Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Kẻ Phiêu Lưu

“… “Đây là một người hùng,” nhà báo nói. “Trái đất rung chuyển khi ông bước, đàn ông yêu ông và sợ ông, đàn bà run rẩy trước sức mạnh nơi bắp vế ông, người ta tìm kiếm sự chiếu cố của ông. Mà giờ không một ai ở đây để tưởng nhớ ông.” Nhà báo quay đi. “Ông nói đúng. Người chết là cô đơn.” Ông cai lại nắm tay áo ông. Nhà báo quay lại, đối diện ông ta, cảm thấy mệt mỏi rã rời. Ông mong giá mình không thấy mấy dòng thông cáo, đã không đi dưới mặt trời kinh khủng để đến nơi nẻo hãi hùng này, đến cáci thế giới không ký ức này. “Thưa ông, không”, ông cai nói nhỏ. “Tôi nhầm. Ông ta không cô đơn. Ông ta đã ở đây mà…” Câu chuyện xoay quanh cuộc đời nhân vật chính Diogenes Alejandro Xenos (hay còn gọi là Dax). Lớn lên với một tuổi thơ đầy ám ảnh về cái chết bi thảm của mẹ và người chị gái, cuộc đời Dax trải qua rất nhiều sóng gió nhưng cũng không kém phần oanh liệt. Thông qua cuộc đời nhân vật Dax, độc giả sẽ được chứng kiến nhiều sự kiện, biến động của xã hội phương Tây trong những năm trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai. Những sự kiện liên tiếp diễn ra khiến người đọc bị hấp dẫn và lôi cuốn không thể nào dừng lại được. Xung quanh nhân vật chính, tác giả cũng xây dựng nên nhiều tuyến nhân vật với đủ loại thân phận thuộc các giai tầng khác nhau, rất phong phú và đa dạng. Một xã hội phương Tây như được thu nhỏ trong mỗi trang văn của Harold Robbins. Những kẻ phiêu lưu vừa mang yếu tố hiện thực sâu sắc vừa mang tính lãng mạn với những khát khao, đam mê cháy bỏng của tình yêu. Harold Robbins (1916 – 1997) là một trong những nhà văn có tác phẩm bán chạy nhất mọi thời đại của Mỹ. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã viết hơn 25 cuốn sách, được dịch sang 32 ngôn ngữ và bán được hơn 750 triệu bản. *** Mười năm sau cuộc bạo động, trong đó anh đã chết. Thời của anh trên trái đất này đã qua. Hạn tro của anh trong chiếc hộp bé tẹo cuối cùng để ẩn náu này cùng đã hết. Giờ đây, quy trình đã được hoàn tất. Anh đã trở về với tro bụi của trái đất, là nơi anh đã sinh ra. Mặt trời xứ nhiệt đới phả những đợt sóng ẩm nóng chói chang xuống những cây thập tự sơn đen bên những bức tường sét trắng của nghĩa trang khi nhà báo Mỹ bước ra khỏi taxi bên những cánh cổng sắt hoen gỉ. Ông đưa cho người lái xe tờ năm peso rồi quay đi trước khi anh ta kịp nói lời cám ơn. Các quầy bán hoa đã tấp nập. Những người đàn bà vận đồ đen đang mua những bó hoa nhỏ. Những tấm mạng đen dầy cộp của họ như che chắn cho họ khỏi sức nóng và ngăn niềm thương đau của họ với cuộc đời. Đám ăn mày cũng ở đấy, những đứa trẻ nhỏ với những cặp mắt thẫm mầu thô lố nằm trong những quầng đen trũng, bụng chúng trương lên vì đói. Khi ông đi qua, chúng giơ những bàn tay bé nhỏ dơ dáy ra đón những đồng xu ông lơ đễnh buông xuống. Khi đã qua cổng thì chỉ còn ắng lặng. Cứ như thể có một cầu dao chính nào đó đã ngắt hẳn thế giới bên ngoài. Một người đàn ông vận đồng phục đang ngồi trong chiếc chòi để hở. Nhà báo đi về phía ông ta. "Làm ơi chỉ giùm, senior?". Và thấy một thoáng ngạc nhiên trên mặt khi người đàn ông trả lời "Phố Sáu, nhà hai mươi". Nhà báo Mỹ mỉm cười, quay đi. Hầu như trong cái chết họ vẫn bám lấy dòng đời. Những lối mòn được gọi là đường phố và nơi họ an nghỉ sau bốn bức tường được gọi là khu nhà. Rồi ông lấy làm lạ về nét ngạc nhiên trên khuôn mặt người đàn ông. Ông đã đọc thấy mấy dòng thông báo mà ông hằng tìm kiếm khi ngồi trong hành lang một khách sạn mới, lật qua các báo chí địa phương, như ông vẫn làm mỗi khi đến một thành phố mới. Đó là bốn dòng nhỏ xíu vùi giữa các trang cuối, hầu như mất hút trong mớ hỗn độn các thông cáo khác lớn hơn. Ông đang thả bộ xuôi con đường mòn với những lăng mộ cá nhân trau chuốt. Một cách trễ nải, ông quan sát các tên người: Ramirez, Santos, Oberon, Lopez... Dù dưới sức nóng mặt trời, ông vẫn thấy giá lạnh phả ra từ những tấm cẩm thạch trắng và cảm thấy mồ hôi ẩm lạnh nơi cổ áo. Giờ đây lối mòn đã rộng hơn. Phía trái ông là những bãi trống lô nhô những bia mộ nhỏ. Bé nhỏ, không được coi sóc, bị quên lãng. Đó là những nấm mồ của kẻ nghèo. Bị ném vào lòng đất trong những hộp gỗ mỏng dính và mặc cho tan biến vào thiên nhiên mà chẳng hề có sự trông nom hay tưởng nhớ. Bên phải ông là các "dãy nhà". Khu chung cư của người chết. Đó là những toà nhà lớn mái lợp ngói Tây Ban Nha đỏ và xám, cao hai mươi, rộng bốn mươi, dài tám mươi foot, gồm những khối xi măng trắng, từng cụm ba khối. Mỗi ô vuông ba foot, đều mang tên kẻ ngụ cư, một thập tự nhỏ khắc chìm vào xi măng ở bên trên tên người, còn ngày qua đời thì ở bên dưới. Ông nhìn lên toà nhà đầu tiên. Có một biển kim loại nhỏ gắn trên mái hiên. Phố 3, nhà 1. Ông còn phải đi xa. Cái nóng bắt đầu đổ xuống. Ông nới rộng cổ áo và rảo bước. Đến giờ rồi, mà ông thì không muốn trễ. Thoạt tiên ông tưởng mình đến nhầm chỗ. Không một ai ở đấy. Ngay cả những người phu đám cũng không. Ông kiểm tra tấm biển kim loại trên toà nhà, rồi kim thời gian trên chiếc đồng hồ đeo tay. Cả hai đều đúng. Ông mở tờ báo xem thử mình có nhầm ngày chăng, nhưng ngày cũng đúng. Ông thở dài nhẹ nhõm và châm điếu thuốc. Đây là Mỹ La tinh. Ở đấy thời giờ chẳng chính xác như ở nhà. Ông chậm rãi dạo quanh, đọc tên người trên các ô vuông. Cuối cùng, ông có được điều ông tìm kiếm đang ẩn trong một góc tối dưới mái hiên phía tây nam của toà nhà. Bản năng khiến ông vứt điếu thuốc đi, ngả mũ và chằm chằm nhìn lên văn bia. D.A.X 10 tháng Năm 1955 Ông nghe thấy tiếng xe ngựa lọc xọc trên đá cuội phía sau. Đấy là chiếc xe trần do con lừa mệt mỏi kéo đi, hai tai dán chặt vào đầu để