Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bông Hồng Vàng - K. G. Paustovsky

K. G. Paustovsky (1892 – 1968) là một trong những nhà văn Nga xuất sắc nhất của thế kỷ hai mươi, mang tầm vóc quốc tế. Những tác phẩm của ông đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới và được bạn đọc khắp năm châu vô cùng ngưỡng mộ. Chính vì vậy ông đã từng được đề cử để trao giải Nôben về văn học.  Ngay từ khi mới xuất hiện trên văn đàn Nga, Paustovsky đã làm cho bạn đọc và giới phê bình chú ý, bởi một giọng văn hết sức độc đáo giàu chất thơ đến mức nồng nàn, càng đọc càng thấm thía sâu xa về cuộc đời, về những nét rung động tinh tế nhất của tâm hồn trước tình người hồn hậu, trước thiên nhiên Nga bình dị mà tráng lệ và vô cùng quyến rũ. Tác phẩm của Pauxtốpki có một ma lực khổng lồ quyến rũ bạn đọc đến với những điều tưởng chừng nhỏ nhặt mà ẩn giấu trong đấy bao ý nghĩa lớn lao về cuộc đời. Người ta thường gọi ông là nhà thơ bị đóng đinh trên cây thánh giá của văn xuôi. Văn của ông là tiếng nói tâm hồn nồng cháy đến mức tột cùng của ông đối với Tổ quốc Nga Xô Viết.  Từ xưa tới nay khi viết truyện ngắn hay tiểu thuyết, các nhà văn đều chú ý đến việc xây dựng cốt truyện sao cho hấp dẫn. Riêng truyện ngắn và truyện vừa của Paustovsky lại không chú ý đến cốt truyện, mà đọc lại rất hấp dẫn. Ông viết truyện theo cốt cách và bút pháp của một nhà thơ, tiêu biểu như tác phẩm “Bông hồng vàng”. *** Cơn bão tuyết tràn vào thành phố từ chập tối. Tắt ánh mặt trời là nhiệt độ hạ xuống đột ngột. Khi cơn bão ập tới, nhiệt độ còn xuống nữa. Không khí khô đến khó thở. Từ trong nhà nhìn ra chỉ thấy trời đất trắng bệch một màu bạc xỉn của băng bụi. Gió quyện chúng quẩn quanh trên mặt đường, xếp thành từng đống ở chân tường. Không một bóng người bóng vật ngoài phố. Thỉnh thoảng mới thấy một chiếc xe tải, chăn trấn thủ bọc kín máy, lạc lõng chạy qua, bụi trắng cuồn cuộn dưới gầm xe. Tì tay trên bậu cửa sổ, tôi bần thần nhìn ra những ngọn đèn đường vàng ệch trong bóng tối nhuốm màu trắng phản chiếu của tuyết già mà rùng mình cảm trước thấy chiều dài ghê gớm của thời gian một đêm mất ngủ. Guenađy Shpalikov, bạn cùng phòng với tôi, nhà thơ chưa được ai biết đến trong những năm xa xôi ấy, quẳng cho tôi một cuốn sách dày cộp, bìa bọc simili: - Đọc đi! Những đêm như đêm nay mà đọc Paustovsky thì đúng lúc lắm. Nếu cậu thích, có thể coi như mình tặng cậu. Đây là tuyển tập. Mình đã đặt mua toàn tập hôm qua rồi. Tôi ngần ngại nhìn cuốn sách dày cộp. Nhưng chỉ vừa đọc mấy chục trang đầu, tôi đã hiểu ngay rằng không gì có thể bắt tôi gấp cuốn sách lại chừng nào tôi chưa đọc xong. Và thế là đêm đó – một đêm giá lạnh mùa đông năm 1956 ở Moskva – tôi đã gặp Paustovsky. Từ những hàng chữ in bình thường trên trang giấy xanh lên màu chao đèn ngủ, những nhân vật sống bước ra, đi lại, làm việc, yêu, ghét, đau khổ, vui, buồn, trong những câu chuyện đầy tình cảm của những xúc động thường là thầm kín và cao cả, trên nền phong cảnh Nga với những hàng bạch dương run rẩy trong gió, những