Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Evergreen Love: Từ Điển Tranh Về Thực Vật

Evergreen Love – Từ điển tranh về thực vật được chắp bút bởi Hiro Arikawai, nữ nhà văn nổi tiếng Nhật Bản. Phát hành năm 2009, tác phẩm đã nhanh chóng trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất năm và nhận được nhiều giải thưởng, đề cử văn học. Đặc biệt, Evergreen Love đã được mua bản quyền chuyển thể thành phim điện ảnh vào năm 2016. Ngay trong tuần đầu tiên ra mắt, bộ phim đã đứng nhất phòng vé với doanh thu 3.2 triệu USD. Cuốn tiểu thuyết là câu chuyện về cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa Sayaka và Itsuki. Sayaka làm việc trong một công ty tư vấn nhà đất, tuy nhiên cô lại thường xuyên bị quở trách vì năng lực của bản thân, không những sống một cuộc đời nhàm chán, thảm hại, Sayaka lại không hề khéo léo trong tình yêu nên vẫn còn cô đơn. Một đêm nọ, trên đường trở về nhà, Sayaka bắt gặp Itsuki, một người lạ mặt bất tỉnh ngay trước cửa nhà. Cô đưa anh vào nhà, khi tỉnh dậy, Itsuki bất ngờ xin Sayaka cho anh sống nhờ trong vòng nửa năm. Lạ thay, Sayaka gật đầu đồng ys. Và thế là họ bắt đầu sống chung và dần dần nảy sinh tình cảm với nhau lúc nào chẳng hay. Itsuki như một phép màu được gửi đến cứu rỗi cuộc đời tẻ nhạt của Sayaka. Trong thời gian sống chung, Itsuki luôn nấu ăn cho cô - một người con gái vụng về không hề biết gì về nữ công gia chánh, anh dạy cô cách sử dụng các loại thảo mộc và cỏ dại để nấu nướng. Thế nhưng Itsuki lại giữ trong mình quá nhiều bí ẩn như cách anh xuất hiện trong cuộc đời Sayaka và đột ngột biến mất khỏi cuộc đời cô sau bữa tiệc sinh nhật… Lạc vào thế giới của Evergreen Love, bạn sẽ dễ dàng chìm đắm trong sự ngọt ngào, lãng mạn bởi những “phản ứng hóa học” giữa hai nhân vật chính, sự kì diệu về thế giới của những loài cỏ dại, thảo mộc quanh ta đi cùng với cảm giác tò mò về những bí mật giấu kín của Itsuki… Evergreen Love hứa hẹn sẽ là một tác phẩm lãng mạn tươi mới giúp bạn xóa tan cảm giác oi bức trong hè này. *** Hiro Arikawa   Sinh năm 1972, đến từ Kochi, Nhật Bản. Bà chủ yếu sáng tác thể loại light novel hướng tới đối tượng học sinh trung học. Năm 2003, bà đạt giải thưởng nhà văn mới trong giải thưởng văn học thường niên lần thứ 10 Dengeki Novel Prize với tác phẩm Shio no Machi và được xuất bản sách trong năm 2004. Cuốn tiểu thuyết ăn khách Evergreen Love - Từ điển tranh về thực vật (Shokubutsu Zukan) của bà đã được chuyển thể thành phim điện ảnh vào tháng 6 năm 2016. *** Ngày cô phải ra ngoài cùng trưởng phòng là một ngày giữa mùa hè, cái nắng oi ả chiếu xuống mặt đường nhựa, phả lên từng đợt hơi nóng. Đôi chân của mỗi người đều tự động lựa chọn đi vào vùng bóng của hàng cây hai bên đường. Thế rồi đột nhiên có một bóng trắng nho nhỏ lướt qua khóe mắt cô. Ở bãi đỗ xe bên cạnh một tòa nhà gần đấy có một loại dây leo đang cuốn lên hàng rào chắn. Và bóng trắng nho nhỏ chính là những bông hoa trắng nhỏ xinh của loài dây leo đó. Những bông hoa nhỏ xinh với những cánh hoa trắng xòe rộng tạo hình quả chuông như hoa bách hợp, chính giữa bông hoa lại được điểm thêm bằng màu đỏ đậm. “Ô kìa.” Trưởng phòng cũng nhận ra bóng trắng đó mà ngừng lại. “Thật đẹp quá đi. Chủ ở đây trồng nó sao?” “Không phải đâu trưởng phòng.” Kouno Sayaka lại giội một gáo nước lạnh vào mớ cảm xúc đang dâng trào trong sếp. “Nó là cỏ dại đấy ạ.” “Cỏ dại!!” Trưởng phòng tròn mắt ngạc nhiên. “Thế nhưng nó trông đẹp thế cơ mà.” “Cỏ dại không phải là tên của một loại cỏ cây mà là chỉ chung cho tất cả các loại cỏ. Thiên hoàng Chiêu Hòa đã nói như vậy. Ít nhất thì nó không phải là loại cây cỏ được trồng trong vườn.” Sayaka vô thức nói thêm: “Nó là cây rắm thúi, trong tiếng Nhật gọi là Hekuso kazura.” “Hekuso… thú…?” “Vâng. Nếu vò nát những chiếc lá mọc trên thân dây leo kia thì nó sẽ tỏa ra mùi khó chịu giống như cái tên ấy. Mặc dù dựa theo những bông hoa dễ thương hay những đặc điểm khác thì nó còn được gọi với những tên khác như Saotome kazura nghĩa là cô gái đội nón đang làm ruộng hay Yaitobana vì hoa giống với hình mồi ngải dùng trong chữa bệnh hay xông huyệt, thế nhưng, Hekuso kazura vẫn là cái tên được dùng nhiều nhất.” Nói một tràng dài, Sayaka đột nhiên nhận ra trưởng phòng của mình còn đang ngây người. “Trưởng phòng làm sao thế?” “Không…” Trưởng phòng cười nói: “Chỉ là thấy bất ngờ khi cô còn trẻ vậy mà lại biết được nhiều điều như thế thôi. Đúng rồi, nó là rắm thúi chứ gì…” Thế rồi trưởng phòng lại nói tiếp: “Cái tên này cũng đủ để bị kết tội quấy rối tình dục đấy nhé.” “Không, tôi không có…” Sayaka vội lầm bầm tôi không cố ý hay gì đó. Bản thân cô cũng đã hơn hai mươi mấy rồi, thế nên cô không nghĩ mình cũng được coi là một cô gái trẻ trung gì nữa. Sau khi nói xong, trưởng phòng lại lần nữa ngắm nhìn bông hoa rắm thúi… không, hãy gọi nó là thiếu nữ xinh đẹp đi. “Rõ là bông hoa đẹp thế này cơ mà. Cái tên này làm hỏng hết cả một loài hoa rồi.” Đứng bên cạnh nghe trưởng phòng ca thán, Sayaka lại đang thầm xỉ vả bản thân mình. Ngu ngốc, mày thật ngu ngốc quá đi! Cho dù người ta có thân thiết và không để ý đến đâu đi chăng nữa thì người ta cũng là một người đàn ông đấy! Sao lại có một cô gái mở miệng ra là rắm thúi chứ! Thúi, thúi thúi! Nghe xong trưởng phòng cũng phải chạy xa rồi đấy! Có phải mày không biết các tên khác của nó đâu cơ chứ. Tại sao! Tại sao! Tại sao lại không nói là Yaitobana cơ chứ! Thế nhưng, chuyện mày nhanh nhảu nói ra cái tên thông dụng nhất đấy cũng đâu phải lỗi của mày đâu. Itsuki! Tất cả là tại anh đấy! Sayaka thầm rủa xả anh chàng đã nhồi nhét tên của đủ các loại cây cỏ vào trong đầu cô. Hãy đặt tên cho chàng trai đã rời xa bạn bằng tên của một loài hoa. Và hoa mỗi năm đều sẽ nở. Đại văn hào Kawabata Yasunari đã từng viết như vậy. Ấy thế nhưng trong lòng Sayaka lại cho rằng nó chẳng có gì là lãng mạn hay tình tứ cả. Nếu dùng một từ để nói về câu văn ấy thì đó chính là “ủy mị”. Thêm vào đó, phụ nữ tuyệt đối sẽ không nghĩ nhiều đến thế. Và vốn dĩ cô cũng không nghĩ mình sẽ khắc sâu ký ức về người đàn ông đã chia tay đến mức ấy đâu. Nếu coi trí nhớ của con người là bộ nhớ của một chiếc máy tính thì tình yêu của phụ nữ được lưu lại dưới dạng lưu đè, còn tình yêu của đàn ông lại được lưu lại dưới các file khác nhau. Phụ nữ dù có day dứt, dù có khổ sở đến đâu đi chăng nữa thì khi tình yêu mới xuất hiện, những ký ức về người yêu cũ của họ cũng sẽ phai mờ. Chỉ vì một câu nói ủy mị của ngài mà ba mươi năm sau khi ngài mất, một cô gái vô tội lại đang phải xấu hổ ở đây đây này. Thế nhưng, Sayaka lại thở dài. Cũng không thể nói là cô và người đàn ông đó