Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thời Gian Để Sống và Thời Gian Để Chết - Erich Maria Remarque

“Bỗng Graeber thoáng ngửi được mùi hoa violet. Anh tìm xung quanh và thấy một bình hoa nhỏ đặt bên thành cửa sổ. Hương thơm vô cùng dịu ngọt, ngào ngạt chứa đầy mộng ước đã bị quên lãng của tuổi thanh xuân, những kỷ niệm của quê nhà yên lành và những ngày ấu thơ bình dị, tất cả ập đến trong anh, mạnh mẽ, đột ngột và mau chóng như những đợt sóng dồn. Một làn hương thơm lại làm anh xúc động và mệt mỏi như vừa đeo ba lô chạy một quãng dài trong tuyết…” Khi Thế chiến II sắp đi vào hồi kết, anh lính Ernst Graeber đã gặp được phép mầu của đời mình: cô thiếu nữ Elisabeth Kruse – người đã biến mười bốn ngày phép loạn lạc thành một năm thanh bình, đã biến đất nước khói lửa và chiến tranh lần nữa là mái nhà yêu dấu, trong hương hoa tím ngọt ngào tuổi thanh xuân, dưới những hàng cây đoạn vẫn xanh tươi mặc cho bao nhiêu bom đạn, trên bãi cỏ nở hoa đã thoát khỏi quy luật tuyệt diệt của nhân loại… Và như thế, trong giai điệu tha thiết và nhiệt thành của con tim, những giấc mơ hạnh phúc đã trở lại, những niềm hy vọng đã trỗi dậy, ánh sáng và hơi ấm đã lan tỏa, sự sống và mùa xuân đã tái sinh trên nước Đức, dù muộn màng và đổ nát. *** Tác giả Erich Maria Remarque (1898 – 1970), sinh ra trong một gia đình bình dân tại Osnabrũck, miền Tây nước Đức. Từ nhỏ, Remarque luôn ngưỡng mô mẹ - bà Ana Maria, trong khi lại tỏ ra xa lánh cha – ông Peter Remarque. Ông Peter Remarque bình sinh chỉ là người thợ đóng sách nghèo. Sự vất vả, túng bẩn của gia đình đã khiến cậu bé Remarque mới hơn mười tuổi đã phải tự kiếm sống bằng việc dạy kèm piano. Và cậu phải luôn làm cật lực để bù vào khoản thù lao mà hầu như tháng nào cậu cũng phải xin ứng trước. Dấu ấn những năm tháng cơ cực sau này được nhà văn ghi lại trong nhiều tác phẩm của ông. Tốt nghiệp trung học, Remarque vào đại học Munster , nhưng chưa học xong ông đã bị gọi nhập ngũ và chiến đấu ở mặt trận phía tây. Khoảng thời gian giàu sinh ra tử trong lửa đạn này là nguồn tư liệu quý giá cho ông viết cuốn tiểu thuyết đầu tay. Những điều ông đã kinh qua ít nhiều đều được miêu tả trong cuốn sách ấy. Những tác phẩm tiêu biểu: Phía Tây không có gì lạ; Khải hoàn môn; Ba Người Bạn Đường về; Tia lửa sống; Bia mộ đen; Chiến Hữu Bản Du Ca Cuối Cùng Lửa Yêu Thương Lửa Ngục Tù Một Thời Để Yêu Và Một Thời Để Chết … Hầu hết các tác phẩm đều mang khuynh hướng phê phán và tố cáo xã hội mãnh liệt đồng thời miêu tả sức hủy hoại kinh hoàng của cuộc chiến tranh đế quốc đối với thể chất và tinh thần của con người. *** Yêu và chết của một người trên mặt đất, nhất là trên mặt đất đầy lửa và máu, hoài vọng và thất vọng cay đắng. Một thời yêu và một thời chết, chỉ một thời thôi đời sống của con người kéo dài trong tiếng rạn nức của diêm sinh bắn lửa trên đầu que diêm. Một thời để yêu và một thời để chết, một quyển tiểu thuyết dầy trên năm trăm trang, làm máy động lên những vùng tóc tơ của tình yêu và những tiếng kêu chiều của sự chết. Một người đàn ông mang tên X, gặp cô gái mang tên Y, gặp nhau tình cờ trong bối cảnh, mang tên Z. Tên X ấy có thể là Ernst Graber và cũng có thể là Xuân, Minh, Vinh hay Tâm; tên Y ấy có thể là Elisabeth Kruse và cũng có thể là Vi, Thủy, Ngọc hay Lan, tên Z kia có thể là một thành phố Đức giữa thời đại chiến mà cũng có thể là một thành phố nào đó. Tình yêu giữa thời chiến, đây là câu chuyện muôn đời xảy ra muôn lần trên lịch sử muôn năm của muôn triệu con người, nhưng đọc một thời để yêu và một thời để chết của Erich Maria Remarque, chúng ta mới thấy rằng có một thời tình yêu và chiến tranh lại trở thành những đề tài sáo cũ và lỗi thời, mà cũng có một thời tình yêu và chiến tranh lại trở lại thành những tiếng gọi thầm thì và những tiếng thống thiết đồng vọng lên hơi thở không ngừng của trái tim. Remarque đưa mình vào một buổi chiều phiêu lãng có mây nhẹ bay qua trên đống gạch vụn điêu tàn của một nền văn minh giẫy chết. Remarque không làm văn chương; chất thơ phớt nhẹ vào quyển tiểu thuyết ông như một chút nước mát từ đồi cao rưới xuống mặt đất cháy đen của thời chinh chiến. Lối văn giản dị, không tô đậm những thông điệp của một sứ giả hay một tiên tri từ vùng trời lý tưởng trở về thế gian hữu hạn để cất tiếng nói lên kêu gọi một cái gì đó. Không, Remarque không phức tạp như một André Malraux không chua xót hận thù như Malaparte, không lạnh lùng tàn nhẫn như Norman Mailer, không thất vọng bơ vơ như Hemingway. Người về từ chiến tranh. Trong tiểu thuyết của Remarque, không về trong sự lạc loài thờ ơ của Faulkner, mà trở về với hoài tưởng tới những con chim sơn