phản đối việc bị cưỡng bức làm việc trong nóng bức. Xà ích mặc bộ đồ kaki đã bạc. Ngồi bên gã là người đàn ông mặc complê đen, đội mũ đen, chiếc cổ áo trắng hồ bột đã ngả vàng vì mồ hôi và bụi bặm. Đi bên xe là một gã phu với chiếc cuốc chim trên vai. Chiếc xe hộc lên rồi dừng lại. Người vận đồ đen tụt xuống, rút từ trong túi áo ra tờ giấy, liếc qua, rồi nhìn vào những bia mộ dọc theo các bức tường. Mãi tới lúc ông ta dừng lại trước mặt nhà báo Mỹ mới nhận ra rằng người ta đến để mở căn hầm mộ. Người vận đồ đen, cũng là ông cai, vẫy gã xà ích đến bên rồi nhìn chăm chăm vào căn hầm, khẽ lầu bầu gì đó bằng tiếng Tây Ban Nha trong khi gã xà ích trễ nải kéo lê theo chiếc thang nhỏ chắp bằng nhiều mảnh gỗ. Gã dựng thang vào tường rồi trèo lên, nhìn sát vào khối xi măng hầm mộ. "Dax", gã nói, giọng khàn đặc. "Dax", ông cai gật đầu, nhắc lại bằng giọng thoả mãn. Gã phu mang ra cuốc chim cũng gật đầu. Có một âm hưởng thích thú trong giọng của gã. "Dax". Gã xà ích đứng trên thang đưa tay ra. "Cuốc". Rồi với một cú bổ thiện nghệ, gã choảng mạnh lưỡi cuốc vào giữa khối bê tông. Nó bắn toé chùm tia, rạch qua dòng chữ đục, toả ra tứ phía, đúng vào lúc mặt trời đi ngang góc mái hiên. Gã chửi đổng mặt trời bỗng dưng xuất hiện và kéo mũ sụp xuống che mắt, rồi lại choảng mũi cuốc chim vào xi măng. Lần này phiến đá vỡ toang, mảnh bay rào rào trên nền cuội. Nhà báo nhìn ông cai. Ông ta có vẻ đang theo dõi hai người phu, nhưng rõ ràng là chẳng quan tâm gì tới công việc họ đang làm. Ông ta như chán nản với tất cả. Đây chỉ là công việc muôn thuở mà thôi. Ông ta quay lại khi nhà báo bước tới. "Những người khác đâu cả?" Nhà báo hỏi bằng thứ tiếng Tây Ban Nha ngập ngừng của mình. Người đàn ông nhún vai. "Chẳng có ai khác nữa". "Nhưng trong báo... " Nhà báo ngừng lại. Ông hầu đã cạn vốn tiếng Tây Ban Nha "Nói tiếng Anh chứ?" Ông cai mỉm cười kiêu hãnh "Vâng, vâng". Ông ta ré lên. "Xin hầu ông". "Tôi thấy thông cáo trên báo", nhà báo nói với cảm giác nhẹ nhõm, "nên tưởng sẽ có những người khác nữa". "Không có ai cả", ông cai nói. "Nhưng ai đã đăng thông cáo? Chắc chắn phải có ai đó chứ. Ông ta là một người nổi tiếng. Rất nổi tiếng". "Văn phòng đăng thông cáo. Thời gian đã qua khá lâu để ai đó đến mà nhận thi thể. Còn bao kẻ đang chờ chỗ này. Thành phố cứ liên tục phình ra mà. Chúng tôi đã quá chật chội rồi. Ông thấy đấy". "Tôi thấy rồi" nhà báo nói, ngập ngừng. "Thế không còn ai nữa à? Gia đình. Hoặc bạn bè. Ông ta có rất nhiều bạn bè". Một nét u ám thoáng nơi cặp mắt người đàn ông. "Người chết là cô đơn". Một tiếng kêu làu bàu phát ra từ gã xà ích trên thang. Họ quay nhìn lên. Gã đã phá thủng mặt ngoài, và qua đó có thể thấy chiếc quan tài gỗ đã bị mối đã ăn luỗng và bạc màu. Giờ gã đang dùng lưỡi cuốc chim để nậy những mảnh xi măng còn lại rồi nhoai người vào trong hầm mộ kéo chiếc quan tài ra. Nhà báo quay lại ông cai. "Bây giờ sẽ làm gì tiếp?" "Ông ta sẽ được đưa lên dàn hoả". "Rồi sau đó?" Ông cai nhún vai. "Vì chẳng có ai đến nhận nên tro sẽ đổ chung với tro người khác rồi đổ vào bãi đất mà chúng tôi đang lấn ra đầm lầy". Chiếc quan tài được đặt trên dải xi măng hẹp bên toà nhà. Ông cai nhìn xuống, kiểm tra dòng chữ viết trên tấm biển kim loại nhỏ trên nắp với tờ giấy trong tay. "Đúng". Ông ta nói, rồi nhìn lên nhà báo. "Ông muốn xem bên trong quan tài?" "Không", nhà báo lắc đầu. "Vậy... khi không có gia đình để trả tiền thì những người phu được phép. Chắc ông hiểu?" Nhà báo gật đầu và quay đi khi hai người phu bắt đầu mở nắp quan tài, lắng nghe tiếng họ thì thầm khi bàn luận về những thứ mà họ tìm được, và chia chác chúng ra sao. Có một lời rủa khẽ. Rồi âm thanh đóng ván thiên. Ông cai trở lại bên nhà báo. "Hai anh phu đang thất vọng", ông ta nói "Chẳng có gì ngoài mấy chỗ hàn răng bằng vàng, và chiếc nhẫn này". Nhà báo nhìn xuống chiếc nhẫn trong tay ông ta. Một lớp bụi phủ kín nó. "Tôi lấy chiếc nhẫn" ông cai nói "còn để họ lấy mấy mối hàn. Chiếc nhẫn có giá trị, phải không?" Ông ta lấy chiếc khăn nhớp nhúa trong túi ra lau nhẫn rồi đặt nó trong lòng bàn tay. Nhà báo cúi nhìn. Đó là chiếc nhẫn vàng gắn một mặt đá đỏ thẫm. Ông cầm lên và đọc dòng chữ quen thuộc. Đó là nhẫn của trường Harvard, 1939. "Vâng" ông nói "Nó có giá trị đấy". "Mười đô la Mỹ?" ông cai hỏi. Phải mất một khoảnh khắc trước khi nhà báo nhận ra mình được mời mua chiếc nhẫn. Ông gật đầu và rút tiền ra. "Cảm ơn" ông cai nói. Nhà báo cất nhẫn vào túi. Họ quay về phía các gã phu đòn. Chiếc quan tài đã nằm trên xe. "Đi thôi. Giờ thì đến giàn hoả" ông cai nói, trèo lên xe và ra hiệu chỗ ghế bên cạnh cho nhà báo. Trời nóng hơn. Chiếc sơ mi của nhà báo ướt đẫm, thấu sang cả áo ngoài. Mất đến hai mươi phút trước khi họ đến một ngôi nhà mái bằng, xám xịt, tẻ ngắt dùng làm nơi hoả táng. Trong không khí thoáng có mùi khói khi nhà báo xuống xe đi theo hai gã phu đòn khênh chiếc quan tài vào tiền sảnh rộng. Vào trong, ông ngạc nhiên thấy nhà không có mái. Thay vào đó là bầu trời nóng bỏng trên cao. Có sáu chiếc lò hở miệng bằng đá đặt thành trời vòng tròn trong bốn bức tường của ngôi nhà. Trên mỗi miệng lò, bầu không khí chập chờn, nhảy múa với sức nóng trong lòng nó. Một người đàn ông mặc chiếc áo khoác ngoài xám phủ đầy tro bụi, tiến đến phía họ. "Đúng chứ?" Ông cai gật đầu và đưa cho ông ta mẩu giấy trắng. "Đúng". Ông ta ra hiệu cho các phu đòn. "Lò một". Hai gã phu bước đến lò đá gần nhất và lao chiếc quan tài vào. Ông cai cầm cánh tay nhà báo và họ đến bên lò. Chiếc quan tài nằm trên những thanh sắt ám khói đen, bên dưới hình như là một lưới sắt nhỏ mắt. "Lấy tro không?" Nhà báo gật đầu. Người đàn ông vận áo khoác xám