đã chia tay được. Bởi… Anh ta cứ thế biến mất mà chẳng nói một lời. Mà dù sao giữa cô với anh ta cũng có hứa hẹn gì đâu cơ chứ. “Kouno này, mình đi thôi.” Nghe trưởng phòng cất tiếng gọi, Sayaka vội vàng “vâng” một tiếng rồi đi theo. ✥ Chữ “thụ” trong từ “đại thụ”, đọc là Itsuki. Đó là điều duy nhất về thông tin cá nhân của người đàn ông đó mà Sayaka có thể hỏi được. Lần đầu tiên hai người gặp nhau chính là một đêm cuối đông lạnh giá trước kỳ nghỉ của cô. Tối hôm đó, sau cuộc nhậu, Sayaka vừa vặn bắt kịp chuyến tàu cuối cùng. Trên đường về, cô còn trông thấy cả ánh trăng trong vắt hiếm thấy. Hiện tại, Sayaka đang sống trong một chung cư cũ, phòng của cô có một phòng khách và một phòng bếp, mặc dù khu nhà đã lâu đời nhưng vẫn rất rộng rãi, thoải mái đủ cho cô sống một mình. Chủ nhà trọ hay thích tán chuyện nhưng cũng chưa đến mức ầm ĩ. Vả lại căn nhà đó lại khá gần nhà ga và trước nhà ga lại có một dãy phố mua sắm nhỏ nên có thể nói là trọ ở đấy vô cùng tiện lợi. Sau bữa nhậu, Sayaka đã hơi chếnh choáng say. Cô vừa đi bộ từ nhà ga về vừa ngâm nga một giai điệu yêu thích trong cổ họng. Cô cũng chẳng còn nhớ rõ lời bài hát nữa nên chỉ có thể ngâm nga vài nốt như vậy mà thôi. Thế rồi đến khi gần tới khu nhà trọ, đột nhiên Sayaka nhận ra một thứ. Đó là một chiếc túi rác màu đen to đùng chắn ngay giữa lối đi bộ vốn chỉ vừa một người đi này. Không, chỗ này có phải là bãi rác đâu cơ chứ. Cái túi to như thế kia thì chắc là của công ty, văn phòng nào đó rồi. Chẳng lẽ là người ta lén vứt ra đây? Vừa nghĩ như vậy, Sayaka vừa chậm rãi tiến lại gần. “Oaaaaa!” Một tiếng hét thất thanh vang lên, phá vỡ sự tĩnh lặng của khu phố về đêm, tiếng hét ấy cũng không hợp với một cô gái trẻ chút nào. Hét lên một tiếng, Sayaka vội vàng lùi về sau. Bên trong cái túi ấy… vậy mà lại có một con người. Đó là một người đàn ông tầm tuổi cô đang cuộn tròn trong đó, cùng với một cái ba lô sau lưng. Anh ta ch… chết rồi sao? Nếu là có một xác chết ngay trước nhà trọ thế này thì cô phải báo cảnh sát thôi. Trong con say, Sayaka lấy hết dũng khí duỗi cánh tay về phía trước, dùng ngón tay trỏ của mình khẽ chạm vào má người đàn ông. Còn ấm. Dường như cảm giác được có người đang chạm vào mình, người đàn ông nhẹ nhàng mở mắt ra. Ôi Chúa ơi, anh ta đẹp trai quá đi. “Cái đó…” Sau một hồi bối rối, Sayaka cũng quyết định lên tiếng. “Có chuyện gì với anh vậy?” Người đàn ông chớp đôi mắt còn ngái ngủ đáp: “Tôi bị lả đi.” “Vậy sao anh ở chỗ này?” “Bởi nếu tôi mà ngất ngay ngoài đường thì sẽ bị chết cóng mất.” “Tại sao ở ngoài đường thì sẽ bị chết cóng chứ?” “Nếu nằm thẳng xuống nền nhựa đường, bê tông hay mặt đất thì cơ thể sẽ bị mất nhiệt. Nằm thẳng xuống đất buổi tối không thích hợp để duy trì thân nhiệt cho con người, thế nên ta cần có thứ gì đó ngăn cách ở giữa.” “Thế tại sao anh lại bị lả đi?” “Tôi đói quá. Không thể đi thêm một bước nào nữa.” “Tiền của anh đâu?” “Tôi bây giờ không còn một xu dính túi.” “Hả… đáng thương quá.” Người đàn ông ấy không khiến Sayaka cảm thay phải cảnh giác, thậm chí cô còn ngồi xổm xuống trước mặt anh ta. Ngay lập tức, người đàn ông ấy đặt tay trên đầu gối cô và: “Tiểu thư, liệu cô có thể thu nhận tôi được không?” Nhìn cứ như là một chú chó đang duỗi chân trước chủ vậy. Vừa nhìn bàn tay đặt trên đầu gối mình, Sayaka vừa nghĩ như vậy. Và bất giác, cô lại thốt lên: “Thu nhận… sao lại giống thu nhận mấy con cún ngoài đường vậy chứ?” Nói rồi, Sayaka còn cười khanh khách. Thấy vậy, người đàn ông lại nói tiếp: “Tôi sẽ không cắn người và rất ngoan đấy.” “Đủ rồi đấy.” Giờ nghĩ lại thì chắc hẳn lúc đó cô đã say đến không biết gì rồi. Đế bố mẹ ở quê nghe được chuyện cô đưa một người đàn ông xa lạ về phòng thì họ giết cô mất. Thế nhưng, trông anh ta thực sự là đã đói lả đi rồi, khi về được đến phòng của cô ở tầng một thì anh ta cũng chẳng còn tí hơi sức nào nữa cả. “Anh không sao chứ? Đừng có ngã ra đấy!” Bản thân Sayaka cũng phải đỡ ở một bên rồi nhanh chóng đưa anh ta vào phòng khách của mình. Trước hết phải cho anh ta ăn thứ gì đó mới được. Mặc dù nghĩ vậy, nhưng Sayaka lại là kiểu người không hay nấu ăn ở nhà. Giờ trong nhà cô cũng chỉ có mấy hộp mì ăn liền cô mua trữ sẵn từ trước. Nấu một cốc mì trong ba phút, Sayaka mang ra ngoài cho người đàn ông, ngay lập tức, anh ta đã nhận cốc mì với vẻ biết ơn vô cùng. “Giờ bất cứ thứ gì với tôi đều là món ăn ngon cả.” Anh ta nói một câu thật khó chịu, nhưng xét đến việc anh ta vừa đói đến lả người thì Sayaka lại tạm thời bỏ qua cho lần này. “Anh có đi tắm không?” “A, tuyệt quá. Người tôi đang lạnh cóng rồi.” “Vậy anh cứ ăn trước đi. Tôi đi tắm trước đã.” Giờ nghĩ lại thì hành động lúc đó của cô… cũng chẳng có tí cảnh giác nào cả. Để một người đàn ông xa lạ vào phòng, lại còn để đồ đạc, tài sản ở ngoài như thế mà yên tâm đi tắm nữa chứ. Lúc đi tắm, Sayaka còn nghĩ được là đã uống khá nhiều thì hay là chỉ tắm vòi hoa sen thôi, không cần ngâm mình nữa, nhưng chuyện mà một cô gái trẻ nên nghĩ lúc ấy cũng không phải là chuyện này. May mà “chú cún” mà cô nhặt về đúng là “không cắn người và rất ngoan”, thế nên cuối cùng cũng không có chuyện gì xảy ra. Đợi khi Sayaka ngâm mình xong đi ra ngoài thì chú cún lớn đã quỳ trên sàn, cúi đầu thật sâu với cô. “Cảm ơn vì bữa ăn.” Đúng là anh ta đã quá đói, đến mức anh ta còn uống hết cả nước súp mì nữa. “Xin lỗi vì chỉ có mỗi mì cốc cho anh. Nước nóng thì tôi xả sẵn ra rồi đấy.” “Tôi xin phép mượn một lát.” “Anh có đồ ngủ không?” “Tôi có đồ lót. Còn đi ngủ thì tôi vẫn mặc nguyên mấy bộ thế này” “Vậy sao. Thế thì…” Nửa năm trước Sayaka mới chia tay người yêu. Cô lôi từ trong tủ ra một túi quần áo của người yêu cũ mà lúc trước cô đã nhét xuống tận đáy tủ. Mặc dù lúc đó cô đã phân nó ra thành rác tái chế, thế nhưng cô lại quên mất ngày vứt rác tái chế và cứ thế nhét nó trong tủ cho tới tận bây giờ. (Dù sao thì một tháng cũng chỉ có hai ngày để vứt loại rác này thôi mà.) “Nếu anh không ngại quần áo cũ thì cứ lấy mà dùng. Trong này có nhiều áo phông, áo nỉ lắm, cũng toàn là áo free size cả.” “Cái đó…” Trông Sayaka cũng chẳng có vấn đề gì cả, thế nhưng chú cún ngoan của cô thì lại khá ngại ngùng. “Tôi dùng chúng không sao chứ?” “Không sao đâu. Đây là quần áo của bạn trai cũ đã chia tay cả nửa năm nay rồi. Tôi cũng giặt sạch, gấp gọn chúng rồi mà. Chỉ là để nó bên ngoài hơi vướng nên tôi mới nhét vào trong tủ thôi. Sau đó thì tôi lại quên mất ngày vứt rác tái chế thành ra cứ để cái bọc này ở đây nửa năm rồi. Nó cũng chỉ là bọc quần áo bình thường thôi. Anh không cần phải để ý đâu, chú cún của tôi ạ. Anh mà dùng chúng giúp tôi thì tốt quá ấy chứ?” “Vậy