarah Dessen
“Muối của tình yêu” được cho là cuốn tiểu thuyết của nỗi đau xót tuổi 16 trong không gian lãng mạn kỳ ảo, hấp dẫn. Scarlett Thomas là một cô bé mạnh mẽ đến kỳ lạ, gây ấn tượng rực rỡ với mái tóc đỏ và những nét cá tính khác biệt. Trong ký ức của Halley vào năm mười một tuổi khi lần đầu gặp Scarlett là cô bạn đã chăm sóc cả mẹ, thay vì ngược lại. Halley và Scarlett lớn lên bên nhau, vô cùng thân thiết. Họ dậy thì cùng lúc, cùng thích xem phim kinh dị và như các cô bé mới lớn khác, họ thích mấy trò đùa ngớ ngẩn. Cuộc sống của họ tương hợp một cách hoàn hảo và dường như Scarlett bao giờ cũng là điểm tựa cho Halley. Nhưng cuộc sống bắt đầu thử thách họ, thử thách tình bạn của hai người. Michael Sherwood – một cậu trai rám nắng, cao lớn và cực kỳ quyến rũ đang hẹn hò cùng Scarlett. Cậu mất đột ngột trong một tai nạn đụng xe trên đường, khi chỉ mới mười sáu tuổi. Đây thực sự là một mất mát lớn đối với gia đình Michael và đặc biệt là với Scarlett. Nếu như trước kia Scarlett vô cùng mạnh mẽ thì giờ đây, cô bạn gái Halley yếu đuối ngày nào bỗng trở thành một điểm tựa tinh thần không gì thay thế được. Liệu Halley có làm được điều đó hay không khi cô vốn nhút nhát và đã quen có Scarlett bênh vực, che chở? Tình bạn của họ rồi sẽ đi về đâu và nhất là Scarlett sẽ như thế nào sau cái chết của Michael và hơn tất cả, Scarlett bắt đầu nhận thấy một sinh linh bé bỏng đang lớn dần lên trong bụng cô? “Cuộc sống này sẽ tẻ nhạt và tệ hại biết bao nếu ta chẳng thể tìm lấy một người bạn thân…” - đây gần như là thông điệp xuyên suốt mà Sarah Dessen cố gắng chuyển tải đến bạn đọc, đặc biệt là các bạn đọc trẻ. Ẩn ý này đã mang lại những dấu ấn rất riêng cho các tác phẩm của nhà văn được giới trẻ vô cùng yêu thích, trong nhiều các tác phẩm khác cùng thể loại. Với cốt chuyện rất hấp dẫn, cách giải quyết câu chuyện nhân văn, giọng viết nhẹ nhàng, trong trẻo, "Muối của tình yêu" đã đoạt giải thưởng “Tác phẩm hay nhất dành cho bạn trẻ” do Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ bình chọn. Thông tin về tác giả “Muối của tình yêu”: Sarah Dessen là tác giả của bốn tiểu thuyết nổi tiếng cho thanh thiếu niên tại khu vực Bắc Mỹ: That summer, Someone like you, Keeping the moon và Dreamland. Cả bốn tác phẩm đều được bình chọn là “Tác phẩm hay nhất dành cho bạn trẻ” do Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ bình chọn.    Là một tác giả trẻ, thấu hiểu và có cách biểu đạt tinh tế cảm xúc của người trẻ trong những chi tiết dí dỏm, bất ngờ, các tác phẩm của Sarah Dessen gặt hái được rất nhiều thành công và được đón nhận. Dessen hiện đang dạy viết văn sáng tạo ở Đại học North Carolina, phân viện Chapel Hill. Mời các bạn đón đọc Muối Của Tình Yêu của tác giả Sarah Dessen.
Đoạt Lửa - J. H. Rosny Anh
Đoạt Lửa là tác phẩm nổi tiếng của J.H. Rosny Anh, in lần thứ nhất ở Brussels (Bỉ) năm 1911 với tên là LA GUERRE DU FEU (Cuộc chiến đấu vì Lửa). J. H. Rosny là tên kí chung của hai anh em Honoré và Justin Boex, nhà văn Pháp, J. H. Rosny Anh (1856-1940) viện sĩ Viện Hàn lâm Goncouri (Pháp), chuyên viết tiểu thuyết viễn tưởng về thời xa xưa, như “Đoạt Lửa”, “Con mãnh thú khổng lồ”, v.v... Cuộc du hành này trong thời kì tiền sử rất xa xưa, mà con người con chưa vạch bất cứ một hình thù gì trên đá và trên chất sừng, có thể cách đây một trăm ngàn năm”. Vậy đó, câu chuyện này đã xảy ra khoảng mười vạn năm trước. Ở cái thời kì mông muội xa xưa ấy, con người đương từng bước từ “người vượn” chuyển đi lên, ăn lông ở lỗ, sống thành bầy, những bầy người nguyên thủy chỉ mới săn bắt và hái lượm. Trong thế giới hoang sơ dưới sự ngự trị của các lực lượng tự nhiên và của muông thú đông đảo, con người cũng chỉ là một giống thú - mà chưa phải là mạnh - nhưng lại là giống thú đứng thẳng, tư thế khác mọi giống kia làm bọn chúng phải e dè và cuộc sống của họ đã thực sự là cuộc sống của loài người từ khi có Lửa. Lửa nâng cao đời sống và cũng nâng cao “bản chất người” ở con người. Mất Lửa, con người phải lâm vào cuộc sống con vật và trở lại là con vật như những muông thú khác. Những bầy người thù địch thường tìm cách tiêu diệt Lửa để dìm đối phương vào trong bóng tối hãi hùng. Một tác giả lớn, chuyên viết về tình báo công nghiệp đã nhận xét “Đoạt Lửa” là câu chuyện về chiến công tình báo công nghiệp đầu tiên của loài người. Một giáo sư địa chất nổi tiếng, qua truyện viễn tưởng khoa học của ông đã tâm đắc ca ngợi trí tưởng tượng của tác giả “Đoạt Lửa” đã làm sống lại cảnh vật thời nguyên thủy thật là tuyệt vời. Đọc tác phẩm “Đoạt Lửa”, các bạn hãy chú ý đến những ý kiến đánh giá ấy để có thể cùng tác giả sống với nhân vật bằng tưởng tượng - mà cùng đỡ ngỡ ngàng - trong một dĩ vãng xa xưa, một dĩ vãng không còn dấu vết và không bao giờ trở lại, nhưng là một bước đường đi lên của loài người. Văn hào Maxime Gorki đặt “Đoạt Lửa” vào danh sách - không dài - những tác phẩm cần phải cho trẻ em đọc để nâng cao hiểu biết về sự tiến hóa của nhân loại. Đó là một sự đánh giá sâu sắc, mà cũng là một “mệnh lệnh” đã thôi thúc người dịch và nhà xuất bản cố gắng hết sức mình để có thể giới thiệu “Đoạt Lửa” với các bạn. Nếu còn có gì các bạn chưa được vừa ý thì đó chỉ là do khả năng có hạn của người dịch. Mong được bạn góp ý nhận xét. Mời các bạn đón đọc Đoạt Lửa của tác giả J. H. Rosny Anh.