Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Di Chúc Pháp

Ký ức tuổi thơ trong một số tác phẩm được giải năm 1995 ở Pháp   (trích)      Đặng Thị Hạnh     Hầu hết các giải thưởng văn học lớn ở Pháp đều được trao vào cuối mùa thu hàng năm, còn được gọi là mùa khai diễn lại.   Năm nay, cuốn Di chúc Pháp của Andrei Makine, giải Goncourt, được giới báo chí khen ngợi nhiệt liệt: “Di chúc Pháp mùa thu năm nay sáng ngời lên với một ánh rạng rỡ đặc biệt. Một cuốn tiểu thuyết hay”. (Báo Le Figaro). “Một sự tráng lệ yên bình, chắc chắn đó là một trong những tiểu thuyết vào đời hay nhất của những năm gần đây. (Báo Le Croise). “Andrei Makine đã viết một kiệt tác. Một kỳ công về văn xuôi, một tiếng nhạc khiến ta sững sờ, như thể Tchékhov viết bằng tiếng Pháp” (Báo Elle).   *   Gần mười năm sau khi rời khỏi đất Nga sang Pháp, người kể chuyện hồi tưởng lại về thời thơ ấu và tuổi mới lớn của mình, sống chia sẻ giữa một thành phố lớn bên bờ sông Volga (nơi bố mẹ ở) và thị trấn Saranza ở vùng Ukraine là nơi người bà ngoại gốc Pháp ở.   Trong nhiều năm, theo một tập quán không thay đổi, trên một ban công giữa vườn, mỗi chiều hè, người bà lại kể cho hai chị em cậu bé những mẩu chuyện về nước Pháp, quê hương của bà, những mẩu chuyện rời rạc, có khi lặp đi lặp lại, điều mà cả người kể lẫn người nghe đều không mấy quan tâm, đối với đứa trẻ, mỗi chuyện kể hay đều có thể nghe đi nghe lại mà không biết chán. Cùng với an bom gia đình, những bài dân ca, thơ văn các nghệ sĩ nổi tiếng, rồi những kỷ vật, vài hòn cuội, một mẩu kim loại bí ẩn... các câu chuyện kể cứ làm hình thành dần trong đầu óc cậu bé, một hình ảnh về nước Pháp, giống như những mẩu trong một bức tranh ghép mảnh. Mở đầu của mọi chuyện, chắc chắn là chuyện kể về Paris vụ lụt mùa đông năm 1910: sông Seine biến thành biển, dân Paris lênh đênh trên những con đò, và nước Pháp của bà ngoại đi lên từ sóng nước như một hòn đảo Atlantide. Nhưng liền ngay sau đó lại là một Paris khác, rực rỡ ánh xuân, đang chờ đón Sa hoàng Nicolas đệ nhị và Hoàng hậu Alexandra. Cả hai xuất hiện trẻ măng, đẹp đẽ Nhiều năm sau, người kể chuyện (lúc ấy còn là người nghe chuyện) mới biết là sự kiện ngoại giao lớn, Paris đón Sa hoàng, là xảy ra vào năm 1896, trước vụ lụt hàng chục năm. Nhưng mọi sự sai niên đại đều chẳng quan trọng gì. Điều quan trọng là trên ban công ngôi nhà của Charlotte, tên người bà, mỗi chiều hè “giống như cái bình cầu cổ dài của một nhà luyện kim, trong đó diễn ra sự chuyển vi nguyên tố của quá khứ”: điện Elysée xuất hiện trong ánh lấp lánh những đèn chùm gương soi, nhà hát Opéra sáng rực vì những đôi vài trần phụ nữ, còn Nhà thờ Đức Bà lại khiến ta cảm thấy rợn người vì chất đá lạnh toát dưới bầu trời vẩn mây...   