tôi xin cảm ơn cô.” Vừa nói, người đàn ông vừa mở bọc quần áo và lấy một bộ đồ thun ra làm quần áo ngủ, rồi lại lấy đồ lót và bàn chải, khăn mặt trong ba lô của mình ra và đứng dậy đi về phía nhà tắm. “Dầu gội, sữa tắm anh cứ dùng thoải mái, cả khăn tắm nữa. Nhưng nếu anh muốn dùng máy giặt thì để ngày mai nhé. Giờ cũng khá muộn rồi.” “Vâng, cảm ơn cô.” Anh ta đã nói cảm ơn đến ba lần rồi. Và tối hôm đó, trước khi người đàn ông đó tắm xong, Sayaka đã đi về phòng và ngã nhào lên giường. Sáng hôm sau, khi cô thức dậy thì đã thấy mình nằm trong chăn ấm đệm êm rồi. Sao cô không nhớ gì về chuyện mình đã chui vào trong chăn nhỉ. “A, chào buổi sáng. Cô dậy rồi sao?” Nhìn thấy người đàn ông đứng trong bếp, Sayaka bỗng thấy bối rối. Thấy Sayaka như vậy, người đàn ông vội vàng rụt vai lại nói: “Bình tĩnh, cô đừng hét lên nhé. Hôm qua cô đã đồng ý cho tôi ở đây rồi đấy nhé. Nếu cô không nhớ thì tôi sẽ giải thích lại.” Tôi bị lả đi. Liệu cô có thể thu nhận tôi được không? Tôi không cắn người và sẽ ngoan. Lúc này, ký ức tối hôm trước lần lượt ùa về và Sayaka lại phá lên cười. Thấy cô như vậy, người đàn ông cũng thở phào một hơi. “May quá. Tôi còn tưởng sẽ bị đưa lên đồn cảnh sát vì tội đột nhập nhà dân chứ.” “Được rồi, thế anh đang làm gì thế cún con?” “Trước hết cô cứ rửa mặt đi đã. Tôi tỉnh dậy trước nên có mượn nhà tắm của cô một lúc rồi.” Lúc này, Sayaka lại ngửi thấy mùi canh miso thơm nức mũi. “Cơm sáng… trong nhà tôi có thứ gì có thể nấu được cơm sáng sao?” “Mà bất ngờ thật đây, tủ lạnh của cô trống trơn chẳng khác nào tủ lạnh của một người đàn ông độc thân cả. May mà gia vị thì vẫn có. Tôi có mượn chút hành tây và trứng sắp hỏng của cô để nấu ăn.” “Hành!? Tôi có thứ đó ở trong nhà sao?” Trứng thì cô còn nhớ. Khoảng mười ngày trước đột nhiên cô muốn ăn món cơm trứng sống nên đã đi cửa hàng tiện lợi mua một giỏ sáu quả về. Thế nhưng, hành tây thì lần gần đây nhất khi cô mua hành cũng phải từ một tháng trước rồi. “Vần còn một củ héo quắt như thể bị chủ nhà bỏ quên nằm trong một góc. Nó cũng mọc mầm rồi, nhưng vẫn còn dùng được một chút. Nhân tiện, món cá muối Tsukudani của cô để tận trong cùng ấy, thời gian lâu nó chảy nước ra nên tôi vứt nó đi rồi.” “Ngại quá…” Xấu hổ bước xuống giường, Sayaka chợt nhận thấy một chiếc túi ngủ được trải trong phòng khách bên cạnh. “Cái gì thế này? Anh bảo là lả đi mà còn có cả túi ngủ thế này á?” “Thì tôi đói quá, chẳng còn tí sức nào để lôi nó ra khỏi ba lô cả. Tối hôm qua mặc dù chỉ có một cốc mì nhưng ít nhất tôi cũng được cô cho ăn nên mới có sức để kéo chăn đệm giúp cô đấy.” Hóa ra cô được nằm chăn ấm đệm êm ngủ ngay ngắn trên giường hôm qua là nhờ chú cún ngoan này sao? “Cảm ơn, cảm ơn anh…” Sao càng lúc cô càng cảm thấy xấu hổ thế này? Chờ khi Sayaka đánh răng rửa mặt xong thì trên chiếc bàn thấp ở phòng khách đã bày bữa sáng nóng hổi rồi. “Tôi có mượn dùng nồi niêu, bát đũa của cô một chút.” “A vâng, anh cứ dùng tự nhiên.” Vừa nói, Sayaka vừa ngồi xuống chỗ mà người đàn ông kia chỉ. Còn anh ta đang ngồi ở ghế gần bếp nhất. Nhìn thấy cảnh này, Sayaka lại có cảm giác giống như một bầu không khí gia đình vậy. Mời các bạn đón đọc Evergreen Love: Từ Điển Tranh Về Thực Vật của tác giả Hiro Arikawa & Như Nữ (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Duyên Phận Bất Ngờ
Những tháng ngày tăm tối sau cái chết của vua Richard Tim Sư Tử, các vùng đất rơi vào hỗn loạn dưới sự cai trị của một ông vua người Anh thèm khát quyền lực. Duyên Phận Bất Ngờ xoay quanh nhân vật chính Gillian. Khi cô lên 4 tuổi, gia đình cô gặp phải biến cố lớn: Gillian ngây thơ vẫn còn là một đứa trẻ, khi cô chứng kiến Bá tước Alford tàn nhẫn và đầy tham vọng giết hại cha mình để tìm lại chiếc hộp trang sức quý giá cho vua John, hai chị em cô bị lạc mất nhau. 14 năm sau, cô sống cùng bác họ của mình - Lãnh chúa Morgan và người hầu gái đã chăm sóc cho cô từ nhỏ tại lãnh địa của ông. Nhưng những tên lãnh chúa đã gây ra nỗi đau cho gia đình cô năm nào lại một lần nữa xuất hiện và đe dọa đến cuộc sống của cô và những người xung quanh cô. Để cứu bác mình, cô phải đến lãnh địa Macpherson tìm lại chị và tung tích chiếc hộp châu báu đã thất lạc của vua John. Trên đường đến đây, cô tình cờ cứu giúp cậu bé Alec khỏi tay bọn bắt cóc, và chạm trán Lãnh chúa Buchanan Brodick, người bảo vệ cậu bé. Cô và vị lãnh chúa trẻ tuổi nhanh chóng nảy sinh tình cảm. Nhưng cô không thể ở lại lãnh địa của anh. Cô phải nhanh chóng tìm được chị gái và chiếc hộp để quay về cứu bác mình. Khi cô không tìm thấy chiếc hộp và quyết định trở về nước Anh mà không thông báo cho anh, cô lại một lần nữa rơi vào tay của Nam tước Alford. Cuối cùng, liệu Gillian có thể thoát khỏi nguy hiểm và trở về bên Buchanan Brodick được không? Thông tin tác giả: Julie Garwood sinh năm 1946 tại thành phố Kanas, Missouri và là con thứ sáu trong một gia đình gốc Ireland. Mary Elizabeth – người bạn cũng là người thầy tại một lớp học đọc vào mùa hè năm bà mười một tuổi đã giúp Julie mở cánh cửa vào thế giới văn chương và trở nên say mê với nó. *** Julie Garwood là một tác giả người Mỹ khá thành công ở thể loại tiểu thuyết lãng mạn với hơn 27 đầu sách, 35 triệu bản in được phát hành trên khắp thế giới. Các tác phẩm của Julie thường xuyên góp mặt trong danh sách best-seller của New York Times. Julie viết cả tiểu thuyết lịch sử - lãng mạn lẫn hiện đại lãng mạn pha trộn sự hồi hộp, gay cấn. Bên cạnh Gentle warrior (Chiến binh nhân từ); A girl named summer (Cô nàng mùa hè); Prince Charming (Hoàng tử trong mơ); các series: Crown's Spies (Những chàng điệp viên hoàng gia); Lairds' Brides (Những nàng dâu quý tộc); Highlands' Lairds (Những quý tộc miền cao nguyên)...The Secret (Điều bí mật) là một trong những tác phẩm xuất sắc của Julie Garwood. Julie Garwood thường xuyên lọt vào danh sách các tác giả ăn khách nhất do New York Times, Wall Street Journal, và Publisher Weekly bình chọn. Hiện nay, những tác phẩm của bà đã phát hành được hơn ba mươi lăm triệu bản trên khắp thế giới. Bà là một trong những tác giả người Mỹ nổi tiếng nhaatsthees giới về tiểu thuyết cổ điển lãng mạn, bên cạnh những tên tuổi lớn như Linda Howard và Johanna Lindsey. Sách đã xuất bản và dịch tại Việt nam: Món Quà Tình Yêu Lâu Đài Hạnh Phúc Thiên Thần Hộ Mệnh Danh Dự Huy Hoàng Cô Nàng Sư Tử Rebellious Desire Kẻ Phá Đám Điều Bí Mật Sizzle Người Đàn Ông Lý Tưởng Shadow Music Khát Vọng Nổi Loạn Âm Điệu Bóng Đêm Vì Những Đóa Hồng - Julie Garwood Phép Màu Tình Yêu Duyên Phận Bất Ngờ ... Mời các bạn mượn đọc sách Duyên Phận Bất Ngờ của tác giả Julie Garwood & Nguyễn Thị Lệ Thi (dịch).