ca ở đầu làng, về trong tình yêu và ra đi trong sự chết, dó là một chút khói thuốc mà Remarque gởi tặng cho chúng ta, vì như một nhân vật trong một cuốn tiểu thuyết khác của Remarque "người ta chỉ có thể tìm được thanh bình trong khói thuốc". Sự trở về kêu gọi quê hương, tình yêu, thanh bình; sự ra đi kêu gọi sự chết chiến tranh, hận thù, ngộ nhận, hư vô. Đó là một cội cây anh đào trổ bông mà Remarque đem về tặng cho mỗi người trong chúng ta, những người đang sống qua kẽ nứt của mái nhà tranh quê mẹ. Trong một quyển tiểu quyết khác của Remarque, mang tên là Mặt trận miền Tây đều yên lặng, một nhân vật nào đó không ngừng ám ảnh trí nhớ của mình, đó là một anh tân binh quân dịch, một hôm, khi ngoài cửa sổ trại lính anh bỗng nhìn thấy cây anh đào trổ bông bừng lên cả khung cửa, suốt đêm đó, anh trằn trọc ngủ không được, anh nhớ đến cây anh đào ở quê nghèo, và sáng hôm sau, người ta không còn tìm ra hành tung anh nữa. Anh đã trở về. Ra đi và trở về. Ra đi trong trầm uất và trở về trong liều lĩnh rạo rực. Sống rạo rực và chết như khói bay lên trời. Mộ thời để yêu và một thời để chết. Yêu một lần và chết một lần. Chỉ một lần. Remarque trao tặng chúng ta một thời để yêu và một thời để chết. Từ mặt trận ở Nga, Graber trở về nghỉ phép ở quê hương, chàng đã chờ dợi hai năm rồi mới được dịp may bất ngờ này. Về tới quê nhà, chàng không còn thấy, không còn nhìn ra mái nhà xưa nữa, bom đạn đã làm tan nát tất cả: cha mẹ chàng mất tích, chàng bơ phờ tìm kiếm hành tung của cha mẹ, nhưng rồi tình cờ gặp cô Elisabeth Kruse, họ yêu nhau, yêu nhau đến độ cao cuối cùng của phong vũ biểu, vì họ chỉ biết rằng mọi sự đều chỉ đến có một lần thôi. "Thực là lạ, anh nhỉ, Elisabeth nói, có lẽ là mùa xuân đang tới, em có cảm giác là đâu đây thoảng thoảng mùi hoa đồng thảo...". Và thỉnh thoảng Graber còn nghe được tiếng chim họa mi vô hình kêu hót, dù bao nhiêu sự việc đã trôi qua từ bao giờ. Nhưng giữa cánh đập của con én liệng ở lầu chuông, Graber cũng thể quên hẳn kỷ luật quân đội và chàng phải trở ra trận, để rồi sau cùng bị bắn chết, lúc chàng mở cửa tù cho tội nhân trốn thoát. Lòng nhân đạo của chàng đã bắn chàng chết: chàng muốn giải tỏa tù nhân và chính tù nhân được trả tự do đã quay ngược lại chĩa súng bắn vào chàng. Câu chuyện chấm dứt bằng một câu đơn giản: "và đôi mắt chàng đóng khép lại", thế mà chúng ta có cảm tưởng rằng câu nói ấy về sự đóng khép của một vũ trụ nào đó, một vũ trụ mà: "một cụm mây bay chậm qua bầu trời. Những con chim kêu ríu rít trong rìhững cội phong già. Một con bướm xanh lơ lảo đảo từ đóa hoa này đến đóa hoa khác và bay lượn trên những hô lạc đận. Một chặp sau đó, một con bướm khác bay tiếp theo với con bướm xanh kia. Hai con bướm vui đùa với nhau và săn đuổi nhau. Tiếng ì ầm ngoài mặt trận vang động lớn dần. Hai con bướm giao cấu nhau và bay cao lên chậm chạp trong không khí ấm và sáng. Graber nằm ngủ". ... Mời các bạn đón đọc Thời Gian Để Sống và Thời Gian Để Chết của tác giả Erich Maria Remarque.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Gắng Sống Đến Bình Minh - Vasil Bykau
Gắng sống đến bình minh là một truyện vừa khai thác đề tài cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941 - 1945) của nhà văn Vasil Bykaŭ, ra đời năm 1973. Tác phẩm là một câu chuyện sinh động và nhiều cảm xúc về những suy nghĩ, hành động của một sĩ quan trẻ trước gian nguy thử thách, trong đó thấp thoáng hình bóng của chính tác giả. Bối cảnh truyện diễn ra vào mùa thu năm 1941. Anh chiến sĩ 22 tuổi Igor Ivanovsky mới tốt nghiệp trường sĩ quan, chàng trai trẻ đã trải qua một mối tình tuyệt đẹp với một nữ sinh. Và tình yêu đã gắn kết họ vào lúc bình minh. Trong một trận đánh, Igor bị thương tới mức gần như kiệt sức. Anh đành nằm phơi mình trên đường cái, chờ lúc bình minh thức giấc, chờ quân thù đi qua để tiêu diệt và họa may ra mới hoàn thành nhiệm vụ. Chàng Trung úy trẻ chợt nhớ về những kỷ niệm xưa. Nhiều nhất là mối tình với một người, một bạn học, một đồng chí, một điệp viên Hồng quân - Yaninka. Anh bỗng nuối tiếc vì không thể nói ra tình cảm của mình khi chia tay. *** “Gắng Sống Đến Bình Minh" là một truyện vừa đầy sinh động và cảm động về hành động của một sĩ quan trẻ, trong đó thấp thoáng hình bóng của chính tác giả - một sĩ quan trẻ đã tham chiến và chứng kiến các sự việc được kể ra trong truyện. Cùng với truyện “Đài tưởng niệm”, hai truyện “Gắng Sống Đến Bình Minh" và “Đài tưởng niệm" đã đưa tác giả tới bục vinh quang: được tặng giải thưởng cao quý - Giải thưởng văn học Quốc gia Liên Xô (cũ). Như một tiền định, chàng sĩ quan trẻ Ivanôpxki 22 tuổi, mới tốt nghiệp trường sĩ quan ra cầm