đứng nhìn. Ông cai giật tay aó nhà báo. "Hắn chờ năm peso cho công việc này đấy. Lệ thế mà". Nhà báo thò tay vào túi và đưa ra tờ giấy bạc. Hai hàm răng loé trắng giữa bộ mặt ngăm đen. "Cảm ơn". Ông ta ra hiệu cho họ và, vẫn tuân theo áp lực trên cánh tay, nhà báo lùi lại cho đến khi họ cùng áp sát bức tường xa. Rồi người đàn ông vận áo khoác xám bắt đầu kéo bễ. Thoạt tiên là tiếng sôi ùng ục nhẹ trong lò, rồi chuyển nhanh thành tiếng réo ầm ầm. Cứ như thể sấm rền trong chiếc hộp nhỏ, mà vẫn không thấy ngọn lửa. Chiếc quan tài hầu như chỉ ánh lên trong những luồng khí nóng. Bỗng người đàn ông kéo cánh tay đòn và trong khoảnh khắc hầu như toàn bộ lửa của địa ngục chồm lên. Nhà báo cảm thấy luồng nóng táp vào mặt, nhưng chỉ trong khoảnh khắc, rồi những ngọn lửa biến mất và chiếc quan tài như tanthành đám bụi xám, xẹp dần trong lò. Ông cai giật tay áo nhà báo. "Chúng ta ra ngoài hút thuốc đi. Trước khi hút xong, hắn sẽ mang tro đến". Ông cai nói đúng. Họ chưa hút xong điếu thuốc thì người đàn ông đã ra với chiếc bình nhỏ đựng tro hoả táng bằng sứ xám. Ông ta nhìn ông cai. "Chiếc bình năm peso đấy" ông cai thì thầm như có lỗi. Nhà báo lấy tiền trả. Người đàn ông lại gật đầu cám ơn và đưa chiếc bình cho ông cai. "Giờ chúng ta ra xe" ông cai nói, rồi cho xe quành về phía sau toà nhà. Một chiếc xe nhỏ với con lừa mắt ngái ngủ đang đỗ đấy. Xe đầy rác, bụi và ruồi bay vù vù xung quanh. "Chúng ta đổ tro vào đây". Nhà báo nhìn chiếc xe chằm chằm. Có điều gì đó bỗng kinh lợm trong ông. "Không còn chỗ nào khác à?" Ông cai nhìn ông chằmchằm, gật đầu "Có một trang trại ở bên kia đường. Chỉ năm peso là người nông dân sẽ cho chúng ta rắc tro ở đấy". "Chúng ta đến đó". Họ đi qua cánh đồng khoai, rồi qua đường. Người nông dân xuất hiện như thể từ trong lòng đất, nơi khoai đã mọc lên. Ông ta biến mất ngay khi nhận đồng năm peso. Ông cai đưa chiếc bình ra "Mời ông?" Nhà báo lắc đầu. "Ông biết ông ta chứ ạ?" ông cai hỏi. "Vâng" nhà báo nói. "Tôi biết ông ta". Ông cai mở nắp bình, rắc tro vào trong gió. Lặng lẽ, họ nhìn gió trải tro bay ngang cánh đồng. "Nhảm hết" nhà báo chợt nói "Nhảm hết". "Vì sao, thưa ông?" "Đây là một người hùng" nhà báo nói. "Trái đất rung chuyển khi ông ta bước. Đàn ông yêu ông ta và sợ ông, đàn bà run rẩy trước sức mạnh nơi bắp vế ông ta, người ta tìm kiếm sự chiếu cố của ông ta. Mà giờ không một ai ở đây để tưởng nhớ ông". Nhà báo quay đi. "Ông nói đúng. Người chết là cô đơn". Ông cai lại nắm tay áo ông. Nhà báo quay lại, đối diện ông ta, cảm thấy mệt mỏi và rã rời. Ông mong giá mình đã không thấy mấy dòng thông cáo, đã không đi dưới mặt trời kinh khủng để đến nơi nẻo hãi hùng này, đến cái thế giới không ký ức này. "Thưa ông, không" ông cai nói nhỏ. "Tôi nhầm. Ông ta không cô đơn. Ông ta đã ở đây mà". Mời các bạn đón đọc Những Kẻ Phiêu Lưu của tác giả Harold Robbins.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Khi Tôi Nằm Chết - William Faulkner
HÀNH TRÌNH DƯỚI BÓNG CỦA CÁI CHẾT   Nhà văn mang nhiều tố chất “Mỹ” nhất trong văn học Mỹ có lẽ là William Faulkner (1897-1962). Ông là một trong những cây bút hàng đầu của văn học thế giới, chiếm giải Nobel năm 1949.   Sáng tạo của Faulkner gây ảnh hưởng sâu rộng lên văn chương châu Mỹ La tinh, Pháp, Nga... nếu không muốn nói là toàn cầu.   Ông ra đời ngày 25 tháng 9 năm 1897 ở bang Mississippi.   Mississippi của miền Nam đi vào tác phẩm của ông, được hư cấu thành Yoknapatawpha, một trong những lãnh địa văn chương sống động nhất, u ẩn nhất từng được tạo dựng.   Yoknapatawpha. Đó là một lãnh địa huyền thoại nằm giữa những đồi cát và dòng sông đáy đen. Nó xuất hiện trong hầu hết tiểu thuyết và truyện ngắn của Faulkner, đặc biệt trong tứ đại Kỳ thư.   Tất cả tiểu thuyết ấy đều thể hiện một thế giới bi thảm, đầy bóng tối cay đắng và tội lỗi, đầy đoạn trường, những tan nát của thiên nhiên và xã hội. Nhưng cũng đầy nghị lực và lòng bao dung.   Tất cả tiểu thuyết ấy đều được dựng theo một nghệ thuật tự sự tân kỳ, biểu hiện hơn là kể, xóa nhòa thời gian, khơi gợi tiềm thức, độc thoại nội tâm, đa bội giọng điệu, đa bội điểm nhìn... Do vậy, Khi tôi nằm chết không có người kể chuyện bao quát. Chỉ nghe những độc thoại nội tâm qua chừng 60 phiến đoạn với 15 nhân vật trên những cấp độ ý thức khác nhau.   ***   Có thể nói Khi tôi nằm chết là lịch sử nội tâm của gia đình Bundren, bắt đầu bằng cuộc hấp hối của bà Addie, rồi cuộc hành trình đầy phiêu lưu qua nước lũ và lửa thiêu trên những con đường uẩn khúc của Yoknapatawpha để đưa xác bà về nghĩa trang gia đình ở Jefferson thể theo di ngôn người chết.   Tác phẩm miêu tả cuộc hành trình thể lý diễn ra trên đường cũng như cuộc hành trình tâm lý diễn ra trong hồn, quay cuồng giữa bóng tối và ánh sáng mà các vai diễn là bà Addie, ông Anse cùng các con trai Cash, Darl, Jewel, Vardaman và cô con gái duy nhất là Dewey Dell.   Trong khi nằm hấp hối, bà Addie buộc chồng là Anse hứa đưa xác mình về Jefferson chôn cất. Để báo thù chồng về cuộc sống chung bất hạnh. Và bà đã từng cắm sừng chồng.   Cuộc hành trình đưa đám ấy phải trải qua bốn mươi dặm đường. Mỗi người đưa đám trong gia đình đều có tâm tư và ý nguyện riêng. Đến Jefferson là thực hiện ý người chết mà cũng là thực hiện những niềm riêng ấy.   Anse toan tính sẽ làm bộ răng giả nhằm lấy lại phong độ của mình. Ông và bà Addie đồng sàng dị mộng. Và không chỉ là răng giả...   Cash là trưởng nam, người đóng quan tài cho mẹ. Anh bị gãy chân khi vượt dòng sông lũ. Cam chịu đau đớn, anh nằm trên nắp quan tài cho đến cuối cuộc hành trình với ống chân bó ximăng!   