Bí Mật Sâu Kín Nhất
Nối tiếp Chỉ thời gian có thể cất lời và Tội lỗi của người cha, Bí mật sâu kín nhất là tập thứ ba trong bộ Biên niên Clifton của Jeffrey Archer. Trong phần 3 – Bí mật sâu kín nhất, mỗi nhân vật chính sẽ xuất hiện với những vai trò mới với những biến cố và thử thách mới. Harry sẽ trở thành một tiểu thuyết gia, Emma cố gắng điều hành công việc kinh doanh của riêng cô, còn Giles bắt đầu tham gia hệ thống chính trị và chạy đua vào nghị viện. Những nhân vật chính sẽ bắt đầu một chương mới của cuộc đời, nhưng liệu rằng con đường của họ sẽ thuận lợi hay nhiều chông gai? Liệu những sóng gió có quật ngã sức sống của họ? Đây không còn là câu chuyện chỉ liên quan đến Harry Clifton. Mối ràng buộc giữa hai nhà Clifton và Barrington ngày càng sâu sắc hơn. Các bí mật xoay quanh thân thế của các nhân vật và những kế hoạch của họ khiến cho số phận các thành viên hai gia đình thay đổi nhanh chóng. Cho đến phút cuối cùng, bí mật sâu kín nhất vẫn chưa được tiết lộ. Liệu còn nhân vật nào sẽ khép lại câu chuyện của mình sau khi bí mật được phơi bày? *** #Review_độc_giả BÍ MẬT SÂU KÍN NHẤT – JEFFREY ARCHER Cuối phần 2 – Tội lỗi của người cha, mình đã nghĩ tác giả có thể kết thúc truyện rồi vì đa số các mâu thuẫn chính đã được giải quyết; Harry và mọi người đều có kết thúc đẹp, kẻ ác thì đã trả giá. Nên mình có đôi chút lo lắng về phần 3, vì nếu cố tình kéo dài truyện thì nhiều khi các phần sau sẽ khiên cưỡng và nhàm chán như rất nhiều tác phẩm trước đây đã gặp phải.  Tuy nhiên, Archer đã không làm mình thất vọng, những nhân vật phản diện vẫn trực chờ cơ hội báo thù Harry, Giles cũng như Emma. Tất nhiên là cậu con trai Sebastian cũng bị cuốn vào; mạch truyện càng về sau càng chuyển dần qua chàng trai mới lớn này. Những thử thách và số phận của cậu hứa hẹn sẽ còn hấp dẫn hơn cả cuộc đời người cha - Harry. Người con gái nuôi của Harry và Emma mà thực chất là con của Hugo cũng hứa hẹn sẽ tạo nên những rắc rối lớn cho sau này, nhưng chắc chúng ta phải đợi tới phần 4 để theo dõi. Tuy nhiên, mình cũng hơi thất vọng một chút về Harry, một người đã trải qua nhiều năm bão táp chiến trường trong Thế chiến thứ 2 mà không thể hiện được nhiều bản lĩnh của mình, có lẽ tác giả muốn dành sân khấu cho lớp trẻ nhiều hơn chăng?? Chỉ có một tình tiết mình khá thích, nếu ai đọc của Archer nhiều thì sẽ nhận thấy các nhân vật chính của ông đều đầy tài năng nhưng không chung thủy, họ dễ bị ngã vào vòng tay của nhưng người mới, tình huống tương tự cũng được Acher xây dựng cho Harry và Emma, kết quả ra sao thì mình sẽ để cho mọi người tự khám phá để tránh spoil. Cá nhân mình thích kết phần 3 hơn kết phần 2 rất nhiều, vì nó hứa hẹn phần 4 sẽ rất đáng mong đợi. Mình đánh giá BÍ MẬT SÂU KÍN NHẤT khoảng 8,5 điểm. Hy vọng chúng ta sẽ sớm được đón nhận phần 4 của series truyện này. Review: Đào Đức Tâm *** Big Ben đổ chuông bốn tiếng. Mặc dù đã kiệt sức bởi những gì diễn ra tối hôm đó, nhưng vẫn còn đủ chất kích thích được bơm đi khắp cơ thể khiến vị Đại Chưởng ấn hầu như không thể ngủ nổi. Ông đã cam đoan với các thành viên Thượng viện sẽ đưa ra một phán quyết cho vụ tranh tụng của Barrington chống lại Clifton về vấn đề thừa kế tước hiệu lâu đời và tài sản khổng lồ của gia tộc. Thêm một lần nữa, ông cân nhắc các sự kiện thực tế, vì ông tin vào chúng, và chỉ có chúng được phép quyết định phán quyết cuối cùng của ông. Khoảng bốn mươi năm về trước, khi ông bắt đầu tập sự, người hướng dẫn đã khuyên ông phải loại bỏ mọi cảm xúc hay thiên kiến cá nhân khi cần đưa ra một phán quyết về thân chủ hay về vụ tranh tụng đang diễn ra trước mắt. Ngành luật không phải là ngành dành cho những kẻ có trái tim yếu đuối hay lãng mạn, sư phụ của ông đã nhấn mạnh như thế. Tuy vậy, sau khi tuân thủ tôn chỉ này trong bốn thập kỷ, ngài Đại Chưởng ấn buộc phải thừa nhận ông chưa bao giờ gặp phải một vụ việc cân bằng đến mức gần như tuyệt đối thế này. Ông chỉ ước gì F. E. Smith⁜vẫn còn sống để ông có thể tìm kiếm lời khuyên từ sư phụ của mình. ← Frederick Edwin Smith, Bá tước thứ nhất của Birkenhead, là một chính trị gia và luật sư bảo thủ người Anh. Một mặt… ông căm ghét những lời lẽ sáo mòn này biết chừng nào. Một mặt, Harry Clifton đã ra đời sớm hơn ba tuần so với người bạn thân nhất của anh ta, Giles Barrington: đó là thực tế. Mặt khác, Giles Barrington, không nghi ngờ gì nữa, là con trai chính thức của Sir Hugo Barrington và người vợ kết hôn hợp pháp của ông ta, Elizabeth: đó là một thực tế nữa. Nhưng điều đó vẫn không làm chàng trai trở thành người con được ra đời sớm nhất của Sir Hugo, và đó là điểm mấu chốt của bản di chúc. Một mặt, Maisie Tancock sinh Harry vào ngày thứ 28 của tháng thứ chín sau khi bà ta thừa nhận đã có quan hệ tình dục với Sir Hugo Barrington khi họ tham gia chuyến dã ngoại dành cho công nhân tới Weston-super-Mare⁜. Thêm một thực tế. Mặt khác, Maisie Tancock đã kết hôn với Arthur Clifton khi Harry ra đời, và giấy khai sinh khẳng định rõ ràng Arthur là bố đứa trẻ. Một thực tế khác. ← Một thị trấn ven biển ở Somerset, Anh. Một mặt… Dòng suy nghĩ của Đại Chưởng ấn quay trở lại những gì đã diễn ra trong phòng họp sau khi Viện cuối cùng cũng thực hiện biểu quyết để quyết định xem Giles Barrington hay Harry Clifton nên được thừa kế tước vị và tất cả những gì đi kèm.