Cứ như vậy, cho dù các giấc mộng chiều hè đó mỗi năm một lần lại lùi ra xa, mờ đi sau đám sương thu và những cơn bão tuyết đầu tiên- cậu bé trở về với cuộc sống học sinh và thành phố - thì cái mà sau này cậu sẽ gọi là Francité (tính Pháp) vẫn cứ đọng lại như những “địa tầng” trong tâm hồn cậu, cùng với cái đó là những xung đột giữa hai bản ngã khó dung hòa. Cũng như chính tác giả, người kể chuyện cảm thấy “mình vừa là Pháp, lại vừa là Nga: và không ở đâu, tính đối nghịch đó lại biểu hiện rõ như trong ngôn ngữ: “Khi tôi đọc (từ Tsar) bằng tiếng ngan thì một tên bạo chúa tàn ác đứng sừng sững trước mặt tôi, trong khi đó từ “Tsar” trong tiếng Pháp lại tràn ngập ánh sáng, tiếng động, gió, ánh đèn chùm, những vai trần phụ nữ lấp lánh...” Ngôn ngữ, cái mầm ghép hoang đường… Rất lâu sau này, người kể chuyện mới có dịp thể nghiệm cái chất liệu bí ẩn này, nhưng chắc anh sẽ khó thành công nếu ngay từ thời thơ ấu, trong con người anh, trong ngôn ngữ anh, đã không mang tính kép, cái mà có lúc anh đã muốn rũ bỏ cho kì được. “Thói ủy mị Pháp đã ngăn trở không cho tôi sống”: lớn dần lên, cậu bé đã nhận ra như vậy, khi cảm thấy mình lạc lõng giữa cái xã hội mini là trường học, bạn và thầy. Vào một mùa hè, khi cậu đã 14 tuổi, cậu trở về Saranza với “ý định kết thúc với cái nước Pháp của Charlotte”, thì một lần nữa, cậu lại ra đi với bao nhiêu khám phá về bản thân mình, về ngôn ngữ, nhất là về người bà của mình, đơn giản chỉ vì bà xuất hiện dưới bầu trời Nga “như một con người- ngoài trái đất” nhưng lại đã “hội tụ được trong cuộc đời mình các thời điểm mấu chốt của lịch sử nước chúng tôi”.   *   Từ ngày ấy, gần hai mươi năm đã trôi qua. Bị cuốn theo những biến động xã hội người kể chuyện nay đã ở trên đất Pháp. Và điều gì đã xảy ra? Về những tháng dài nghèo khổ và lang thang trên đất Pháp, anh sẽ rất ít lời. Xuống đến tận cùng của tuyệt vọng, có lúc anh đã nghĩ đến cái chết, nhưng chính một hồi ức của tuổi thơ lại đã cứu anh. Vào một sáng tinh mơ, khi anh gần như quỵ xuống cạnh một bức tường: Lũ tháng giêng 1910, những dòng chữ trên xuất hiện như nhờ phép lạ trên một tấm kim loại đã gỉ, đen xì. Và ngay tức thì, cả một quá khứ ùa trở lại: “… Sức nóng của một thành cầu thang gỗ trên cái ban công treo giữa không trung vào một chiều hè. Những mùi hương cỏ, khô và cay cay. Tiếng kêu xa xôi và buồn bã của một đầu tàu… Tiếng giấy nhẹ sột soạt trên lòng người đàn bà đang ngồi giữa hoa. Mái tóc đã điểm bạc. Giọng nói của bà…”Đến đây điểm nhìn của người kể chuyện đã đảo ngược lại, thời ấy còn là nước Pháp nhìn từ nước Nga qua truyện kể của bà, bây giờ lại một hồi ức về đất Nga nhìn lại từ nước Pháp.   Cũng như vậy, trong hai mươi trang cuối chuyện, tình huống sẽ bị rạt lại. Trong hơn hai trăm chín mươi trên ba trăm linh bẩy trang của cuốn tiểu thuyết, người kể chuyện chỉ làm có một việc là vẽ lại cho chúng ta sự hình thành của tính Pháp trong con người anh. Vậy mà khi anh tưởng như đã có điều kiện để đưa người bà trở về thăm nước Pháp thì một bức thư của Charlotte viết trước khi và mất: Di chúc Pháp lại là để nói với anh về đời một người đàn bà Nga, mẹ của anh: bà đã đón từ tay của một phụ nữ Nga bị chết trong trại tập trung, và đã hứa với người đó chỉ báo cho anh biết điều này vào thời điểm chậm nhất. Vậy là tất cả những gì mà suốt thời gian qua anh coi như biểu hiện của tính Pháp di truyền trong anh đều không có, hoàn toàn không có.Nhưng đấy cũng là điều kiện để anh nghĩ tới sự hiện diện của người bà, “kín đáo và tự nhiên như chính cuộc sống vậy. Đối với tôi, duy nhất chỉ còn thiếu các từ để nói lên điều đó”.   