quân, gặp gỡ một tình yêu bất ngờ với cô học sinh chuyên nghiệp con một họa sĩ. Và tình yêu gắn kết họ vào lúc bình minh. “Ra tới bờ sông, chỗ này hoàn toàn yên tĩnh, chỉ thấy hơi oi bức. Ianinca chạy theo những hòn đá nhăn xuống tận mép nước. - Xuống đi anh, trong lúc bố còn đang ngủ; em sẽ chỉ cho anh xem vườn cảnh của em. Hoa rồng rồng bắt đầu nở đấy. Anh biết hoa rồng rồng không? Nó chỉ toả hương vào lúc bình minh, hương bay ngào ngạt”. Và trước một trận đánh đơn độc chỉ còn một mình trung úy chỉ huy 22 tuổi là anh, anh chờ đợi nổ tung cả bản thân mình. Nhưng muốn làm công việc vĩ đại đó vì lòng dũng cảm hi sinh cho đất nước, anh cần chờ đến bình minh. Vì sao vậy? Anh đã bị thương kiệt quệ sức lực, không còn có thể tiến đánh hoặc nấp chờ giặc lúc đêm tối. Anh đành nằm phơi mình trên đường cái, chờ bình minh thức dậy, lúc đó kẻ địch sẽ đi trên đường và hi vọng tiêu diệt kẻ thù họa may ra mới thực hiện được. “Khoảng thời gian đó băng giá và buốt lạnh cứ thấm dần vào nội tạng, anh cảm thấy rất rõ. Tuy đang ở trong trạng thái mơ mơ tỉnh tỉnh, nhưng anh vẫn tri giác được cái lạnh giá đột nhập vào cơ thể kiệt quệ của anh. Anh cần cố phải sống, chờ đến bình minh”. Tình yêu mở đầu vào lúc bình minh và cố sống - không cho phép mình được chết dù cơ thể đã cạn kiệt - tới bình minh để thực hiện nhiệm vụ cao cả của mình: hi sinh cho tổ quốc vĩ đại. Toàn bộ truyện toát lên khí thế anh hùng của lớp trẻ được rèn luyện và giáo dục, trung thành vì tổ quốc. Đất nước cần và mãi mãi cần những con người anh hùng như thế, như trung úy 22 tuổi Ivanôpxki trong truyện này. Tác giả Vasil Bykaŭ đã từng có nhiều truyện được dịch ra tiếng Việt ở Việt Nam, như các truyện vừa đầy xúc động: Bài ca núi Anpơ, Phát tên lửa thứ ba, Xôtnhicôp ... “ Gắng Sống Đến Bình Minh" cũng là một loại truyện đầy bút lực của nhà văn. Tất cả những tình huống đầy kịch tính, hiểm nghèo xảy ra với người chiến sĩ Xô Viết, tưởng chừng có thể đánh quỵ ý chí của họ. Nhưng không, bằng sức mạnh tinh thần, bằng đạo đức chân chính của người chiến sĩ vì tổ quốc - như Ivanôpxki - họ vượt khỏi sự gục ngã, không tuyệt vọng buông xuôi mà cố tìm một con đường, một cách để chiến thắng anh dũng vì tổ quốc. Truyện làm chúng ta thật sự cảm động và tin tưởng vào con người - những con người bắt nguồn từ một nền giáo dục trong sáng, rèn luyện ý chí mạnh mẽ với đạo đức của người anh hùng. “Gắng Sống Đến Bình Minh" luôn mang tới những cảm giác mới cho mọi người chúng ta và vì vậy, truyện luôn luôn là cần thiết và có ích. Cũng cần phải nói tới nghệ thuật xây dựng nhân vật và cách kết cấu tác phẩm giúp ta có cái nhìn đầy đủ, không nhàm chán. Nhà xuất bản xin được giới thiệu “Gắng Sống Đến Bình Minh” từ bản dịch của PGS. TS. Nguyễn Trọng Báu và Thành Châu tới các bạn đọc. Nhà xuất bản Văn Hóa Thông tin *** Bị cóng lạnh vì rét buốt, nhưng dù sao Ivanôpxki vẫn tỉnh lại được, anh nhớ ra ngay: anh đang ở đâu và cần phải làm gì. Mục đích cuối cùng của anh vẫn sống trong anh ngay cả khi anh bất tỉnh, anh chỉ không biết rằng anh đã bị ngất bao lâu và không biết mình có còn khả năng nữa không. Phút đầu tiên tỉnh lại anh lo sợ mình đã bị chậm: trên đường im ắng, không có một tiếng động nào vọng tới. Gió rít từng cơn trên cánh đồng và bỗng một trận gió tuyết thốc tới phủ kín đến tận vai anh, đôi cánh tay tê dại đến nỗi những ngón không sao cử động nổi. Nhưng anh vẫn nhớ phải bò cho được tới đường cái, chỉ đến tận đấy cuộc hành trình của anh mới được coi là kết thúc. Một cuộc giao tranh tuyệt vọng với tuyết lại bắt đầu, Ivanôpxki bò chậm, chỉ mong mỗi phút được một mét, không hơn. Sức đã kiệt lắm rồi, anh không còn tựa được lên bằng khuỷu tay, mạng sườn ngập sâu vào tuyết và sức tựa chủ yếu bằng chân. Anh cũng không hiểu sao chân bị thương lúc này không cảm thấy đau. Nhưng ở ngực tất cả lại như đang bị thiêu đốt, mọi đau đớn bây giờ như tập trung cả ở đây. Anh rất sợ, một lần nữa máu lại ộc ra khỏi họng, đến lúc đó đối với anh, mọi cái sẽ kết thúc, vì thế anh tránh thở sâu, anh không cho phép mình khạc nhổ ra. Anh giữ gìn lá phổi đã bị bắn thủng như giữ một thứ cần nhất, vì những giây phút cuối cùng của đời anh hoàn toàn phụ thuộc vào nó. Thể lực của Ivanôpxki đã giảm sút tới mức quá tồi tệ và anh rất hiểu điều đó. Còn tri giác của anh, giống như một diễn viên đi trên dây, luôn luôn đung đưa giữa cái đang tồn tại và cái mê man bất tỉnh, bát cứ lúc nào cũng sẵn sàng rơi vào cái chết, anh cố sức chịu đựng cái đau đớn quá lớn đang choán hết tâm trí. Anh không cho phép mình bị mê man bất tỉnh chừng nào chưa tới đường. ... Mời các bạn đón đọc Gắng Sống Đến Bình Minh của tác giả Vasil Bykau.
Con Đầm Pích - Alexander Pushkin
Con đầm pích là một truyện vừa với các yếu tố thần bí của đại thi hào Aleksandr S.Pushkin, ra đời năm 1834. Trong số tất cả những tác phẩm văn xuôi của Pushkin, Con đầm Pich có một vị trí đặc biệt. Truyện ngắn không chỉ phản ánh thực tại một cách sâu sắc mà còn có ý nghĩa dự báo lớn lao về cuộc khủng hoảng tinh thần của con người trong xã hội đồng tiền hiện đại. A.S.Pushkin viết tác phẩm ở làng Boldino vào khoảng tháng 10 đến tháng 11 năm 1833. Có chứng cớ cho biết thoạt đầu Pushkin dự định đặt tên cho truyện là Phát đạn giả. P.V.Nasakin, người mà Pushkin đọc cho nghe Con đầm pích đã kể lại rằng "cốt truyện không phải bịa ra". Bà Bá tước - đó chính là Natalia Golitsyna (1741 - 1837), mẹ của viên Thống đốc Moskva Dmitry Golitsyn; và quả thật cuộc sống ở Paris hệt như Pushkin mô tả. Ngày 7 tháng 4 năm 1834, A.S.Pushkin ghi trong nhật ký: "Con đầm pích" của tôi được hâm mộ. Bọn con bạc đua nhau đặt con ba, con bảy với con xì. Ở trong triều người ta nhận ra sự giống nhau giữa nữ Bá tước già và nữ Công tước N.P.Golitsyna, hình như họ không bực tức... *** Puskin viết tác phẩm này ở Bônđinô vào tháng Mười, tháng Mười Một năm 1833. Có chứng cớ cho biết thoạt đầu Puskin định đặt tên cho truyện này là "Phát đạn giả". P.V.Nasôkin, người mà Puskin đọc cho nghe "Con đầm pích" đã kể lại rằng "cốt truyện không phải bịa ra". Bà lão nữ bá tước đó chính là Natalia Pêtơrốpna Gôlitxưna (mẹ của Đ.V.Gôlitxưn, thống đốc Mátxcơva), quả thật có sống ở Pari hệt như Puskin miêu tả. Ngày 7 tháng 4 năm 1834 Puskin đã ghi nhật ký: "Con đầm pích" của tôi được hâm mộ. Bọn con bạc đua nhau đặt con ba, con bảy và con xì. Ở trong triều người ta nhận ra sự giống nhau giữa nữ bá tước già và nữ công tước N.P.Gôlitxưna và hình như họ không bực tức". Lần đầu tiên "Con đầm pích" in trong "Tủ sách để giải trí" vào năm 1834. ♠ “Con đầm pích có nghĩa là điều thù địch ngấm ngầm." — Sách bói toán mới nhất. *** Aleksandr Xergeyevich Pushkin là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng người Nga. Được tôn vinh là đại thi hào, Mặt trời thi ca Nga, ông đã có những đóng góp to lớn trong việc phát triển ngôn ngữ văn học Nga hiện đại và là biểu tượng của dòng văn học lãng mạn Nga thế kỷ XIX. Các tác phẩm của A.X. Puskin: Ngoài các bài thơ được sáng tác một cách rải rác từ thời niên thiếu cho đến khi qua đời, gia tài văn chương của A.X. Puskin. *** Ba ngày sau cái đêm bi đát đó, vào khoảng chín giờ sáng Gherman đến tu viện là nơi sẽ cử hành tang lễ cho lão bá tước phu nhân. Hắn không thấy hối hận; nhưng một tiếng nói đâu ở bên trong vẫn nhắc nhở rằng hắn là kẻ sát nhân giết hại bà lão này. Do lòng thành tín, hắn đâm ra có nhiều thành kiến. Hắn tin chắc rằng, vong hồn của bá tước phu nhân thế nào rồi cũng sẽ theo dõi báo hại đời hắn, nên hắn muốn đến dự tang lễ của người đã chết. Nhà thờ chật ních những người, hắn phải chen chúc mãi mới len vào được. Quan tài đã được đặt trên một bệ cao lộng lẫy, dưới một tán nhung. Bá tước phu nhân nằm trong quan tài, hai tay chắp trên ngực, mình vận một chiếc áo ta-tăng trắng, đầu đội mũ trùm viền đăng-ten. Gia quyến đứng tụ tập cả chung quanh, gia nhân đày tớ trong nhà thì mặc áo nẹp đen, trên vai có tết một dải băng thêu gia huy bá tước, tay mỗi người cầm một cây bạch lạp. Thân nhân gồm con cái, cháu chắt thì mặc y phục đại tang. Không một ai khóc cả; những giọt nước mắt lúc này e có thể bị coi là une affectation [23]. Bá tước phu nhân đã già quá rồi, đến nỗi cái chết của bà chẳng làm cho ai phải ngạc nhiên cả, vì cũng từ lâu, họ hàng đã quen coi bà không còn ở trên cõi đời này nữa rồi. Đức giám mục trẻ tuổi nói vài lời ai điếu. Bằng một vài câu giản dị và đầy cảm xúc, vị này tả lại phút lâm chung êm thấm của một con người chính trực công minh đã dọn mình hàng bao nhiêu năm một cách thật cảm động để đón chờ một cái chết ngoan đạo. Thuyết sư nói: "Thiên thần tử vong đã đến rước phu nhân đi trong khi tâm hồn đang trầm tư kính tín, đang thức để chờ đợi vị hôn phu Nửa đêm" [24]. Tang lễ được cử hành một cách trang trọng u buồn. Thân nhân là những người đầu tiên đến vĩnh biệt người đã khuất. Sau đó là đông đảo các quan khách đến nghiêng mình lần cuối cùng trước một con người, mà từ bao nhiêu năm nay đã có mặt trong các cuộc vui ồn ào của họ. Gia nhân của bá tước phu nhân tiến lên sau cùng. Người ta nhận thấy một bà lão quản gia, đồng tuổi với người đã khuất, có hai chị hầu phòng khác dìu đỡ hai bên. Bà lão yếu quá không cúi sát xuống đất được, nhưng khi hôn tay bà chủ, thì bà lão là người duy nhất rỏ vài hàng nước mắt. Sau bà lão, Gherman quyết định tiến lên bên linh cữu. Hắn quỳ gối một lúc trên sàn đá có trải những cành thông. Rồi hắn đứng dậy, mặt tái cũng như những người đã chết, hắn trèo lên mấy bực bệ đặt linh cữu và nghiêng mình. Nhưng hắn đột nhiên cảm thấy như người chết đang nháy một mắt, giễu cợt nhìn hắn. Gherman bật lùi lại và ngã ngửa ra đằng sau. Mọi người đều vội đỡ hắn lên. Cũng vừa lúc đó, trên tiền đình nhà thờ Lidavêta Ivanốpna cũng hôn mê lịm xuống. Những việc này đã làm náo loạn lên trong vài phút sự trang nghiêm của tang lễ. Những người tới dự lễ thì thào bàn tán, và một viên thị vệ mặt xương xẩu, có họ gần với người chết, đã thầm thì vào tai một người Anh đứng gần đó: “Viên sĩ quan trẻ tuổi ấy là con riêng của bá tước phu nhân đấy”, và người Anh lạnh lùng trả lời: Oh? ... Mời các bạn đón đọc Con Đầm Pích của tác giả Alexander Pushkin.