Ông nhớ lại chính xác những lời của người phụ trách kiểm phiếu khi công bố kết quả trước Thượng viện đông kín. “Đồng ý ở bên phải, hai trăm bảy mươi ba phiếu. Không đồng ý ở bên trái, hai trăm bảy mươi ba phiếu.” Những tiếng xôn xao ồn ã vang lên khắp các băng ghế đỏ⁜. Ông chấp nhận việc kết quả bỏ phiếu cân bằng sẽ buộc ông phải đảm nhận trách nhiệm không hề mong muốn là đưa ra quyết định ai là người được thừa kế tước vị của gia đình Barrington, công ty hàng hải danh tiếng, cũng như mọi tài sản, đất đai, vật sở hữu có giá trị. Giá như không có nhiều thứ đến vậy gắn liền với quyết định của ông khi tính đến tương lai của hai người đàn ông trẻ tuổi. Liệu ông có nên chịu ảnh hưởng bởi thực tế Giles Barrington muốn được thừa kế tước vị còn Harry Clifton thì không? Không, ông không được làm thế. Như Lord Preston đã chỉ ra trong bài diễn thuyết đầy sức thuyết phục của ông ta từ băng ghế phe đối lập, rằng như thế sẽ tạo ra một tiền lệ xấu, cho dù nó thật tiện lợi. ← Ở Quốc hội Anh, các băng ghế tại phòng họp Thượng viện sơn màu đỏ, còn Hạ viện sơn màu xanh. Một mặt, nếu ông thực sự ra phán quyết có lợi cho Harry… cuối cùng ông ngủ thiếp đi, để rồi bị đánh thức bởi một tiếng gõ cửa khe khẽ vào lúc bảy giờ, một thời điểm muộn bất thường. Ông rên lên, đôi mắt vẫn nhắm trong khi đếm từng tiếng chuông của Big Ben. Chỉ còn ba giờ đồng hồ nữa trước khi ông phải đưa ra phán quyết, và ông vẫn chưa đi được tới quyết định. Đại Chưởng ấn rên lên lần thứ hai khi ông đặt chân xuống sàn, xỏ dép vào và đi sang phòng tắm. Thậm chí lúc ngồi trong bồn tắm, ông vẫn tiếp tục đánh vật với vấn đề. Thực tế. Harry Clifton và Giles Barrington đều bị mù màu, giống như Sir Hugo. Thực tế. Bệnh mù màu chỉ có thể di truyền từ mẹ, vậy nên đây chỉ đơn thuần là trùng hợp ngẫu nhiên, và cần được loại bỏ trên đúng cơ sở đó. Ông ra khỏi bồn tắm, lau khô người, khoác lên mình một chiếc áo mặc trong nhà. Sau đó, ông ra khỏi phòng ngủ, đi theo hành lang trải thảm dày tới phòng làm việc của mình. Đại Chưởng ấn cầm một cây bút máy và viết hai cái họ “Barrington” và “Clifton” lên đầu một trang giấy, phía dưới ông bắt đầu liệt kê những ưu thế và yếu thế của từng người. Cho tới khi ông viết kín ba trang giấy với thứ chữ gọn ghẽ như bản khắc đồng của mình, Big Ben đã đánh tám tiếng chuông. Song ông vẫn chẳng sáng suốt được thêm chút nào. Ông đặt bút xuống và miễn cưỡng đi ăn sáng. Đại Chưởng ấn ngồi một mình, lặng lẽ dùng bữa sáng. Thậm chí ông không để mắt tới những số báo ra buổi sáng được xếp ngay ngắn ở bên đầu bàn, cũng không bật máy thu thanh lên, vì ông không muốn một bình luận viên không được thông tin đầy đủ nào đó làm ảnh hưởng đến phán quyết của mình. Những tờ báo nghiêm túc tập trung vào tương lai của nguyên tắc thừa kế thế tập nếu Đại Chưởng ấn phán quyết có lợi cho Harry, trong khi các tờ lá cải dường như chỉ bận tâm đến chuyện liệu Emma có thể kết hôn với người đàn ông cô yêu hay không. Khi ông quay trở lại phòng tắm để đánh răng, cán cân công lý vẫn chưa nghiêng về bên nào. Ngay sau khi Big Ben đánh chuông báo chín giờ, ông quay trở lại phòng làm việc và đọc lại các ghi chép của mình với hy vọng rằng cuối cùng cán cân cũng sẽ nghiêng về bên này hay bên kia, song nó vẫn cân bằng tuyệt đối. Ông tiếp tục nghiền ngẫm các ghi chú khi một tiếng gõ cửa nhắc nhở Đại Chưởng ấn rằng cho dù có hình dung quyền lực của ông lớn đến thế nào, ông vẫn không thể ngăn được thời gian trôi đi. Ông thở dài, xé ba tờ giấy khỏi tập sổ ghi chép, đứng dậy, tiếp tục đọc trong khi bước ra khỏi phòng làm việc và đi xuống hành lang. Khi vào phòng ngủ, ông trông thấy East, người hầu phòng, đang đứng cạnh chân giường, chờ đợi thực hiện phần việc buổi sáng. East bắt đầu bằng việc khéo léo cởi chiếc áo mặc trong nhà bằng lụa ra trước khi giúp ông chủ mặc lên người một chiếc sơ mi trắng vừa là xong vẫn còn ẩm. Tiếp theo, một cái cổ cồn hồ bột, rồi đến một chiếc khăn quàng cổ nhỏ tinh tế có dây buộc. Trong khi Đại Chưởng ấn kéo cái quần dài đen lên, ông tự nhắc nhở mình đã tăng thêm vài cân kể từ khi nhậm chức. Tiếp đó, East giúp ông mặc chiếc áo thụng dài màu đen và vàng trước khi chuyển sự chú ý sang đầu và bàn chân ông chủ. Một bộ tóc giả che kín gáy được đội lên đầu ông trước khi ông xỏ chân vào đôi giày có cài khóa. Chỉ sau khi sợi dây chuyền vàng chức tước từng được ba mươi chín vị Đại Chưởng ấn trước đó đeo đã nằm trên vai, ông mới từ bộ dạng một vai quý bà cáu bẳn trên sân khấu kịch câm chuyển thành quan chức tư pháp có quyền lực lớn nhất ở quốc gia này. Một cái liếc mắt vào gương, và ông cảm thấy đã sẵn sàng để bước lên sân khấu diễn vai của mình trong vở diễn đầy kịch tính đang được công diễn. Chỉ tiếc một điều là ông vẫn chưa biết lời thoại sẽ thế nào. Việc căn thời gian cho Đại Chưởng ấn đi vào và ra khỏi tòa tháp Bắc cung điện Westminster hẳn có thể khiến một thượng sĩ nhất của trung đoàn phải thấy ấn tượng. Vào lúc 9 giờ 40 phút sáng, có một tiếng gõ cửa và David Bartholomew, thư ký của vị đại thần, bước vào phòng. “Chúc buổi sáng tốt lành, thưa ngài,” ông ta mở lời. “Chúc buổi sáng tốt lành, ông Bartholomew,” Đại Chưởng ấn chào lại. “Tôi rất tiếc phải thông báo,” Bartholomew nói, “là Lord Harvey đã qua đời tối qua, trong một chiếc xe cứu thương trên đường tới bệnh viện.” Mời các bạn mượn đọc sách Bí Mật Sâu Kín Nhất của tác giả Jeffrey Archer & Lê Đình Chi (dịch).