Darl là người con thứ, rất nhạy cảm. Anh biết cuộc hành trình này là vô lý và tai họa, có thể làm tan rã gia đình. Nên anh nổi lửa định hỏa thiêu xác mẹ và chấm dứt chuyến đi. Thất bại, Darl bị đưa vào viện tâm thần vì Anse sợ phải gánh lấy trách nhiệm.   Jewel là con ngoại hôn của bà Addie. Tình nhân của bà là mục sư Whitfield. Jewel luôn liều mình cứu quan tài của mẹ qua những cơn nước lửa...   Vardaman là con trai út. Cậu được hứa hẹn sẽ có chuối ăn và đồ chơi tàu hỏa khi nào đến nơi. Cậu đục quan tài cho mẹ thở và tin mẹ là một con cá. Dù rất ngây thơ, cậu cũng cảm thấy đau khổ vì những mất mát gia đình.   Dewey Dell là cô con gái bất hạnh của gia đình. Cô chỉ mong tới được Jefferson để mua thuốc phá thai với số tiền mà người tình đã cho. Cô đồng cảm với Darl và phản đối dữ dội chuyện người ta bắt Darl vào viện tâm thần.   Cuối cùng, cuộc hành trình cũng kết thúc. Xác bà Addie nặng mùi cũng được chôn cất ở Jefferson.   Nhưng hầu như chỉ có một mình ông Anse là thỏa mãn, hăng hái giới thiệu người vợ mới trước những đứa con tan nát tâm hồn. “Đây là bà Bundren”, ông nói ở cuối tác phẩm.   ***   Con đường mà gia đình Bundren dấn bước dưới bóng của cái chết là hình ảnh thu nhỏ của Đường Đời. Con người bước đi trong cái bóng của đời sống và cái chết. Qua bi và hài. Qua nước và lửa. Qua mê và tỉnh. Qua dục vọng và đớn đau. Qua hợp và tan. Qua ước ao và thất vọng. Qua ngôn từ và hành động. Qua phi lý và nhân quả. Qua bất nhân và tình người. Qua hèn mọn và cao cả...   “Cuộc đời thúc ta như con ong huyền bí”, theo nhà thơ Emily Dickinson.   Và cái chết cũng thúc ta như con ong huyền bí, chứ gì?   Là một tiểu thuyết ngắn, Khi tôi nằm chết vẫn đạt đến tầm mức một kiệt tác lớn lao, sâu thẳm, dung hợp được những tố chất tương phản trong đời sống và văn chương với một nghệ thuật hư cấu đầy cách tân, táo bạo của một bậc thầy ngôn ngữ. *** Về tác giả: William Faulkner (1897-1962) là một tiểu thuyết gia người Mỹ. Đoạt Giải Nobel Văn học năm 1949, hai giải Pulitzer năm 1955 và 1963, ông là một trong những nhà văn quan trọng nhất thế kỷ 20. Những sáng tác của Faulkner gây ảnh hưởng sâu rộng lên văn chương châu Mỹ La tinh, Pháp, Nga... nếu không muốn nói là toàn cầu. Nhắc tới ông, không thể không kể đến tứ đại kỳ thư nổi tiếng: -    Âm thanh và cuồng nộ (The Sound and the Fury -1924) -    Khi tôi nằm chết (As I lay Dying - 1930) -    Nắng tháng Tám (Light in August -1932) -    Absalom, Absalom! (1936) Mời các bạn đón đọc Khi Tôi Nằm Chết của tác giả William Faulkner.
Ai Là Định Mệnh của Ai - Tuyết Ảnh Sương Hồn
Ai sinh ra để thuộc về ai? Ai là phù hợp với ai nhất? Cùng đọc Ai là định mệnh của ai, theo bước chân của hai nhân vật trong truyện để đi tìm lời giải cho câu hỏi này. Nữ chính Yên Phiên Phi và nam chính Chu Nhất Minh là thanh mai trúc mã, là oan gia, là anh em tốt… là bất cứ mối quan hệ gì - mà - không - phải - là - tình - yêu. Đến tuổi yêu đương, thậm chí là sắp ế, họ cũng cuống lên đi gặp mặt. Một điều kì lạ là hai người bạn này cùng tiến cùng lùi, cùng vui cùng buồn, cùng có người yêu lại cùng chia tay. Và chẳng hiểu sao họ chỉ toàn gặp những đối tượng dở khóc dở cười, các anh chàng thì không hà tiện thì cũng gia trưởng, không lăng nhăng thì cũng mắc bệnh yêu mẹ, các cô gái hoặc là quá nhút nhát, hoặc là quá thực dụng, thậm chí còn có cô gái lừa đảo dưới lớp vỏ bọc ngây thơ… Ếch ba chân mới khó kiếm, chứ tại sao một người yêu hai chân cũng khó kiếm đến vậy? Vì một lời nói đùa của người bạn, hai người “anh em tốt” Yên Phiên Phi và Chu Nhất Minh cũng muốn yêu nhau xem sao, “phù sa không chảy ra ruộng ngoài” mà! Liệu mọi thứ có dễ dàng như họ muốn? Và cuối cùng, ai mới là định mệnh của ai? Hãy đón đọc một trong những cuốn tiểu thuyết ngôn tình hay của Tuyết Ảnh Sương Hồn. *** Năm nay tôi hai mươi bảy tuổi, chiểu theo tiêu chuẩn xếp hạng “hàng quá date” ở trên mạng mà ai ai cũng biết thì tôi sắp được liệt vào danh sách rồi, còn ở nhà thì đã bị coi là “quả bom nổ chậm”... Nhưng tôi chẳng vì thế mà mặt mày ủ ê, than thân trách phận, biết đâu ở hội Hoán thảo ngày mai tôi sẽ tìm được người trong mộng. Ngày mai vừa đúng là ngày Valentine. Đó là ngày dành cho các đôi lứa yêu nhau, cũng là ngày thê thảm nhất đối với những người vẫn còn lẻ bóng như tôi. Thấy người ta tay trong tay rạng ngời hạnh phúc đi trên đường, trong lòng chợt dấy lên cảm giác ghen tức, đố kỵ. Ngày lễ Tình nhân không có người yêu, cô đơn lẻ bóng, phải làm sao để vượt qua đây? Đang buồn nẫu ruột thì cô bạn thân Điền Tịnh gọi điện, hỏi tôi ngày mai có muốn tham gia hội Hoán thảo trong thành phố không. Tôi chẳng mấy hào hứng. “Hội Hoán thảo là hội gì? Trao đổi cây cối, hoa cỏ à? Mình đâu có trồng hoa, trồng cỏ, thôi, không đi đâu.” Điền Tịnh tỏ ra ngán ngẩm. “Sao ngay cả hội Hoán thảo mà cậu cũng không biết thế? Đúng là người ngoài hành tinh! Hội Hoán thảo chứ có phải là trao đổi hoa cỏ đâu, đó là một kiểu giao lưu, gặp gỡ, kết bạn.” Sau khi được Điền Tịnh giải thích cặn kẽ, cuối cùng thì người ngoài hành tinh như tôi cũng hiểu được thế nào gọi là “hội Hoán thảo”. “Hội Hoán thảo” là một trào lưu rất thịnh hành thời nay đối với tầng lớp trí thức thành thị. Từ “thảo” này ngoài nghĩa là “cỏ” thì một nhóm các chị em hay rộng hơn là thế hệ trẻ bây giờ còn dùng để ám chỉ những chàng trai có quan hệ tốt nhưng lại không thể hẹn hò, điều kiện tốt mà nửa kia không phát hiện ra nên vẫn còn đơn thân. Cho nên “hoán thảo” ở đây không có nghĩa là trao đổi cây cối, hoa cỏ mà là một kiểu mọi người giúp đỡ, hỗ trợ nhau, đưa ra cách thức mới để tối đa hóa việc sử dụng nguồn tài nguyên của mình là anh bạn đi cùng. ... Mời các bạn đón đọc Ai Là Định Mệnh của Ai của tác giả Tuyết Ảnh Sương Hồn.