Chó Dẫn Đường Phiêu Lưu Ký Tập 2 - Mikhail Samarsky
Làm chó dẫn đường cho người mù, Trison trải qua biết bao vui buồn, hy sinh, chịu đựng, có khi rơi vào những tình huống ngàn cân treo sợi tóc. Nhưng Trison là một chú chó thông minh, gan dạ, có thể thích nghi vói bất kỳ hoàn cảnh nào, luôn tìm được cách xử lý tốt nhất mọi nhiệm vụ của mình. Câu chuyện diễn ra với nhiều tình tiết gay cấn, hấp dẫn, những pha thoát hiểm trong kẽ tóc đường tơ, nhưng vẫn chứa chan tình nhân ái, thể hiện cái nhìn đầy chất nhân văn, kể cả trước những mặt trái của cuộc đời... *** Mikhail Samarsky sinh năm 1996, hiện vừa mới tốt nghiệp Trường phổ thông năng khiếu nội trú trực thuộc Đại học tổng hợp quốc gia Matxcơva mang tên Lomonosov. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống văn chương (bố là nhà soạn kịch, mẹ là nhà văn chuyên viết truyện trinh thám), từ năm 12 tuổi, Mikhail Samarsky đã bắt đầu đam mê sáng tác. Năm 2009, Mikhail xuất bản cuốn truyện Chuyện cảm động không đến từ con người, năm 2010 cho ra đời cuốn Đánh đu giữa những sườn đồi, năm 2012 xuất bản cuốn Mười hai lần chạm tới chân trời (tiếp theo Đánh đu giữa những triền đồi) và Người bạn tri kỷ vượt lên rào cản ngôn ngữ (tiếp theo Chuyện cảm động không đến từ con người). Hiện Mikhail đã hoàn tất cuốn Fukusima (nối tiếp Người bạn tri kỷ vượt lên rào cản ngôn ngữ) và đang bắt tay viết cuốn thứ tư về chú chó phi thường Trison (nhân vật chính của ba cuốn sách Chuyện cảm động không đến từ con người, Người bạn tri kỷ vượt lên rào cản ngôn ngữ và Fukusima), với tựa đề Chó dẫn đường cho đại gia. Mikhail đã sáng lập quỹ “Những trái tim đang sống” nhằm quyên tiền mua máy đọc chữ nổi và những thiết bị chuyên dụng cho người mù điều khiển máy vi tính... Mikhail đang nộp hồ sơ thi vào khoa “Các vấn đề toàn cầu” của Đại học Tổng hợp quốc gia Matxcơva, chuyên ngành “Quan hệ quốc tế” nhưng luôn tâm niệm sẽ không bao giờ từ bỏ đam mê viết lách và ý nguyện giúp đỡ người khiếm thị. *** Đọc tập sách này, bạn đọc ấn tượng với chú chó thông minh Trison. Không chỉ vì Trison là một chú chó đặc biệt mà còn do câu chuyện giúp chúng ta hiểu hơn về cuộc sống của những người khiếm thị. Cuộc sống này, theo tác giả, như: “Một chiếc cầu vồng. Cầu vồng có nhiều màu sắc. Màu này phản chiếu màu kia nhưng hai màu liền kề nhau cũng có sự dung hòa nhất định. Cuộc đời cũng thế, có muôn màu sáng tối”. Không những thế, người khiếm thị còn được sự “giúp đỡ” của con mèo Kilusia. Điều thú vị do chó và mèo chẳng thuận nhau bao giờ nên câu chuyện càng trở nên hài hước và vui nhộn. Sự tưởng tượng của “nhà văn” Mikhail Samarsky thật phong phú khi dựng lên câu chuyện thăng trầm, vui buồn của chú chó Trison. Chú được sống trong ngôi nhà đầy tình yêu thương của nhà văn mù Anna Ygorevna Krivosheeva. Ở đó, bà Ivankhnik khuyết tật, phúc hậu nhưng lại trót làm bạn với bia rượu nên gây ra không ít rắc rối cho Trison. Có lần Trison bị bắt vào đồn công an vì bà Ivankhnik lợi dụng để biến chú trở thành kẻ cắp trong siêu thị. Đây có lẽ là điều khiến cho Trison thấy xấu hổ nhất trong cuộc đời làm chó dẫn đường của mình. Tuy nhiên, dù nghiện rượu nhưng bà Ivankhnik cũng biết giúp đỡ người khác khi khó khăn. Chính điều này đã khiến Trison cảm thấy yêu quý bà hơn sau những gì bà đã gây ra cho chú. Qua chuyến phiêu lưu đầy kịch tính, chúng ta cảm nhận được tình yêu thương của con người dành cho con vật. Ngược lại, chú chó Trison cũng dành cho những người khiếm thị những tình cảm chân thành. Có một điều thú vị khi tác phẩm Chó dẫn đường phiêu lưu ký vừa phát hành, tổng thống Liên bang Nga lúc bấy giờ là Dmitri Medvedev đã sửa ngay chính sách đối với người khiếm thị. Nhờ đó, các học sinh khiếm thị sau khi ra trường được mang theo đầy đủ thiết bị chuyên dụng để bước vào cuộc đời, có thể học tập và lao động như mọi người khác. Và cũng từ tác phẩm này, tác giả Mikhail đã sáng lập quỹ “Những trái tim đang sống” nhằm quyên tiền mua máy đọc chữ nổi và những thiết bị chuyên dụng cho người mù điều khiển máy vi tính... Không chỉ hấp dẫn, lôi cuốn với nhiều tình tiết độc đáo đầy kịch tính, Chó dẫn đường phiêu lưu ký còn là lời nhắc nhở về tình thương và lòng nhân ái, sự đồng cảm với những