Bao Điều Không Nói
"Lydia đã chết. Nhưng gia đình cô vẫn chưa biết điều này.”  Đó là mở đầu của cuốn tiểu thuyết về một gia đình lai Mỹ - Á sống tại thị trấn nhỏ ở Ohio năm 1970. Lydia là đứa con mà ông bà Lee rất mực yêu thương, và cô được kỳ vọng sẽ hoàn thành những giấc mơ dang dở của cha mẹ mình. Nhưng cuộc đời không phải luôn bằng phẳng. Cái chết của Lydia đã làm đảo lộn mọi dự định cũng như phá vỡ sự cân bằng mong manh của gia đình cô.Trong quá trình đi tìm manh mối về cái chết của Lydia, những bí mật của gia đình Lee dần được hé lộ… Cuốn tiểu thuyết không đơn thuần kể về một án mạng, nó còn là câu chuyện xúc động về gia đình, về ước mơ, khát khao và lầm lỗi. Đặc biệt, sự giằng xé trong những thân phận ngụ cư, loay hoay tìm giấc mơ nơi "Miền đất hứa", cũng là một điểm nhấn kéo dài âm ỉ trong suốt mạch truyện, đầy day dứt và xót xa. *** Lydia chưa biết bơi. Dù cô đã đi tập bơi suốt cả mùa hè với anh Nath. Lydia rất muốn thỏa cái cảm giác nổi lơ lửng trên mặt nước là như thế nào. Nhưng đấy phải là lúc cô còn sống cơ. Nhìn từ bên ngoài, nhà Lee là một gia đình hạnh phúc. Ông chồng James là một giáo sư được yêu mến tại trường đại học, bà vợ Marilyn giỏi nấu nướng và đảm đang. Ba người con của họ đều tài giỏi, đứa lớn Nath thì được nhận vào trường Harvard, đứa thứ hai Lydia là học sinh xuất sắc ở trường, đứa út Hannah lại là một cô bé cực kỳ ngoan ngoãn. Nhưng trong tâm trí của mỗi thành viên lại có những suy nghĩ riêng mà không ai hiểu được. James vật lộn trong đống bài vở của đám sinh viên, ông chỉ mong muốn được hơi ấm phụ nữ ôm lấy mình. Tuy nhiên ông lại không nói với vợ con. Marilyn ngày đêm mơ đến lớp Hóa - Sinh vẫn còn đang dang dở tại trường đại học, giấc mơ trở thành bác sĩ vẫn ám ảnh bà. Khi biết mình không còn cơ hội nào, Marilyn dồn giấc mơ đó cho đứa con gái bà yêu quý nhất, Lydia. Nhưng bà cũng không nói những điều đó với chồng con. Kể từ xem chương trình khoa học trên TV, Nath bắt đầu đam mê thiên văn học, cậu muốn sau này trở thành phi hành gia hoặc làm việc trong NASA. Vậy mà trong nhà không một ai quan tâm đến điểm A môn Vật lý cậu giành được, hay lá thư trường Harvard gửi về mời cậu nhập học. Nath ghét bố mẹ, ghét cả cô em gái cậu từng rất yêu thương Lydia, và chỉ muốn nhanh chóng thoát khỏi căn nhà này. Cuối cùng Nath vẫn không biến những suy nghĩ đó thành lời nói. Hannah giống như một đứa trẻ vô hình trong gia đình. Họ quên bày bát đĩa của cô, không bao giờ hỏi chuyện học ở trường, không dẫn cô đi tập bơi, và thậm chí đôi khi cũng quên mất sự tồn tại của cô trên đời. Thú vui duy nhất của Hannah là trộm đồ đạc trong nhà, cô cất giữ chiếc bật lửa của bố, dây chuyền của chị Lydia và vô số đồ lặt vặt khác. Nhưng cô không bao giờ kể chuyện đó cho ai biết. Còn Lydia rất muốn nói cho bố rằng cô không hề có bạn bè nào trong suốt nhiều năm qua, nói với mẹ rằng cô không còn hiểu được các công thức Vật lý phức tạp kia, và đừng mua thêm sách cho cô nữa. Lydia muốn tâm sự với Nath rằng cô không muốn anh rời đi, khi ngôi nhà này ngột ngạt quá đến mức cô không thể chịu đựng nổi. Lydia cũng luôn muốn dặn Hannah, nếu em thực sự muốn điều gì, em phải nói ra, nếu không em sẽ hối hận cả đời. Tuy vậy, chính Lydia lại không làm được điều đó. Tất cả những điều họ không nói đã trở thành ác mộng. Xác của Lydia được tìm thấy đáy hồ, mất một nửa mặt vì bị ngâm quá lâu trong nước. Một cái xác câm lặng nhưng phơi bày hết một thứ gì đó đã mục ruỗng từ lâu trong chính nhà Lee, những người Trung Quốc duy nhất trong thị trấn này. Lấy bối cảnh những năm 1970 tại một thị trấn nhỏ nước Mỹ, Bao điều không nói của Celeste Ng đã vẽ nên một bức tranh nhức nhối ẩn đằng sau vẻ bên ngoài yên bình giả tạo. Cái chết dưới hồ của một cô gái có thể là chủ đề bàn tán cho cả thị trấn trong suốt thời gian dài, nhưng quan trọng hơn đó là một cô gái Trung Quốc mắt xanh. Sự phân biệt chủng tộc ngầm len lỏi qua cộng đồng nhỏ bé này là một cái tát thẳng vào mặt những kẻ ngoại tộc ở đây. Với mạch truyện chậm rãi và buồn thảm, Bao điều không nói thử thách sự kiên nhẫn cực độ của người đọc. Nếu cuốn sách được chuyển thể, độc giả có thể mường tượng được màu sắc u tối và xám xịt trong từng cảnh của phim hiện ra như thế nào. Nhưng trên tất cả, cuốn sách là bài học giáo dục sâu sắc dành cho các bậc phụ huynh, người trước giờ vẫn luôn ảo tưởng rằng mình đã hiểu hết tâm tư của những đứa trẻ. *** Lydia đã chết. Nhưng gia đình cô vẫn chưa biết điều này. Năm 1977, ngày 3 tháng năm, lúc 06:30 sáng, không ai thấy có gì bất thường ngoài một thực tế vô thưởng vô phạt: Lydia muộn bữa ăn sáng. Như mọi khi, bên cạnh bát ngũ cốc, mẹ của Lydia đặt một cây bút chì mài nhọn và sáu bài tập Vật lý về nhà đã được đánh dấu nháy nhỏ cho cô. Đánh xe đến chỗ làm, bố của Lydia quay đĩa số về WXKP, Kênh Tin tức Hay nhất Tây Bắc Ohio, bực mình bởi tiếng rè rè của sóng vô tuyến. Trên cầu thang, anh trai của Lydia ngáp ngắn ngáp dài, đắm mình trong cơn mơ ngủ. Trên chiếc ghế trong góc bếp, em gái của Lydia khòm người, tròn mắt nhìn đĩa ngũ cốc bắp, cố hút từng miếng một, chờ Lydia xuất hiện. Rốt cuộc, cô cũng lên tiếng: “Lydia đang làm mất thời gian hôm nay rồi đấy.” Tầng trên, Marilyn mở cửa phòng con gái mình và trông thấy chiếc giường trống không: mấy góc chăn bông vẫn được xếp gọn gàng, mặt gối vẫn mịn và căng phồng. Mọi thứ vẫn ở yên vị trí của nó. Mớ đồ nhung kẻ màu mù tạt nằm ngổn ngang dưới sàn, cạnh một chiếc vớ sọc cầu vồng. Hàng ruy băng Giải thưởng Khoa học treo trên tường, một tấm bưu thiếp của Einstein. Chiếc túi du lịch nhàu nát trên sàn tủ quần áo. Chiếc cặp đựng sách màu xanh lá nằm rũ trên bàn. Lọ Baby Soft trên nóc tủ với mùi hương phấn dịu ngọt mềm mại vẫn còn đọng trong không khí. Nhưng không có Lydia. Marilyn nhắm mắt lại. Có lẽ, khi bà mở mắt ra, Lydia sẽ ở đó, phủ chăn quá đầu như thường lệ, suối tóc dài xòa xuống. Một giọng điệu gắt gỏng phát ra từ dưới tấm ga trải giường mà, vì lí do nào đó, bà mặc kệ. Con đang trong phòng tắm, mẹ ơi. Con xuống dưới lầu uống nước rồi. Con nằm đây nãy giờ mà. Tất nhiên, khi bà đưa mắt nhìn xung quanh, chẳng có gì thay đổi cả. Các rèm cửa khép kín hắt ánh sáng như một màn hình tivi trống. Xuống cầu thang, bà dừng lại ở cửa nhà bếp, bàn tay