Sanshirō
Hầu hết người dân Nhật Bản sẽ phải đọc một cuốn tiểu thuyết Natsume Sōseki ít nhất một lần trong đời. Văn chương của Sōseki là chìa khóa cho sự hiểu biết về lịch sử Nhật Bản cận-hiện đại; các tác phẩm của ông nắm bắt được linh hồn của thời kỳ Minh Trị. Natsume Sōseki thể hiện cái nhìn phi thường sâu sắc vào một Nhật Bản đang trở mình hiện đại hóa nhanh chóng, một Nhật Bản bối rối trước những biến động không ngừng dưới ánh sáng của văn minh phương Tây. Sanshirō là một trong những tiểu thuyết được yêu thích nhất Natsume Sōseki. Sanshirō là hiện thân của tất cả các nghi ngờ, hứng thú và hoang đường của thời kỳ Minh Trị. Sanshirō là chân dung toàn hảo nhất về lớp trẻ Nhật Bản trong giai đoạn giao thời, là hình ảnh kiêu ngạo ngây thơ nhưng lại rất tinh tế sâu sắc của một thanh niên trong thời điểm xã hội giao tranh cũ mới; trước những truyền thống tập tục và đạo đức cũng đang dần phải thích ứng với những biến động của đất nước, một Nhật Bản đang trở mình trước bình minh phương tây. Câu chuyện hài hước, hình ảnh lãng mạn, ý tưởng tinh tế cùng với những triết lý sâu xa đã đưa Sanshirō thành một tiểu thuyết của thời đại. *** Có quan điểm cho rằng, “Hầu hết người dân Nhật Bản sẽ phải đọc một cuốn tiểu thuyết Natsume Soseki ít nhất một lần trong đời.” bởi lẽ văn chương của Soseki là chìa khóa cho sự hiểu biết về lịch sử Nhật Bản cận - hiện đại. Một trong những tiểu thuyết được yêu thích nhất của Natsume Soseki chính là tác phẩm Sanshiro –một câu chuyện hài hước, hình ảnh lãng mạn với những triết lý sâu xa của thời đại. Tác phẩm xoay quanh một chàng sinh viên nhà quê ở Kumamoto, Kyushu lên Tokyo học đại học. Ngay từ trên chuyến đi, Sanshiro đã cùng một cô gái xuống tàu trọ đêm ở Nagoya và bị chê là “nhát gái”, rồi sau đó tình cờ được gặp gỡ với giáo sư Hirota. Khi lên Tokyo cả một thế giới xa lạ quyến rũ và đầy phức tạp mở ra trước mắt Sanshiro khiến bao nhiêu tự tin của chàng sụp đổ tan tành. Chàng làm quen thêm được nhà nghiên cứu Nonomiya, cũng là một người bà con với mình, chuyên nghiên cứu về áp lực ánh sáng và cô em gái bệnh tật của Nonomiya là Yoshiko. Ngoài ra còn một người bạn học là Yojiro. Trên tất cả là nàng Mineko với vẻ đẹp ngất ngây hiện thân cho tất cả những gì thuộc về phồn hoa đô hội. Nàng vốn là bạn gái của Nonimiya. Sanshiro luôn có cảm giác bị nàng nhìn thấu suốt, không sao có thể đuổi bắt kịp bóng hình nàng. Dường như chàng luôn bị hụt hơi, không sao diễn tả tấm tình của mình cho Mineko hiểu. Cuối cùng Mineko đi lấy chồng. Chồng nàng là một người bạn của anh trai nàng, vốn đã từng hỏi cưới Yoshiko. Tác phẩm khắc họa sự trưởng thành của tầng lớp thanh niên cuối thời Minh Trị, với những dằn vặt chọn lựa giữa truyền thống và hiện đại, giữa chiều sâu của nghệ thuật với xô bồ hỗn độn của văn minh kỹ thuật, giữa lý tưởng và hiện thực cuộc đời. Như Natsume đã phác họa một ngã ba đường rẽ đến ba thế giới mà Sanshiro phải chọn lựa.  Đầu tiên là thế giới của quá khứ với người mẹ nơi quê nhà và cô nàng Omitsu quê mùa vốn được hứa gả cho Sanshiro. Cõi này thật bình yên lặng lẽ, là chốn dung thân cuối cùng cho Sanshiro. Thật ra đó là quá khứ mà chàng muốn chối bỏ. Thế giới thứ hai là thế giới yên bình của học thuật với sách vở, nghiên cứu, thư viện mà giáo sư Hirota và Nonomiya thuộc về. Nơi này không biết gì về thế giới hiện thực nhưng có thể trốn thoát hỏa ngục trần gian. Họ ung dung tự tại hưởng thụ tri thức và sống trong nghèo đói. Sanshiro đang bước vào ngưỡng cửa thế giới thứ hai này. Thế giới thứ ba là một thế giới của mùa xuân tràn sức sống với tiếng cười đùa, rượu sâm panh. Trên tất cả đó là thế giới của sự tôn vinh cái đẹp. Đối với Sanshiro thế giới này sâu sắc nhất, đang hiện diện ngay trước mắt nhưng vô cùng khó tiếp cận. Điểm khó tiếp cận đó lại như ánh sét nơi trời cao tít tắp. Chàng cảm thấy mình có thể trở thành chủ nhân để lấp đầy khoảng trống và phát triển viên mãn. Nhưng thế giới đó lại chặn mọi ngả đường mà đáng lẽ Sanshiro được tự do thâm nhập. Không cần phải nói thêm thì hình bóng của Mineko lấp đầy thế giới tươi đẹp này. Sau khi so sánh ba thế giới, Sanshiro rút ra kết luận là phải đưa mẹ lên thành phố, kết hôn với một cô gái xinh đẹp và cống hiến hết mình cho sự nghiệp học hành. Thế nhưng liên tục những sự kiện phức tạp của Tokyo đã làm Sanshiro hướng dần về phía người mẹ nơi quê nhà và hiểu được rằng thế giới thứ ba với hình bóng Mineko vĩnh viễn không bao giờ bước vào được.  Có thể nói Sanshiro tượng trưng cho Nhật Bản đang trong quá trình hiện đại hóa, nỗ lực chạy theo văn minh kỹ thuật Phương Tây nhưng luôn cảm thấy cách xa tầm tay với.  