Cũng giống như kiệt tác của Proust, khi chuyện kể đóng lại là lúc báo hiệu cuốn tiểu thuyết sẽ bắt đầu.   *   Trên đây chỉ là tóm tắt sơ lược của truyện kể và khó có thể hình dung một tác phẩm hay nếu không biết đến văn viết. Nhưng đấy là việc của người đọc, không ai có thể làm thay. “Mỗi độc giả trước tiên là độc giả của chính mình. Với văn phong trong sáng, dễ hiểu, với cốt truyện giản dị. Di chúc Pháp vẫn là một tác phẩm phức hợp, có thể được đọc ở nhiều tầng. Trong phạm vi bài này không thể nói tới các âm hưởng khác nhau có thể tìm thấy trong tác phẩm. Nhưng một điều có thể nhận thấy ngay, là người độc giả Việt Nam đã quen với tiểu thuyết Na và Xô viết trước đây (tuy bây giờ dường như chúng đã bị xếp xó) sẽ nhận thấy trong người đàn bà gốc Pháp nhiều nét gợi nhớ tới các nữ nhân vật trong tiểu thuyết cổ điển Nga, và cả trong các tác phẩm Xô viết họ đã đọc. Còn một số độc giả khác sẽ nhạy cảm với “tiếng nhạc nhỏ của các hồi ức Proustienm cứ đệm theo dòng chuyện kể, gợi nhớ “những giây lát không trôi qua”, cái sẽ còn lại mãi mãi phía trên dòng thời gian luôn chảy./.   “(…) tôi ghi lại đây tên thật những người ấy với một niềm thích thú trẻ nít cùng niềm xúc động sâu xa, trong khi không thể kể hết tên bao người khác nữa hẳn cũng đã từng hành động tương tự và nhờ họ mà nước Pháp vẫn tồn tại đến ngày nay (…)”      MARCEL PROUST      Thời gian tìm lại được     “Người dân Xibêri có bao giờ xin ông trời cây ôliu, hoặc người dân cứ Provence cây klukwa?”      JOSEPH DE MAISTRE     Những tối đàm luận ở Saint Petersbourg     “Tôi hỏi nhà văn Nga cách thức ông làm việc và lấy làm ngạc nhiên là ông không tự dịch bản viết, mặc dù ông nói một thức tiếng Pháp hết sức trong sáng, hơi chậm rãi tí chút do lối suy nghĩ tinh tế của ông.   Ông thú thật là Viện Hàn lâm với pho từ điển của nó khiến ông buốt cóng.      ALPHONSE DAUDET     Ba mươi băm ở Paris  *** Andreï Makine sinh ngày 10/9/1957 tại Krasnoyarsk, Xô Viết.   Năm 1987, ông sang Pháp là thành viên của chương trình trao đổi giáo viên và quyết định ở lại. Quyển tiểu thuyết đầu tiên của ông La fille d'un héros de l'Union soviétique (A Hero's Daughter) được xuất bản năm 1990, khi ông trình bày rằng nó đã được dịch từ tiếng Nga, vì không nhà xuất bản nào tin rằng ông có thể viết bằng tiếng Pháp. Với quyển tiểu thuyết thứ ba, Au temps du fleuve Amour (Once Upon Love River), ông mới được công nhận là một nhà văn Pháp. Và đến quyển tiểu thuyết thứ tư, Le Testament Français (Dreams of My Russian Summers), năm 1995, ông trở thành tác giả đầu tiên chiến thắng được cả hai giải thưởng văn học hàng đầu nước Pháp Prix Goncourt và Prix Médicis.   Năm 2001, Andreï Makine bắt đầu bí mật xuất bản dưới bút danh Gabriel Osmonde với tổng cộng 4 quyển tiểu thuyết trong hơn 10 năm. Đây là một bí ẩn của nền văn học Pháp. Mãi đến năm 2011, một học giả nhận thấy quyển Les 20 000 Femmes de la vie d'un homme của Osmonde được lấy cảm hứng từ Le Testament Français (Dreams of My Russian Summers) của Makine, sau đó sự việc mới được sáng tỏ. Khi được hỏi tại sao lại sử dụng bút danh, ông đã trả lời rằng: “Tôi muốn tạo ra một người sống xa sự ồn ào náo nhiệt của thế giới”.   