đặt lên mỗi bên khung cửa. Sự im lặng của bà đã nói lên tất cả. “Mẹ sẽ kiểm tra bên ngoài” - cuối cùng, bà nói. - “Có thể có lí do nào đó…”. Bà nhìn chằm chằm vào sàn nhà rồi lại hướng về phía cửa trước, như thể dấu chân của Lydia đã bị thảm lau mất dấu vết. Nath nói với Hannah: “Lydia ở trong phòng nó tối qua mà. Anh nghe có tiếng radio. Lúc 11:30.” Cậu ngừng nói, sực nhớ ra cậu đã không chúc em gái ngủ ngon. “Mười sáu tuổi thì có còn bị bắt cóc được nữa không ạ?” - Hannah vặn vẹo. Nath dùng muỗng khuấy bát thức ăn của mình. Ngũ cốc bắp nát ra rồi chìm vào lớp váng sữa. Mẹ chúng trở vào bếp, và vì một khoảnh khắc an nhiên trong lòng, Nath thở hắt ra nhẹ nhõm với ước nguyện: Em đây rồi, Lydia, vẫn bình an vô sự. Điều này thỉnh thoảng vẫn xảy ra - gương mặt anh em chúng giống nhau đến nỗi dù đã nhìn thật chăm chú nhưng bạn vẫn sẽ nhầm lẫn đứa này với đứa khác: chiếc cằm xinh xắn, xương gò má cao và lúm đồng tiền bên má trái giống nhau, bờ vai thon gọn y hệt. Chỉ có màu tóc là khác biệt, tóc Lydia đen nhánh như màu mực trong khi mẹ chúng lại có mái tóc xoăn màu mật ong. Nath và Hannah lại giống bố. Có một lần, một người phụ nữ dừng lại trước chúng trong một cửa hàng tạp hóa và sẵng giọng hỏi: “Người Trung Quốc à?” Và khi chúng vừa kịp trả lời vâng, bà ta không thiết nghe tiếp câu nói dang dở đã gật gật đầu ra chiều hiểu biết. “Nhìn đôi mắt đó là biết ngay mà.” Bà ta nói rồi kéo dài đuôi mắt với một ngón tay. Nhưng Lydia, bất chấp di truyền, bằng cách nào đó sở hữu đôi mắt màu xanh biếc của mẹ, và chúng biết điều này là một trong nhiều lý do Lydia rất được mẹ cưng chiều. Và bố của chúng cũng vậy. Khi Lydia đặt tay lên trán thì trông cô càng giống mẹ hơn nữa. “Chiếc xe vẫn còn ở đây” - bà nói, Nath biết trước như vậy rồi. Lydia không thể lái xe; con bé thậm chí còn chưa có giấy phép lái xe. Tuần trước, nó đã khiến cả nhà kinh ngạc khi thì rớt, và bố nhất định sẽ không để con bé ngồi ở ghế lái khi không có bằng. Nath khuấy ngũ cốc đang dần đặc quánh lại ở đáy bát của mình. Đồng hồ trong sảnh kêu tích tắc, điểm bảy giờ ba mươi phút. Không một ai di chuyển. “Hôm nay chúng ta vẫn đến trường chứ?” - Hannah hỏi. Marilyn lưỡng lự. Sau đó, bà vào lấy ví và chùm chìa khóa với một vẻ mặt tươi tỉnh. “Hai con muộn xe buýt rồi. Nath, lấy xe của mẹ và tiện thể thả Hannah xuống trên đường con đi nhé.” Rồi bà nói tiếp: “Đừng lo lắng. Bố mẹ sẽ tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra.” Bà không nhìn bọn trẻ. Chúng cũng không hề quay lại nhìn bà. Khi hai đứa con đi khỏi, bà lấy ra một chiếc cốc từ chạn bếp, cố giữ bàn tay khỏi run rẩy. Cách đây rất lâu, khi Lydia còn là một đứa bé, Marilyn đã từng để Lydia một mình trong phòng khách, chơi trên một cái chăn, và đi vào nhà bếp để pha một tách trà. Con bé chỉ mới mười một tháng tuổi. Marilyn nhấc ấm nước ra khỏi bếp và quay sang tìm Lydia đang đứng ở ngưỡng cửa. Vừa xoay đi, bà đã đặt nhầm bàn tay trên bếp nóng. Một vết bỏng đỏ au, hình xoắn ốc hiện lên trên lòng bàn tay, rồi bà chạm nó lên môi và nhìn con gái mình qua làn nước mắt. Lydia đứng đó, hoạt bát lạ thường, tựa như đây là lần đầu tiên cô vào nhà bếp. Marilyn đã không nghĩ về những thiếu sót trong bước đầu tiên nuôi dạy con trẻ, hoặc giả con gái mình đã lớn đến nhường nào. Ý nghĩ hiện lên trong tâm trí bà không phải là Mình đã bỏ rơi con bé ra sao? Mà là Con đang che giấu điều gì khác? Nath đã biết rướn người, loạng choạng lật mình và đi chập chững ngay trước mặt bà, nhưng bà lại không nhớ Lydia đã bắt đầu tập đứng khi nào. Dù con bé trông có vẻ rất vững vàng trên đôi chân trần, những ngón tay bé nhỏ hé ra từ gấu áo của bộ đồ yếm. Marilyn thường quay lưng lại, mở tủ lạnh hoặc ủi quần áo. Lydia có thể đã bắt đầu biết đi từ nhiều tuần trước, trong lúc bà mải cúi người làm bếp, và không hề biết điều gì đang diễn ra. Mời các bạn mượn đọc sách Bao Điều Không Nói của tác giả Celeste Ng & Thảo Lê (dịch).
Áo Khoác Lông Chồn
Ngay từ lần xuất bản đầu tiên vào năm 1935, Áo khoác lông chồn đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất nước Mỹ. Nhà văn John O'Hara - tác giả của tiểu thuyết - đã lấy cảm hứng từ thông báo tìm thấy xác một cô gái trẻ đẹp trôi dạt vào bãi biển Long Island. Đây có thể chỉ là một tai nạn, một vụ giết người hay tự tử? Không ai biết được sự thật về cái chết ấy, nhưng John O'Hara đã chộp lấy tấn thảm kịch này và tưởng tượng ra cuộc đời đầy thăng trầm của một người con gái ở New York vào đầu những năm 1930. Nhà văn O'Hara đã khéo léo khắc họa chân dung cuộc sống của cô gái Gloria Wandrous trẻ đẹp từ giây phút cô tỉnh dậy trên một chiếc giường lạ đến khoảnh khắc cuộc đời của cô chấm dứt. Với sự chân thực đến xấc xược và sự thính nhạy độc đáo, Áo khoác lông chồn đã bóc trần những sự thật thường là xấu xa và được che giấu, ẩn nấp dưới cái vẻ bên ngoài của một xã hội quay cuồng vì ảnh hưởng của cuộc Đại Suy thoái. Có thể nói đây là một tuyệt phẩm trên văn đàn nước Mỹ. *** Một nước Mỹ năm 1935 được miêu tả: "Nhiều đam mê ngấm ngầm, nhiều quy tắc bất thành văn. Có nhiều người giàu không kể xiết và có những anh hùng không được tôn vinh…" Tên sách: Áo khoác lông chồn Tác giả: John O’Hara Dịch giả: Đinh Thị Thanh Vân NXB Văn hóa Sài Gòn   Nhắc đến John O’Hara, người ta thường nghĩ ngay tới cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Appointment in Samarra” (Hẹn gặp ở Samarra) – tác phẩm đầu tay gắn với tên tuổi của tác gia nước Mỹ này chưa bao giờ rời khỏi danh sách 100 tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại. Nếu như “Hẹn gặp ở Samarra” từng được đánh giá là đạt đến vẻ đẹp kinh điển của một tác phẩm hiện thực trong thế kỷ 20 thì có một tiểu thuyết khác của ông lại được ví như cuốn “biên niên sử của nước Mỹ”. Tác phẩm ấy là “BUtterfield 8” – được xuất bản ở Việt Nam dưới cái tên “Áo khoác lông chồn”. “Áo khoác lông chồn” ra mắt lần đầu năm 1935, thời điểm mà theo tác gia Fran Lebowitz là lúc nền văn hóa cũng như kinh tế của nước Mỹ đang hồi nhiễu loạn: “Năm 1935, nhiều sự việc không nói ra thì tốt hơn. Nhiều đam mê ngấm ngầm, nhiều quy tắc bất thành văn. Có nhiều người giàu không kể xiết và có những anh hùng không được tôn vinh… Năm 1935, chỉ số Dow Jones đóng cửa ở mức 144.13, không những