Nonomiya, giáo sư Hirota và Yojiro tượng trưng cho những người đứng bên lề dòng chảy, khiếp sợ trước hiện thực và tìm quên trong sách vở, sống trong tháp ngà của riêng mình, tự nhận chịu nỗi cô đơn thần thánh. Yojiro đã dùng từ “bóng tối vĩ đại” để xưng tụng giáo sư Hirota nhưng cũng nói lên phần nào u uẩn của lớp người này. Mineko là tượng trưng cho văn minh kỹ thuật Tây Phương và phần nào là sự nhiễm độc của nỗi rực rỡ hời hợt xô bồ, xa khuất cội nguồn văn hóa truyền thống Nhật Bản. Chi tiết kết thúc truyện Mineko đi lấy chồng thật tinh tế. Nó vừa phản ánh đúng được tâm lý người phụ nữ hiện đại vươn cao vừa nói lên được phần nào niềm cay đắng của tác giả khi cho rằng Nhật Bản sẽ không bao giờ đuổi kịp Tây Phương. Nói như giáo sư Hirota thì cho dù có chiến thắng trong cuộc chiến tranh Nhật Nga, cho dù có trở thành một cường quốc đệ nhất thì “chúng ta vẫn chẳng làm nên được điều gì khác biệt”, cũng vẫn chỉ những bộ mặt ấy, một thể trạng yếu ớt như thế này. Chỉ có núi Phú Sĩ là đáng tôn thờ nhưng nó lại là tạo phẩm của thiên nhiên, không phải do con người hiện đại tạo nên. Cái nhìn chứa đầy bi quan sâu sắc này đã theo suốt Natsume Sokeki cho nên những tác phẩm về sau lúc nào cũng mang một nỗi niềm nào u uất. Đối lập hoàn toàn với Mori Ogai vốn hân hoan chấp nhận cái mới và sẵn sàng đi theo dòng chảy thời đại, Soseki có vẻ đứng nhìn từ xa với một sự lặng lẽ giữa chấp nhận và chối từ.   Tác phẩm này là nguồn cảm hứng để cho nhiều nhà văn thế hệ sau học tập. Ngay cả “Rừng Na Uy” của Murakami Haruki cũng có thể xem là nối dài của “Sanshiro” với cuộc sống và những trăn trở thời sinh viên mà Soseki đã khắc họa. Sự trung thực với chính mình khi sáng tác đã tạo nên tầm vóc của Soseki với những tác phẩm chân thực, không chỉ vẽ lên nhiều nỗi băn khoăn của thanh niên trước ngưỡng cửa đời như “Sanshiro” (三四郎) hay “Cậu ấm ngây thơ” (坊ちゃん) mà còn phản ánh được những bi kịch dằn vặt của nghệ sĩ hay con người thường tình chúng ta trong hiện thực cuộc đời khắc nghiệt như trong “Gối cỏ” (Kusamakura草枕), hay “Nỗi lòng” (Kokoro心)… Mà đến tận ngày hôm nay những người trẻ tuổi vẫn còn tiếp tục…. Hoàng Long/ kilala.vn Mời các bạn đón đọc Sanshirō của tác giả Natsume Soseki.
Thiên Đường Tiền Xu Tập 1
Bánh kẹo ở Thiên đường tiền xu ẩn chứa một sức hút vô cùng kỳ lạ, chẳng ai cưỡng lại được! Nào Kẹo dẻo người cá, Bánh quy mãnh thú, Kem ma ám, Cần câu bánh cá nướng…, thứ nào cũng lấp lánh mời gọi. Để rồi, khách cứ thế bước vào tiệm, vui vẻ trao cho bà chủ Beniko một đồng xu và nhận lại món bánh kẹo nào đó mà họ ngỡ như chính định mệnh của đời mình. Nhưng họ chẳng hề hay biết, rằng chính những món đồ ngọt nhỏ bé đó sẽ dẫn họ bước vào một con đường, nơi ranh giới giữa hạnh phúc và bất hạnh thì vô cùng mong manh… *** Mayumi rầu ơi là rầu, chả là từ ngày mai cô bé sẽ phải học bơi trong giờ thể dục. Bơi trong bể bơi. Mới nghĩ thế thôi Mayumi đã toát mồ hôi lạnh, dù trời thì đang nóng hầm hập. Mayumi nào có biết bơi đâu. Cô bé còn sợ nước muốn chết ấy chứ. Mỗi lần phải xuống nước là y như rằng Mayumi lại cuống cả lên. Mayumi sẽ bị nước lạnh nuốt chửng lấy, sẽ chìm như đá, không nổi lên được. Ngộ nhớ chết đuối luôn thì làm sao! Những suy nghĩ ấy sẽ ào ào kéo tới và Mayumi sẽ quẫy đạp loạn xạ. Rồi sau khi đã uống no cả bụng nước thầy giáo mới cứu cô bé lên. Từ ngày mai Mayumi sẽ lại phải chưng cái bộ dạng đáng xấu hổ đó ra cho bạn bè chê cười. Ôi, ghét quá đi. Hay nhờ mẹ viết thư gửi cho thầy giáo, nói là mình không được khỏe nên xin miễn vụ tập bơi kia nhỉ. Nhưng chắc chắn mẹ sẽ quạt lại ngay: “Con nói linh tinh gì thế hả? Năm nay cố mà bơi được đi chứ!” Mayumi mà bơi được thì đã tốt. Hoặc chỉ cần hết bệnh sợ nước thôi cũng được. Miễn không bị hoảng lên thế kia, kiểu gì Mayumi cũng sẽ bơi được, vậy mà... Mayumi chậm chạp bước đi trên con đường trở về nhà, đầu mông lung suy nghĩ. Bỗng dưng thấy như có ai gọi mình, Mayumi bèn ngẩng mặt lên. Lúc này cô bé đang đi qua con phố mua sắm nằm ở đoạn giữa trường học và nhà. Đường này gần, mà Mayumi lại thích náo nhiệt nên toàn chọn đi lối này thôi. Gì chứ mấy cửa tiệm ở đây cô bé nằm lòng cả rồi. Thế nhưng hôm đó, Mayumi lại bắt gặp một cửa tiệm cô bé chưa thấy bao giờ. Ở tận sâu trong cùng con ngõ nhỏ nằm giữa tiệm bánh khoai tây chiên giòn và tiệm đồ khô có một tiệm bánh kẹo. Cửa tiệm ấy dính lấy bức tường của con hẻm hệt như muốn giấu mình khỏi khu phố. Vậy nhưng trước của tiệm lại bày la liệt những viên kẹo đủ sắc màu. Mayumi nghiêng đầu thắc mắc. Có cả tiệm bánh kẹo ở chỗ đó sao? Con đường này cô bé đã đi qua cả trăm lần nhưng chưa hề thấy nó bao giờ. Ngay sáng nay thôi cô bé cũng chẳng hề thấy. Có khi hôm nay mới mở cửa cũng nên. Cô bé nghĩ bụng. Nhưng cửa tiệm nhìn khá cũ, như thể đã buôn bán từ lâu lắm rồi. Thấy là lạ, Mayumi bước vào con ngõ nhỏ định bụng sẽ ghé thử xem sao. Những ồn ào của con phố ngoài kia biến mất dần sau mỗi bước chân. Thay vào đó sự tĩnh mịch bao trùm lấy Mayumi. Vậy nhưng Mayumi không hề cảm thấy kỳ lạ. Trong đầu cô bé khi ấy chỉ toàn hình ảnh tiệm bánh kẹo trước mặt kia thôi. Những tiệm bánh kẹo đúng là luôn có một sức hút thật kỳ lạ. Nào thạch, kẹo dẻo xanh đỏ trông đến là độc hại lèn cứng trong những chiếc hũ, nào những chiếc bánh gạo đơn điệu, tảo bẹ khô vị muối, hay những chiếc bánh bột đường đen sì sì nằm lộn xộn. Nhưng hàng hóa ở tiệm bánh kẹo Thiên đường tiền xu mà Mayumi bắt gặp lại không giống thế. Nói sao nhỉ. Trông chúng giống y những viên kẹo bình thường nhưng lại có gì đó rất khác. Chúng ẩn giấu một năng lực đặc biệt, không giống kẹo ở những nơi khác. Từng chiếc từng chiếc đều toát lên cái vẻ đó. Đến cả chiếc kẹo cao su bé tí cũng thấy đặc biệt. Nhìn kỹ đến cả tên bọn chúng cũng kỳ cục. Nào là Kẹo mắt mèo, Kẹo sủi chanh hình xương - mê tới tận xương tủy, Caramen lương thảo, Cốc-tai hoa quả bóng đêm, Kẹo gôm yêu quái, Sô cô la đồng tiền, Bánh giầy mèo may mắn, Kẹo mạch nha cầu vồng, Thạch ma run rẩy, Bánh xốp que con nít, Kẹo mai rùa, Hộp du ngoạn, Bánh bao trứng chim nhạn, Bánh gạo dơi, v.v. Bao nhiêu là thứ kẹo lạ lẫm tranh nhau lọt vào mắt, Mayumi phấn khích tột độ. Ôi, cái gì đây, hay thế! Bim bim hên xui, Bánh mì oán hận! Sô cô la cuộn mì vị xã hội đen là cái gì! Người Ả Rập vị gạo Scheherazade ! Oa, cái này là sao! Mayumi đang say sưa ngắm nhìn thì bỗng nhiên, một người phụ nữ bước ra từ trong bóng tối góc sâu cửa tiệm. Người phụ nữ vận chiếc kimono màu đỏ tía in hoa văn tiền xu cổ, tạng người đẫy đà, khí thế như lực sĩ sumo. Búi tóc to tướng trên đầu đã bạc trắng. Thế nhưng đó không phải một bà lão. Khuôn mặt người phụ nữ không có lấy một nếp nhăn, môi thì tô son đỏ chót, lại cài vô số những chiếc trạm đính cườm rực rỡ, trông vô cùng bóng bẩy. Cơ mà người này cũng không còn trẻ. Gọi là cô chắc được, Mayumi quyết định. Người phụ nữ mỉm cười tiến tới cất tiếng gọi. Giọng nói quyến rũ nhưng lại khiến người nghe thấy gai gai lạnh. “Xin chào. Đây là tiệm Thiên đường tiền xu. Chỉ những người đang tìm kiếm vận may vô cùng may mắn mới có thể bắt gặp tiệm ta. Beniko ta nhất định sẽ mang may mắn tới cho quý khách hoặc giúp ước nguyện của quý khách thành hiện thực.” Người ấy nói bằng giọng du dương như hát. Chắc hẳn Beniko là tên người này và cô ta cũng là chủ nhân ở đây. Cơ mà cô này nói chuyện kỳ quá. Vận may là sao? Beniko chăm chú nhìn Mayumi đang bối rối. “Thế quý khách mong ước gì nào? Hay quý khách muốn hóa giải nỗi ưu phiền gì đó chăng?” Người phụ nữ không hề mời Mayumi mua kẹo. Lạ hơn nữa là những lời ấy lại đi thẳng vào tâm can Mayumi. Cô bé thật thà đáp lại người phụ nữ. “Cháu muốn biết bơi.” Beniko mỉm cười. “Ồ, nếu vậy có một loại kẹo phù hợp đấy. Chờ ta chút.” Rồi từ trên giá xếp đầy những hũ kẹo, bà chủ tiệm lấy xuống một cái hộp cỡ hộp bút đưa cho Mayumi xem. Trên đó đề dòng chữ “Kẹo dẻo người cá”, mặt trên của hộp còn vẽ hình những người cá dễ thương đang bơi. Vừa nhìn thấy nó, Mayumi liền choáng váng như bị sét đánh. Mắt cô bé không thể rời khỏi chiếc hộp ấy. Mình muốn cái này. Cái này là của mình. Nhất định mình phải có nó. “Cái này bao nhiêu thế ạ?” “Mười yên. Quý khách có đồng mười yên không?” Mayumi chẳng hề để ý tới ánh mắt lấp lánh đáng ngờ của Beniko. Cô bé vội vàng mở cặp lấy hộp bút ra. Vì Mayumi không có điện thoại di động nên lúc nào cũng để sẵn tiền xu lẻ trong hộp bút phòng khi cấp bách cần gọi điện. Đây rồi! Mười yên! Beniko nhận đồng mười yên, chăm chú ngắm nghía rồi gật đầu hài lòng. “Đồng mười yên của năm Chiêu Hòa thứ bốn mươi hai. Đúng nó rồi. Cảm ơn quý khách. Hộp kẹo này giờ là của quý khách.” Mayumi ôm chặt lấy chiếc hộp. Niềm vui sướng khi có được thứ mình muốn làm Mayumi mụ cả đầu. Giọng Beniko ma mị vang vọng trong đầu Mayumi. “Nhớ đọc kỹ tờ giấy bên trong nhé. Tuyệt đối không được quên đâu đấy!” “Vâng.” Mayumi gật gật trong khi vẫn còn nửa tỉnh nửa mơ. Đến khi nhận ra thì cô bé đã về đến nhà. Mayumi còn nghĩ hay là mình vừa mơ? Nhưng tay cô bé vẫn đang cầm chặt hộp Kẹo dẻo người cá đây mà. Không phải mơ! Cô bé mở ngay chiếc hộp ra. Bên trong có một gói bột nho nhỏ và một khay nhựa hơi dày. Trên khay là những khuôn in chìm đúng hình người cá. Ngoài ra còn có một tờ giấy gấp gọn gàng. Mayumi mở ra thì thấy bên trong ghi cách làm kẹo dẻo người cá. Cách làm kẹo dẻo người cá: Hòa bột kẹo với 40cc nước, sau đó đổ vào khuôn. Để một giờ cho kẹo cứng lại rồi gỡ ra ăn. Đằng sau còn một đống chữ nữa nhưng Mayumi quyết định bỏ qua. Vì cô bé đang nôn nóng làm kẹo ngay. Mayumi phi thẳng vào bếp, lấy cốc đong đúng 40cc nước đổ vào bát. Sau đó