người tật nguyền, bất hạnh…  Chó Dẫn Đường Phiêu Lưu Ký gồm có hai tập: Chuyện Cảm Động Không Đến Từ Con Người Người Bạn Tri Kỷ Vượt Qua Rào Cản Ngôn Ngữ *** Gâu gâu, ấy là lời chào của tôi, chào các bạn người thân mến! Các bạn có nhớ tôi không? Lâu lắm rồi chúng ta không gặp nhau nhỉ. Nói là buồn nhớ cũng chưa diễn tả hết tâm trạng của tôi đâu. Tôi cũng xin chào những người bạn mới. Nếu các bạn chưa đọc tập 1 của cuốn sách này, tôi xin được tự giới thiệu: tôi là Trison, một chú chó thuộc giống Labrador. Tôi đã tốt nghiệp trường chuyên đào tạo chó dẫn đường. Hẳn các bạn đã nghe nói về nghề chó dẫn đường. Chúng tôi giúp đỡ những người khiếm thị. Thực ra, không phải ai cũng biết chúng tôi được huấn luyện như thế nào, chúng tôi làm việc ra sao, chúng tôi làm được những gì và nói chung chúng tôi có những năng lực gì. Tôi xin nói ngay: công việc của chúng tôi không thuộc vào hàng nhàn nhã, mà chúng tôi cũng chẳng ưa kiếm sống bằng con đường nhàn hạ - sứ mệnh chính của chúng tôi là phụng sự con người một cách trung thành và phi vụ lợi. Ở tập 1, tôi đã kể về chuyện tôi từng đưa lối dẫn đường cho cựu chiến binh Ivan Savelievich (ông nay đã về cõi vĩnh hằng), sau đó là cậu bé khiếm thị Sashka. Các bạn biết không, chuyện có thể là rất khó tin, nhưng lần nọ tôi đã tặng người bạn nhỏ của tôi một chiếc cầu vồng. Vâng, có chuyện ấy đấy. Cũng cần nói thêm rằng, loài chó dẫn đường chúng tôi không bao giờ coi những người mà chúng tôi phục vụ là “chủ”. Chúng tôi gọi họ là “những người được chúng tôi bảo bọc”. Rồi các bạn sẽ hiểu vì sao lại thế. Công việc của chúng tôi không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, thỉnh thoảng chúng tôi còn phải thực hiện những công việc khác nữa. Nói cách khác, trong những tình huống khẩn cấp, chó dẫn đường còn phải là vệ sĩ, chiến sĩ cứu hộ, và thậm chí là… Thôi, tôi sẽ không đi sâu vào chi tiết. Nếu các bạn muốn biết, hãy cứ đọc cuốn sách đầu tay của tôi. Ầy dà, trong cuốn sách ấy, tôi từng mệt mỏi biết nhường nào! Còn bây giờ tôi muốn kể các bạn nghe về những biến cố mới xảy ra trong đời mình. Xin được chạy trước sự kiện một chút: cuốn sách này xém chút nữa không bao giờ ra đời được, vì tôi từng rơi vào những tình huống ngàn cân treo sợi tóc. Nhưng ơn trời, sóng lớn rồi yên, biển động rồi lặng – như người ta thường nói: đời chẳng thiếu gì những con chó hay, cũng chẳng hiếm những con người tốt bụng. Đừng nặng lời trách móc tôi bạn nhé, chẳng Người bạn tri kỷ vượt qua rào cản ngôn ngữ qua tôi thường thích sử dụng những thành ngữ của ngôn ngữ loài người, có thêm thắt vào đó chút đỉnh tư duy của loài chó. Chắc các bạn cũng đồng ý là còn lâu tôi mới phải nghỉ hưu – tôi còn phải làm việc nhiều. Cũng phải thôi, vì người ta đã bỏ ra biết bao nhiêu thời gian, công sức để huấn luyện tôi trong trường chuyên. Tôi không biết bên loài người thế nào, chứ bên loài chó chúng tôi, những nhân viên sáng giá như tôi không bao giờ bị bỏ phí. Chó dẫn đường không bao giờ bị bố trí đi làm chó giữ nhà (xin thừa nhận là dù sao chuyện ấy thỉnh thoảng cũng có xảy ra – tôi sẽ kể sau). Nhìn chung, những chuyên gia như tôi được quý hơn vàng. Một khi vẫn còn sức lực, còn đủ năng lực nghe, nhìn và ngửi, đặc biệt là với đầy đủ kiến thức trong đầu, tôi còn làm chó dẫn đường! Các bạn hãy tin đi, tôi kể về bản thân, về những năng lực phi thường của mình không phải để tự khoe đâu, thật đấy. Tôi luôn cố gắng tận tâm tận lực phục vụ mọi người. Hẳn các bạn cũng phải thừa nhận rằng trước đây, khi chúng ta chưa quen biết nhau, nhiều người trong số các bạn thậm chí không thể hình dung nổi chó dẫn đường là gì và những con chó ấy làm việc ra sao. Cũng cần nói thêm, những gì được viết ra không phải do tôi hư cấu mà nên. Rất nhiều bạn đọc đã chia sẻ với tôi điều đó. Tôi nói nghiêm túc đấy! Lần nọ, tôi đã phải làm diễn viên suốt một ngày. Sau khi xuất bản tập 1, tôi được mời đến Saint Peterburg dự buổi lễ ra mắt bạn đọc. Cũng đúng trong thời gian đó có một đoàn khách đến thăm trường đào tạo chó dẫn đường của chúng tôi và một người đàn ông khuyết tật đồng ý đi cùng chúng tôi đến dự lễ ra mắt cuốn sách. Nhà trường cũng cử cô giáo Lêna, huấn luyện viên của tôi, đi Saint Peterburg