cho thấy tác động của nạn Đại Suy thoái, mà còn truyền đạt một ý nghĩa đặc biệt, đây là một giai đoạn có không ít việc buôn bán ngoài luồng. Năm 1935, Luật cấm buôn bán rượu mới hết hiệu lực được hai năm, sau khi kéo dài mười ba năm liền. Trong nhiều thành công khác, nó còn có tác dụng dân chủ hóa hoàn toàn và rất quái đản tính chất vụng trộm của nền đạo đức, chi phối các cuộc ngoại tình của tầng lớp thượng lưu Mỹ…” Trong bối cảnh ấy, John O’Hara đã tái hiện lại một cuộc đời đầy những biến động của cô gái trẻ Gloria Wandrous. Mồ côi cha từ rất sớm, Gloria sống trong sự bao bọc của một người mẹ mẫu mực và người bác ruột hết lòng yêu thương, chiều chuộng cô. Nhưng rồi bi kịch thứ nhất xảy đến. Gloria bị lạm dụng tình dục bởi thiếu tá Boam – bạn quân ngũ của bác cô. Cô gái 12 tuổi rơi vào tình trạng rầu rĩ và suy nhược, nên buộc phải chuyển đến New York. Từ một thiếu nữ xinh đẹp, thông minh, có giáo dục, Gloria trở thành một kẻ say xỉn, “nhẵn mặt” hầu hết các quán rượu lậu ở New York. Ở tuổi 20, Gloria đã trở thành người đàn bà sành sỏi chốn tình trường. Bước ngoặt lớn thứ hai trong cuộc đời Gloria là gặp gỡ và quen biết Liggett – một người đàn ông đã có vợ và hai con.   Từ một mối quan hệ qua đường, cô gái trẻ đem lòng yêu người đàn ông đáng tuổi bố mình. Rồi trong một lần ở cùng nhau, bị chi phối bởi phút bốc đồng của những đam mê nhục dục, Liggett đã xé rách chiếc váy dạ hội của Gloria. Điều này tiếp tục đẩy cuộc đời Gloria vào một bi kịch mới: Bi kịch đánh cắp chiếc áo khoác lông chồn trị giá 6.000 đô la và được bảo hiểm với giá 3.000 đô la.   Chẳng phải ngẫu nhiên mà tác phẩm mang tên “Áo khoác lông chồn”. Thứ đồ xa xỉ ấy cũng giống như bộ mặt của giới thượng lưu Mỹ trong thời Đại Suy thoái. Nó là thứ vỏ bọc bên ngoài đẹp đẽ và hào nhoáng, nhưng phù phiếm và vô giá trị về mặt tinh thần. Nó là món quà người chồng tặng cho vợ mình để minh chứng tình yêu nhưng thực chất chính anh ta lại là kẻ ngoại tình đáng khinh nhất.   Nó – chiếc áo lông chồn ấy cũng vẫn là vật cuối cùng mà Liggett tìm đến sau khi chạy trốn như một kẻ tội phạm khỏi con tàu mà Gloria tội nghiệp đã bỏ mạng. Vẫn theo Fran Lebowitz thì John O’Hara đã: “hiểu rõ hơn bất cứ nhà văn Mỹ nào khác rằng, giai tầng có thể vừa bộc lộ vừa nhào nặn lên tính cách, sự hời hợt có thể trọn vẹn đến vô cùng, và quần áo có thể thực sự làm nên con người ra sao”.   John O’Hara viết “Áo khoác lông chồn” ở tuổi 29. Điều này giúp lý giải một cách thấm thía rằng giọng điệu từng trải, thông thái và lối văn chương chân thực mà tinh tế ấy không phải được tạo nên bởi một ngòi bút nhiều trải nghiệm mà bởi một tài năng đáng ngưỡng mộ, cộng với một tầm hiểu biết sâu sắc.   Cũng bởi thế mà tờNew York Times từng có lời khen tặng: "O’Hara chiếm giữ vị trí độc nhất trong nền văn học đương đại của Mỹ. Ông là nhà văn Mỹ duy nhất tái hiện xã hội Mỹ trong cái cách mà nó đã được thể hiện trong tác phẩm của Henry James về nước Mỹ, hay dưới ngòi bút của Proust về nước Pháp". “Áo khoác lông chồn” xứng đáng được coi là một tuyệt phẩm trên văn đàn nước Mỹ. Năm 1960, tác phẩm này đã được chuyển thể thành phim với sự tham gia của hai ngôi sao điện ảnh hàng đầu Elizabeth Taylor và Laurence Harvey. Bộ phim mang về cho huyền thoại Elizabeth Taylor giải Oscar Nữ diễn viên xuất sắc nhất. *** John O’Hara (1905-1970) viết “Áo khoác lông chồn” năm ông mới 29 tuổi. Tác phẩm trở thành kiệt tác và gần công chúng hơn khi được chuyển thể thành phim với sự tham gia diễn xuất của hai ngôi sao điện ảnh hàng đầu: Elizabeth Taylor và Laurence Harvey năm 1960. Áo khoác lông chồn được cho là “biên niên sử của nước Mỹ”. Ngòi bút sinh động và thực tế của John O’Hara đã bóc trần đời sống xã hội Mỹ những năm 30 với những suy thoái về kinh tế và sự chao đảo về đạo đức.   Nhân vật chính của câu chuyện là Gloria Wandrous. Cha cô là một nhà hoá học đã chết vì phóng xạ, Gloria sống cùng mẹ và bác ruột tên là Vandanm. Tuổi thơ của Gloria diễn ra trong tình yêu thương, sự hy vọng của mẹ và bác trai. Nhưng bất hạnh bắt đầu đổ ập xuống cuộc đời của Gloria từ khi thiếu tá Boam - một người bạn quân ngũ của bác cô - sau một lần đến nhà chơi đã giở trò lạm dụng tình dục đối với cô. Giống như nhiều nạn nhân của bi kịch bị lạm dụng tình dục khác, cô bé 12 tuổi Gloria có những biểu hiện khác thường: hay rầu rĩ, hơi suy nhược. Cuộc đời Gloria thực sự rẽ sang một hướng khác. Cô buộc phải chuyển đến môi trường mới để tiếp tục sống và học tập những mong quên đi bi kịch của mình. Nhưng cô đến New York đúng thời điểm nước Mỹ đang trên đà đại suy thoái về kinh tế và đạo đức, lối sống của xã hội Mỹ đang bị chao đảo nặng nề. Gloria chỉ là nạn nhân, nhiều cô gái trẻ khác cũng chỉ là nạn nhân. Sau một lần nạo thai vì vui vẻ với chàng sinh viên trường Yale, Gloria dần dần trở thành người đàn bà sành sỏi chốn tình trường. Cho đến khi gặp Ligget, gã đàn ông đã có vợ và hai cô con gái, thì cô lún sâu hơn vào bùn lầy không thể rút chân ra được. Để thoả mãn đam mê nhục dục, Ligget đã xé toang váy áo của cô. Chính hành động lúc say tình này mà Ligget đã vô tình đẩy cô đến bi kịch khác: Bi kịch của kẻ ăn cắp chiếc áo khoác lông chồn đắt tiền, chiếc áo có giá trị tới 10.000 USD và được đóng bảo hiểm tới 4.000 USD. Chiếc áo khoác lông chồn bị mất, cuộc hôn nhân của gia đình Ligget bị dồn đến bên bờ vực thẳm. Nhưng có điều Ligget thấy kỳ lạ, ông vừa thấy ghê sợ Gloria nhưng lại thấy đam mê cô khủng khiếp. Điều này ông chỉ nhận ra khi phải đứng ở lằn ranh của cuộc hôn nhân đổ vỡ. Người đàn ông thứ hai của Gloria và luôn sát cánh bên cô là Eddie Brunner. Anh cũng nhiều lần muốn có được Gloria nhưng luôn bị ám ảnh rằng cô là mẫu đàn bà dễ dãi và từng chung đụng với nhiều người tình. Eddie Brunner được tác giả xây dựng như một người đàn ông tình nghĩa, một người bạn đích thực. Anh biết mọi bi kịch, sự đổ đốn của Gloria nhưng vẫn luôn âm thầm bảo vệ và xót thương cho cô. O’Hara đã tạo nên nhân vật của mình với sự chân thực đến táo bạo, sự thính nhạy độc đáo đã bóc trần thói xấu xa được che giấu, ẩn nấp dưới cái vẻ bề ngoài của một xã hội quay cuồng bởi Đại suy thoái. T.T. Review Mời các bạn mượn đọc sách Áo Khoác Lông Chồn của tác giả John O'Hara & Đinh Thị Thanh Vân (dịch).