Các tác phẩm:   - La fille d'un héros de l'Union soviétique , 1990 (A Hero's Daughter , 1996)   - Confession d'un porte-drapeau déchu , 1992 (Confessions of a Fallen Standard-Bearer , 1996)   - Au temps du fleuve Amour , 1994 (Once Upon the River Love , 1996)   - Le Testament français , 1995 (Dreams of My Russian Summers , 1997)   - Le Crime d'Olga Arbelina , 1998 (Crime of Olga Arbyelina , 2000)   - Requiem pour l'Est , 2000 (Requiem for a Lost Empire , 2001)   - La Musique d'une vie , 2001 (A Life's Music , 2004; also published as Music of a Life)   - La Terre et le ciel de Jacques Dorme , 2003 (The Earth and Sky of Jacques Dorme , 2005)   - La femme qui attendait , 2004 (The Woman Who Waited , 2005)   - L'Amour humain , 2006 (Human Love , 2008)   - Le Monde selon Gabriel , 2007   - La Vie d'un homme inconnu , 2009 (The Life of an Unknown Man , 2010)   - Cette France qu'on oublie d'aimer , 2010   - Le Livre des brèves amours éternelles , 2011   Dưới bút danh Gabriel Osmonde:   - Le Voyage d'une femme qui n'avait plus peur de vieillir, 2001   - Les 20 000 Femmes de la vie d'un homme, 2004   - L'Œuvre de l'amour, 2006   - Alternaissance, 2011   Mời các bạn đón đọc Di Chúc Pháp của tác giả Andrei Makine.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Chuyện Despereaux - Kate DiCamillo
Ngày xửa ngày xưa, trong những bức tường của một lâu đài nọ có một chú chuột tên là Despereaux hay Nỗi thất vọng đã ra đời. Chú nhỏ bé một cách buồn cười trong khi tai thì to đến kỳ dị, và ngay từ lúc mới sinh ra, hai mắt chú mở thao láo thay vì nhắm chặt run rẩy như họ nhà chuột vốn thế. Càng lớn, Despereaux càng có nhiều nét khác biệt với anh chị em, thay vì mải mê kiếm vụn bánh, Despereaux bé nhỏ lại đam mê âm nhạc và thơ ca, thay vì lẩn lút vội vàng, Despereaux mơ mộng lại thích thơ thẩn dưới những ô kính màu để tắm mình trong ánh sáng, và thay vì an phận làm một chàng chuột nhắt bình thường, Despereaux đa tình lại đem lòng yêu một nàng- công- chúa-người tên là Hạt Đậu. Tình yêu mãnh liệt ấy được khơi gợi bằng những trang truyện cổ tích, dẫn dắt bằng âm nhạc, bắt đầu bằng cái chạm nhẹ dịu dàng và trải qua một hành trình đầy thử thách, một hành trình cần tới lòng dũng cảm vô song của một chàng hiệp sỹ thực thụ và món súp chứ danh của bếp trưởng lâu đài để cứu thoát công chúa thoát khỏi bóng tối tù ngục. Lối kể chuyện duyên dáng, những chi tiết hài hước và ý tứ sâu sắc được đan dệt khéo léo đã tạo nên một trong những câu chuyện hấp dẫn nhất của người kể chuyện Kate DiCamillo. Chuyện Despereaux trước hết là một lễ hội hóa trang đầy màu sắc với những nhân vật lạ lùng như hiệp sỹ chuột tí hon, nàng công chúa hiện thân của ánh sáng, nhà vua mít ướt, Mig heo nái với cái tai kỳ dị, con chuột cống Chiaroscuro có tấm vải đỏ và cái thìa súp bằng vàng nghễu nghện trên đầu. Trong lễ hội hóa trang ấy, các nhân vật được chia làm hai tuyến với cuộc phân tranh không ngừng nghỉ giữa ánh sáng và bóng tối, giữa cái thiện