dự lễ. Có thể các bạn không tin nổi, tôi biểu diễn ngay trong nhà sách, trình diễn cho khán giả xem những tuyệt kỹ của mình. Chẳng giấu gì các bạn, tôi hồi hộp kinh khủng. Nào phải chuyện đùa - tôi đã trở thành một nghệ sĩ thực thụ. Tôi bước lên sân khấu, ngó quanh khán phòng và cảm thấy hơi bị khớp. Tôi nghĩ bụng, coi chừng, ráng đừng để hỏng bét mọi chuyện. Nhưng rồi mọi chuyện đã diễn ra một cách tuyệt vời. Trong buổi lễ hôm ấy, một nhiếp ảnh gia lại gần huấn luyện viên của tôi, xoa đầu tôi, gãi gãi vào gáy tôi và nói: - Cám ơn chị đã đưa Trison đến đây. Tôi đã bốn mươi tuổi rồi nhưng trước đây chưa bao giờ được nhìn thấy một con chó dẫn đường nào cả. Ôi chao, lúc đó tôi cảm thấy xiết đỗi tự hào! Nhưng bây giờ chúng ta hãy bắt tay vào việc. Các bạn không thể hình dung nổi, trong đời tôi đã diễn ra biết bao nhiêu chuyện mà tôi sẽ kể các bạn nghe; chuyện vui có, chuyện buồn có, và có cả những chuyện kinh hoàng nữa. Thậm chí tôi e ngại rằng liệu khuôn khổ của thể loại truyện vừa có quá chật hẹp đối với những câu chuyện ấy hay không. Thôi thì đành thế này: tôi sẽ bắt đầu câu chuyện của mình rồi để xem nó sẽ trở thành cái gì, truyện vừa hay tiểu thuyết, mà có khi là cả một trường thiên tiểu thuyết kiểu như “Chiến tranh và hòa bình” cũng nên. ... Mời các bạn đón đọc Chó Dẫn Đường Phiêu Lưu Ký Tập 2: Người Bạn Tri Kỷ Vượt Qua Rào Cản Ngôn Ngữ của tác giả Mikhail Samarsky.
Chó Dẫn Đường Phiêu Lưu Ký Tập 1 - Mikhail Samarsky
Mikhail Samarsky sinh năm 1996, Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống văn chương (bố là nhà soạn kịch, mẹ là nhà văn chuyên viết truyện trinh thám), từ năm 12 tuổi, Mikhail Samarsky đã bắt đầu đam mê sáng tác. Năm 12 tuổi cô xuất bản cuốn truyện đầu tiên. Tác phẩm là sự đồng cảm sâu sắc với những người kém may mắn trong cuộc sống khi không nhìn thấy ánh sáng, phải sống trong bóng đêm lặng lẽ. Chính vì lẽ đó, ngay khi vừa ra đời, Chuyện Cảm Động Không Đến Từ Con Người nhanh chóng tạo được tiếng vang tại Nga và được ấn hành bằng chữ nổi với các ngôn ngữ như Đức, Czech, Bulgaria, Thụy Điển và đang được dựng thành phim truyện nhựa. ***         Trong tác phẩm này, Mikhail Samarsky đã dùng một thủ pháp độc đáo khi để chú chó Trison kể lại những gì diễn ra trong thế giới loài người. Qua cái nhìn và suy nghĩ của Trison, xã hội loài người hiện lên một cách sống động với đầy đủ hỉ, nộ, ái, ố. Ở đó, có không ít kẻ tham lam, toan tính, bon chen, phản phúc và vô cảm.         Mikhail Samarsky đã dựng nên một hành trình đầy cao cả và thú vị của chú chó Trison. Trước khi về nhà Sashka, Trison từng có thời gian làm công việc dẫn đường cho ông cụ Ivan Savelievich, một người mà theo đánh giá của Trison: “Đó là một con người tuyệt vời và là một người bạn tốt của tôi”. Khi cụ ông Ivan Savelievich qua đời, Trison được chuyển về trường huấn luyện và tại đây, Sashka cùng mẹ và bà đã tới đón Trison về nhà. Không chỉ hấp dẫn, lôi cuốn với nhiều tình tiết độc đáo đầy kịch tính,Chuyện Cảm Động Không Đến Từ Con Người còn là lời nhắc nhở về tình thương và lòng nhân ái, khi mà trong xã hội hiện đại ngày càng thưa vắng dần sự quan tâm, đồng cảm với những con người tật nguyền, bất hạnh… *** “Chúng tôi có đôi mắt đã chết, nhưng trái tim vẫn đang sống”. Lần đầu tiên tôi nghe câu nói này năm 12 tuổi, từ miệng một cậu bé mù mà tôi tình cờ làm quen trong công viên. Câu chuyện của cậu bé ấy về cuộc đời mình làm xao động lòng tôi, đến nỗi tôi quyết định thử đóng vai người mù để chiêm nghiệm nỗi đau tinh thần mà cậu phải chịu đựng hàng ngày, hàng giờ. Đợi đến kỳ nghỉ hè, tôi quyết “cất giấu” đôi mắt của mình trong vài ngày. Kết quả là tôi sống được ba ngày với dải băng đen bịt mắt. Không có một ngoại lệ nào cả - suốt 72 giờ tôi sống cuộc sống của người mù. Ăn uống, đi dạo trong sân, chơi với con chó cưng của mình, thay sách thường bằng sách nói, nghe tivi… Xin nói ngay – rất dễ sợ. Thỉnh thoảng có cảm giác không thể chịu đựng nổi. Ngay trong ngày đầu tiên (ôi, ngày mà nói làm gì – ngay giờ đầu tiên), tôi đã muốn giật phắt cái mảnh băng đen ấy ra và không bao giờ tiến hành những cuộc thử nghiệm như thế nữa. Xin nói thực lòng, chính tôi cũng không biết làm sao tôi có thể vượt qua được ba ngày “đen tối” đó. Nhưng dù sao điều đó cũng không giúp cảm nhận được đến tận cùng những gì người mù phải chịu đựng. Bởi vì tôi biết rằng một ngày, hai ngày rồi ba ngày sẽ trôi qua và tôi sẽ lại được nhìn thấy mẹ, thấy bầu trời xanh, bãi cỏ xanh, ráng chiều hồng nhạt. Một lần, trong đầu tôi xuất hiện ý nghĩ: “Nếu bỗng cứ thế này vĩnh viễn thì sao?”