trút hết bột kẹo vào, lấy thìa khuấy. Chẳng mấy chốc đã được thứ chất lỏng màu xanh trong veo. Lại sền sệt. Cô bé đổ phần chất lỏng vào khuôn, háo hức chờ đợi suốt một giờ đồng hồ. Đúng một giờ sau, Mayumi nhẹ nhàng lấy phần kẹo đã cứng lại ra khỏi khuôn. Một người cá hoàn hảo ra đời. Kỳ lạ ở chỗ phần người của người cá thì màu trắng, còn phần cá lại màu xanh. Tóc người cá cũng xanh mát cả mắt. Rõ ràng chất lỏng ban nãy tuyền một màu xanh, làm sao mà màu lại thành ra thế này được nhỉ? Nhưng dẫu sao người cá cũng rất đẹp, đến nỗi Mayumi đang tiếc hùi hụi vì phải ăn nó đây. Không nỡ nhai, Mayumi thử liếm một ít. “Oa, ngon quá!” Kẹo ngon kinh khủng. Vừa tê tê kích thích như thể có ga, lại ngọt đậm vị xoài. Mayumi không thể nhịn nổi nữa. Nỗi tiếc rẻ ban nãy đã biến đi đâu mất, Mayumi chóp chép chén sạch chỗ kẹo dẻo người cá. Đêm đó Mayumi mơ thấy mình hóa thành người cá bơi vòng vòng dưới đại dương sâu trong vắt. Hôm sau, Mayumi thấy cổ họng khô không khốc. Cô bé uống nào là sữa, nước nhưng cũng chẳng ích gì. Mayumi khát tới nỗi quên luôn cả chuyện bể bơi. Rồi giờ thể dục tới, thay xong đồ đứng trước bể bơi, Mayumi chỉ muốn nhảy ngay xuống nước. Những sóng nước rung rinh trước kia đáng sợ thì nay đang dịu dàng mời gọi Mayumi. Không xong rồi! Cô bé chẳng đủ kiên nhẫn mà khởi động hay tắm trắng nữa. Mayumi nhảy ùm xuống bể bơi. Vừa đằm mình xuống nước, cô bé liền thấy cơn khát kinh khủng kia dịu hẳn đi. Nước mát và dịu êm khiến cô bé thấy vô cùng dễ chịu. Chính là nó. Điều mà Mayumi vẫn luôn ao ước. Các thầy cô lớn tiếng, ào xuống bể bơi những muốn kéo Mayumi lại. Nhưng làm sao mà bắt được cô bé, Mayumi nhanh nhẹn như một chú cá, bơi đi mất. Cô bé luồn lách qua vòng vây của thầy cô dễ như bỡn. Tụi bạn cùng lớp cũng tròn mắt ngạc nhiên. Mayumi vịt cạn mà bơi giỏi thế cơ à! Cuối cùng các thầy cô đành bỏ cuộc, mặc kệ Mayumi. Trong khi chúng bạn tập đạp chân, Mayumi thỏa sức vẫy vùng trong nước. Kiểu nào cô bé cũng bơi được. Bơi sấp, bơi ếch, cả bơi bướm nữa. Còn dễ hơn cả đi bộ hay chạy trên mặt đất. Hết giờ thể dục, Mayumi đành miễn cưỡng ra khỏi bể bơi. Ngay lúc ấy cơn khát lại kéo đến. Lần này còn kinh khủng hơn cả lúc nãy. Cô bé thấy cả người cứ khô không khốc. Đám bạn lại gần Mayumi, không ngớt lời khen ngợi, song chẳng lời nào lọt vào tai Mayumi cả. Ôi da mình khô đét, khó chịu quá. Sao lại khô khốc thế này. Đến giờ nghỉ trưa cô bé thực sự không chịu nổi nữa. Đã vậy chân lại cứ ngứa ran. Rồi cô bé bất giác đưa tay gãi thật mạnh. Soạt. Một tiếng động lạ vang lên, có thứ gì đó rơi xuống sàn. Một thứ mỏng tang màu xanh, y hệt mảnh thủy tinh vỡ, song nhìn kỹ thì giống vảy cá. Vảy cá? Mayumi giật nẩy mình, phi ngay vào nhà vệ sinh, chui vào một phòng, đóng kín cửa lại để không ai nhìn thấy rồi mới vén váy lên xem thử. “Không thể nào...” Đùi cô bé đã xuất hiện những vảy cá màu xanh xanh. Đám vảy cá mới chỉ mọc ở một chỗ thôi nhưng tốc độ lan rất nhanh. Mayumi vội vã tìm cách cạo hết chúng đi. Đám vảy cá vừa mới nổi lên còn có thể xoay xở cạo đi được chứ để lâu rồi thì không tài nào cạo nổi. Chúng dính chặt ơi là chặt. Cứ cố cạo đi chỉ tổ đau ghê gớm. Chết rồi. Làm sao bây giờ. Cứ đà này mọi người sẽ nhìn thấy đám vảy cá mất. Gần hết giờ nghỉ trưa rồi. Chắc phải trốn đi thôi. Mayumi cũng sợ cúp học lắm nhưng bị ai đó nhìn thấy đám vảy cá này còn kinh khủng hơn. Chắc chắn bên ngoài không có ai rồi, Mayumi mới phóng như bay ra khỏi nhà vệ sinh, lướt qua hành lang trốn khỏi trường. Rồi cô bé chạy thục mạng. May mà mẹ cô bé không có nhà, chắc bà đang đi mua đồ. Mayumi thở phào nhẹ nhõm, nhìn xuống chân thì thấy đám vảy cá đã lan ra tới tận đầu gối. Cảm giác khô khốc càng lúc càng kinh khủng. Nhưng không phải do khát nước mà chính đám vảy cá bị khô kia đang hành hạ cô bé. Mayumi nhảy vào bồn tắm mà chẳng buồn cởi quần áo. Cuối cùng cũng dễ chịu hơn rồi. Đằm mình trong nước, Mayumi vắt óc suy nghĩ. Tại sao mình lại thành ra thế này nhỉ? Nguyên nhân... chỉ có một. Tại chiếc kẹo dẻo người cá đó. Mayumi ăn nó nên mới không sợ nước và bơi giỏi như cá thế. Cũng chính vì ăn chiếc kẹo đó mà cô bé mọc cả vảy cá, không có nước thì không chịu nổi. Chỉ có thể là tại nó thôi. *** Hiroshima Reiko, sinh tại tỉnh Kanagawa, Nhật Bản và là một tác giả sách thiếu nhi lừng danh. Năm 2005, bà đoạt giải Juniorboukenshousetsu với tác phẩm Suiyou no mori. Bà cũng là tác giả của vô số các tác phẩm văn học thiếu nhi, kỳ ảo nổi tiếng khác. jyajya, sinh tại Fukuoka, từng làm nhân viên cho một công ty phát triển các ứng dụng trên điện thoại. Năm 2011, jyajya bắt đầu ra làm thiết kế tự do và hiện đã lấn sân sang cả lĩnh vực vẽ minh họa.   Mời các bạn đón đọc Thiên Đường Tiền Xu Tập 1 của tác giả Hiroshima Reiko.