và cái ác. Một chút hoài niệm về những câu truyện cổ của anh em nhà Grimms, thoáng liên tưởng tới Nhắt Steward, cách kể chuyện đối thoại cùng độc giả, thật nhiều những chi tiết buồn cười và không thiếu những đoạn “triết luận kiểu Kate” như thế này “Có những trái tim, thưa độc giả, không bao giờ lành lại được một khi chúng đã vỡ. Hoặc nếu có lành, chúng lại tự gắn theo một cách cong queo lệch lạc, như thể được khâu lại bởi một thợ thủ công vụng về vậy. Đó cũng chính là số phận của Chiaroscuro. Trái tim của nó đã tan vỡ. Nhặt chiếc thìa và đội lên đầu mình, nói về chuyện trả thù, những điều đó giúp nó gắn trái tim mình lại. Nhưng, than ôi, nó lại bị gắn nhầm.”… *** Một sự thể hiện tuyệt đỉnh” - The New York Times “Thú vị, đầy khích lệ và trên hết, vô cùng buồn cười.” - School Library Journal “Tác giả Because of Winn-Dixie và The Tiger Rising trong cuốn truyện này đã làm một cuộc chuyển biến - bà thể hiện sự linh hoạt đồng thời một lần nữa chứng minh thiên tài trong việc khai thác những chủ đề phổ biến của tuổi thơ.” - Publishers Weekly   Mời các bạn đón đọc  Chuyện Despereaux của tác giả  Kate DiCamillo.
Chuyện Con Ốc Sên Muốn Biết Tại Sao Nó Chậm Chạp - Luis Sepúlveda
Tác giả của “Chuyện con mèo dạy hải âu bay" trở lại với độc giả Việt Nam bằng tác phẩm mới nhất về chú ốc sên có tên "Dũng Khí". Ngày xửa ngày xưa, mà thực ra là vào một thời điểm nào đó, tại một nơi nào đó trên Trái đất được gọi là Quê hương Bồ Công Anh, có một bầy ốc sên. Chúng vốn vẫn sống một cuộc đời chậm chạp, lặng lẽ, và chỉ gọi nhau đơn giản là “sên”, cho tới khi một con trong số chúng nghĩ rằng thật bất công khi không có một cái tên riêng và nhất là nó muốn biết được lý do tại sao loài sên lại chậm chạp đến thế. Bỏ ngoài tai mọi lời chế giễu của những đồng loại đã quá quen với cuộc sống chậm chạp và lặng lẽ vốn có, kẻ “nổi loạn” quyết chí rời xa gia trang ô rô, lên đường kiếm tìm cho mình một cái tên riêng cùng lời giải đáp cho thắc mắc bấy lâu. Trên hành trình ấy, nó gặp một bác rùa già, người đã đặt cho nó cái tên “Dũng Khí” và chỉ cho nó thấy tận mắt một hiểm họa lớn đối với mọi loài sinh vật của đồng cỏ: con người! Chú ốc sên nhỏ quyết định quay về báo tin cho đồng loại, cùng với đó là cả nhà kiến, bọ hung, và chuột chũi… mà nó gặp trên đường.  Mượn câu chuyện về loài vật, cuốn sách mới của Luis Sepulveda với tựa đề Chuyện con ốc sên muốn biết tại sao nó chậm chạp dành cho mọi lứa tuổi. Mỗi người đọc ở mỗi thời điểm sẽ có góc nhìn khác nhau về câu chuyện chú sên “Dũng Khí”. Với giọng kể trong sáng, nhẹ nhàng, Luis Sepúlveda mở ra trước mắt chúng ta một thế giới thiên nhiên gần gũi, sinh động, ẩn chứa một câu chuyện ngụ ngôn mang triết lý sâu xa về cuộc sống, về bản chất mỗi loài, lòng dũng cảm, khát vọng và nhu cầu khẳng định cái tôi.  Ý tưởng cuốn sách ra đời từ gợi ý rất nhỏ trong cuộc sống của tác giả khi cậu cháu trai hỏi: “Ông ơi, vì sao con ốc sên lại chậm chạp như vậy?” Và thế là hành trình giản dị nhưng ý nghĩa của chú ốc sên “Dũng Khí” bắt đầu… Mời các bạn đón đọc Chuyện Con Ốc Sên Muốn Biết Tại Sao Nó Chậm Chạp của tác giả Luis Sepúlveda.