. Lòng dạ trở nên bồn chồn bất an. Đêm cuối cùng, tôi nằm hoài không sao ngủ được, không chỉ chực khóc thầm mà còn muốn khóc ầm lên. Có một chuyện tôi không sao lý giải nổi – hoặc đó là ảo ảnh, hoặc chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên: ngay sau khi tháo băng bịt mắt, tôi ngước mắt nhìn lên bầu trời và trông thấy một chiếc cầu vồng. Tôi rất thích ngắm nhìn cầu vồng và thường buồn tiếc khi nó biến mất. Nhưng hôm đó không hiểu tại sao tôi không cảm thấy hứng thú cho lắm. Ý nghĩ đầu tiên vụt đến trong đầu: người bạn của tôi không bao giờ có thể nhìn thấy vẻ đẹp lung linh ấy. Và lúc đó tôi tự hứa với lòng mình: “Một khi còn sống trên đời, tôi còn nỗ lực giúp đỡ người mù!”. Một học sinh có thể làm gì để giúp người khiếm thị? Tôi bắt đầu thu thập tư liệu, làm quen với các huấn luyện viên dạy chó dẫn đường, liên hệ thư từ với những người khiếm thị và cuối cùng, tôi viết nên cuốn sách về một cậu bé mù và người bạn bốn chân của cậu – con chó dẫn đường Trison thuộc giống Labrador. Tất nhiên, tôi đặt tên cho cuốn sách là “Cầu vồng tặng bạn” (Bản dịch tiếng Việt có tựa đề “Chó dẫn đường phiêu lưu ký”). Sau khi xuất bản ở Nga, cuốn sách lập tức được dịch ra tiếng Đức và được Hội các nhà văn sáng tác bằng tiếng Nga của Cộng hòa Séc cho đăng tải trên tạp chí Prague chuyện cảm động không đến từ con người Parnas, sau đó còn được dịch sang tiếng Bulgaria, tiếng Anh và tiếng Thụy Điển. Một số nhà hảo tâm đã tài trợ cho kế hoạch xuất bản cuốn “Cầu vồng tặng bạn” ở Nga bằng chữ nổi Braille trên giấy. Hiện cũng đang có dự án xuất bản cuốn sách này bằng phiên bản điện tử để người khiếm thị có thể đọc qua màn hình chữ nổi. Đây là một dự án rất tốn kém. Tuy nhiên, Quỹ “Những trái tim đang sống” do tôi đề xướng hiện đang phát triển rất mạnh, đã quyên được một số tiền khá lớn, đủ để thực hiện một số dự án có mục đích giúp đỡ người khiếm thị ở Nga. Nhưng có một điều đáng tiếc, không phải tất cả những người khiếm thị đều có chương trình phần mềm đặc biệt để đọc sách điện tử, không phải ai cũng có khả năng tài chính để có thể sở hữu màn hình chữ nổi Braille. Vì thế, rất nhiều người khiếm thị yêu cầu xuất bản sách nói. Đối với họ, đó là phương thức duy nhất để tiếp cận với nền văn học cổ điển và đương đại. Xin hãy tin rằng người khiếm thị cũng là những con người giống hệt chúng ta. Trong số họ có không ít tài năng sáng tạo – những nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ, nhà sáng chế và thậm chí có cả những họa sĩ, vận động viên thể thao. Giống như chúng ta, họ cũng biết yêu thương, vui mừng, buồn chán, đồng cảm – tóm lại, mắt họ đã chết nhưng tim họ vẫn sống. Xin hãy chia sẻ với họ một phần trái tim của mình và đặt lên đó một chiếc cầu vồng dành tặng những người khiếm thị! Nhân dịp những cuốn sách của tôi được xuất bản bằng tiếng Việt, với tất cả trái tim mình, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn Công ty First News và dịch giả Phạm Bá Thủy về những nỗ lực to lớn nhằm giới thiệu những tác phẩm của tôi đến bạn đọc. Hi vọng, đây là bước khởi đầu thuận lợi cho mối quan hệ hợp tác lâu dài. Tôi rất mừng vui khi sách của tôi đã tìm được bạn đọc ở đất nước Việt Nam hiếu hiền, tươi đẹp. Tôi cũng hi vọng sẽ có một ngày, bản dịch tiếng Việt những cuốn sách nói về con chó dẫn đường của tôi sẽ đến được với người khiếm thị Việt Nam qua phiên bản sách nói hoặc sách điện tử. Hẹn gặp lại cùng hai cuốn sách tiếp theo của tôi về chú chó Trison dũng cảm mà tôi vừa mới hoàn thành. Với tất cả lòng kính trọng chân thành và niềm hi vọng vô biên. - Mikhail Samarsky Chó Dẫn Đường Phiêu Lưu Ký gồm có hai tập: Chuyện Cảm Động Không Đến Từ Con Người Người Bạn Tri Kỷ Vượt Qua Rào Cản Ngôn Ngữ Mời các bạn đón đọc Chó Dẫn Đường Phiêu Lưu Ký Tập 1: Chuyện Cảm Động Không Đến Từ Con Người của tác giả Mikhail Samarsky.