Nếu Đời Anh Vắng Em - Guillaume Musso
Gabrielle, 33 tuổi.Cuộc đời cô chỉ có hai người đàn ông.Một là cha và một là mối tình đầu của cô.Số phận đã đẩy cả hai rời xa cô.Rồi rất nhiều năm sau…Hai người đàn ông bất ngờ trở lại,Cùng một ngày, cùng một nơi,Một tên trộm khét tiếng và một cảnh sát chiến tích lẫy lừng,Họ truy lùng nhau và cả hai đều quyết tâm tiêu diệt người còn lại.Gabrielle phải lựa chọn. Nhưng…Từ những mái nhà cổ kính của Paris hoa lệ đến ánh nắng chan hòa trên bờ biển San Francisco.Một mối tình ám ảnh suốt cuộc đời.Một câu chuyện có sức mê hoặc, đầy kịch tính và cũng không thiếu những diệu kỳ. Tác giả Guillaume Musso là nhà văn trẻ người Pháp, sinh năm 1974 tại Antibes, trị trấn nhỏ bên bờ Địa Trung Hải. Ngay từ năm mười tuổi, cậu bé Guillaume đã phải lòng văn chương và tuyên bố một ngày nào đó sẽ viết tiểu thuyết. Lớn lên, anh lại theo học ngành kinh tế rồi trở thành giáo viên sau khi tốt nghiệp nhưng niềm đam mê thuở ban đầu vẫn tràn đầy. Năm 2001, “Skidamarink”, tiểu thuyết đầu tay của anh ra đời và nhận được những tín hiệu tốt từ giới phê bình. Và tác phẩm thứ hai “Rồi sau đó” (2004) đã đưa tên tuổi Musso đến với công chúng và dần trở thành cái tên ấn tượng của của văn học lãng mạn đương đại nước Pháp. Các tác phẩm của Musso được nhiều độc giả yêu mến và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng.“Nếu đời anh vắng em?” (2009) là tiểu thuyết thứ sáu của Musso được xuất bản tại Việt Nam. Mời các bạn đón đọc Nếu Đời Anh Vắng Em của tác giả Guillaume Musso.
Bí mật tình yêu phố Angel Tập 4 - Girlne Ya
Câu chuyện bắt đầu từ cuộc ganh đua nảy lửa giữa hai ngôi trường kì phùng địch thủ - Minh Đức và Sùng Dương để tranh giành quyền sở hữu ngôi biệt thự cổ số 23 phố Angel. Tô Hựu Tuệ và Kim Nguyệt Dạ - học sinh đứng đầu hai trường cũng bị kéo vào những cuộc thi đấu cam go không ngừng nghỉ. Liệu hai bạn trẻ của chúng ta có vượt qua được cánh cổng sắt nặng nề của ngôi biệt thự cổ số 23 phố Angel cùng định kiến giữa hai ngôi trường? Tuy Girlne Ya cho ra đời rất nhiều tác phẩm, nhưng tiểu thuyết Bí mật tình yêu phố Angel mới thực sự làm nên tên tuổi của cô. Đây cũng là bộ tiếu thuyết có số lượng fan vô cùng đông đảo, đang được đề cử dựng thành phim truyền hình bởi nó có cốt truyện tinh tế, đánh dấu bước trưởng thành của nhà văn tuổi teen Girlne Ya trên con đường chinh phục độc giả. Bí mật tình yêu phố Angel luôn nằm trong Top những truyện tiểu thuyết tuổi teen được yêu thích nhất do các fan Trung Quốc bình chọn. Khi tình cờ lên các website hay diễn đàn thảo luận của Trung Quốc, bạn sẽ bắt gặp rất nhiều bài viết cảm nhận về tác phẩm này. Nếu bạn là một fan cuồng nhiệt của Girlne Ya thì không thể bỏ qua được bộ tiểu thuyết Bí mật tình yêu phố Angel nổi tiếng nhất của cô. Mời các bạn đón đọc Bí mật tình yêu phố Angel Tập 4 của tác giả Girlne Ya.