vì sao trong vũng nước đêm, mùi lá mục trong rừng… Tôi nghiễm nhiên trở thành người chứng kiến, người tham gia vô vàn chuyện đời chuyện người, rất thường mà rất lạ, không sao quên được. Là nhờ Konstantin Paustovsky. Và tôi thật sự đã không quên, bởi vì, hơn là những chuyện kể mà ta có thể nghe ở bất cứ ai, trong một đêm đó Paustovsky đã giúp tôi sống một đoạn đời tính bằng nhiều năm, mà là những năm giá trị, khi con người bỗng nhận ra rằng mình không thể giản đơn tồn tại, mà phải được sống thực, sống đầy đủ, với những rung cảm thực, cái duy nhất làm cho cuộc sống của ta phong phú thêm và vì thế có ý nghĩa hơn. Đọc Paustovsky tôi bỗng hiểu tôi hơn, tôi bỗng hiểu mọi người hơn. Và, đây mới là cái chính: tôi chợt hiểu rằng mỗi con người, dù người đó là ai, là nhà bác học, nhà thơ, là ông thợ mộc bình dị…, tất cả, đều là một thế giới phong phú. Thế giới ấy không lồ lộ dưới ánh sáng mặt trời, và ta không thể thấy được nó, càng không thể nhìn rõ nó, bằng cặp mắt lười biếng. Mỗi dòng chữ của Paustovsky nói với chúng ta một cái gì rất mới về cái thế giới không dễ thấy ấy. Tôi đọc mê mải, không biết rằng cơn bão tuyết đã lặng từ lâu, có lẽ từ nửa đêm, và khi tôi gập sách lại thì ánh bình minh màu trắng đục của riêng những chân trời phương Bắc đã tràn ngập khắp phòng. Ngọn đèn đêm vẫn cháy, nhưng ánh sáng màu xanh lơ của nó nhợt nhạt hẳn. Qua một đêm, tuyết đã xếp thành những vồng trắng mịn màng trên bậc cửa sổ. Tôi trở dậy, mở một cánh cửa, lặng ngắm những bông tuyết đang sà xuống. Chúng bay chậm, đung đưa trong gió nhẹ, rồi từ từ đậu xuống những đống tuyết lớn. Tôi chìa tay ra đón tuyết. Lúc đầu, tôi có cảm giác những bông tuyết lảng tránh tay tôi. Nhưng có những bông bạo dạn hơn đến gần, ngập ngừng trong giây lát, rồi mới nhẹ nhàng đáp xuống. Khi tôi thu tay về thì trong lòng bàn tay chỉ còn mấy vệt ướt: tuyết đã tan rồi. Trong khoảnh khắc ấy tôi chợt hiểu rằng tôi đã bỏ qua rất nhiều, nhiều lắm, cái đẹp trên những con đường mà tôi đã đi qua, tính cả về không gian lẫn thời gian. Cũng như trước cái đêm đáng nhớ ấy tôi đã không biết đến cái đẹp của những bông tuyết này, chỉ vì tôi không biết nhìn, chưa biết đến niềm mê say mà cái đẹp mang tới. Paustovsky chỉ cho tôi thấy cái mất mát ấy. Như một người bạn rất gần gụi với ta, như một người thân của ta, Paustovsky bước vào tâm hồn ta rồi ở lại đó, ông thủ thỉ với ta những chuyện tâm tình. Nghe xong những câu chuyện ấy, ta cảm thấy tâm hồn ta lớn thêm, rộng thêm, nhẹ hơn. * * * Văn của Paustovsky, cũng như sự tiếp nhận cuộc đời ở trong ông, những suy ngẫm của ông, mang một sắc thái đặc biệt. Lần đầu đọc Paustovsky, trong cái đêm bão tuyết không ngừng gào thét, tung băng bụi ra khắp nơi và trùm lên tất cả, khi ngọn đèn đêm tỏa ánh sáng nhè nhẹ mơ hồ lên những trang giấy, trong cái thời gian mung lung làm cho con người dễ đi vào mình hơn cả, tôi cảm thấy cuộc sống vụt ngưng lại, nhưng bên cạnh nó lại hiện ra một cuộc sống khác, với đầy đủ đường nét, màu sắc, âm thanh và tình người. Cuộc sống ấy rõ nét đến nỗi ta có thể nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy tất cả những gì thuộc về nó. Nhưng đồng thời nó cũng mơ hồ, huyền ảo, như một cái gì không thực, không dễ có thực, nhưng nó làm ta tin ngay rằng nó thật sự hiện hữu, sung sướng để mà tin. Bởi vì những cái đó đúng là có thực, nhưng lại là những cái, tiếc thay, ta không thể thấy được dễ dàng. Có lẽ, tôi đã nói điều mâu thuẫn. Nhưng, thú thật, tôi không biết diễn tả thế nào những cảm giác mới sinh mỗi lần đọc Paustovsky. Nguyễn Khải nói với tôi về Paustovsky thế này: “Hình như Paustovsky thích thả sương mù vào truyện của ông ta. Cái đó làm người đọc nhiều lúc tưởng những điều ông ta nói giống như những giấc mơ, để rồi sau khi suy nghĩ kỹ, mới tin là chúng có thật, lúc đó họ mới phát hiện rằng mình đã lớn thêm một chút trong tâm hồn”. Tôi thấy đó là một nhận xét xác đáng. Cái hư mà thực, thực mà hư trong Paustovsky là thế. Nói cách khác, trong văn ông thực hư lẫn lộn – trong thực có hư, trong hư có thực. Để làm được việc đó, nhà văn phải rất dày công nghiên cứu cuộc sống, nghiên cứu thật tỉ mỉ, đến chân tơ kẽ tóc, nhập tâm cuộc sống mà mình quan sát, rồi hòa mình vào nó, sống thực với nó. Đến khi ngồi vào bàn viết thì cuộc sống ấy đã thành của mình, còn hơn của mình nữa, vì nó được nghiên cứu, được suy ngẫm, để cuối cùng bật ra chỉ những đường nét chính, những màu sắc chính mà thôi. Đó là cuộc sống trong sự biểu đạt tiết kiệm, được đưa lên giấy chỉ những gì cần thiết nhất, tinh chất nhất, đẹp đẽ nhất. Cách biểu đạt này của Paustovsky giống phong cách làm việc của những họa sĩ Trung Hoa cổ trong trường phái quốc họa. Khác với bạn đồng nghiệp phương Tây, những họa sĩ quốc họa Trung Hoa không bao giờ làm phác thảo cho những bức tranh sẽ vẽ. Họ an nhiên sống trong đời, lặng lẽ quan sát nó, lặng lẽ thu nó vào lòng, nói cách khác, họ sống như mọi người, nhưng chăm chú quan sát cuộc sống đến mức thuộc lòng nó, chỉ đến lúc ấy họ mới nhả tinh chất của nó ra trên giấy trên lụa. Cuộc sống được biểu đạt theo cách ấy hiện ra ở những điểm tập trung nhất, dường như không còn lệ thuộc chủ đề. Những gì không cần thiết, những tạp chất, đều bị họ gạt bỏ không thương tiếc. Nhưng khoan, cũng không hẳn là thế. Bên cạnh những cái thuộc tinh chất ta lại bắt gặp những nét tưởng chừng chẳng có liên quan gì tới chủ đề, có vẻ như thừa. Nhưng thử bỏ những cái thừa ấy đi mà xem – tác phẩm sẽ mất đi vẻ đẹp mà ta đã được thấy. Tức là, chúng là những cái thừa cần thiết, những cái thừa có chọn lọc bằng vô thức, những cái thừa xét cho cùng là cố ý của tác giả. Thiếu những cái thừa đó văn hết là văn. Nó thành xác chết. Tôi sẽ không chứng minh điều này. Nó vô ích như khi ta cố chứng minh vẻ đẹp của một buổi bình minh chẳng hạn. Mà cũng đừng hoài công kể lại những truyện ngắn của Paustovsky. Chúng ta hãy thử nhớ lại “Chú Bé Chăn Bò”, “Gió Biển”, “Chuyến Xe Đêm”, “Người Đầu Bếp Già”… Liệu có thể kể lại những câu chuyện trong những truyện ngắn đó không nhỉ? Có người đã kể, kể rất hay, nhưng nghe xong, tôi nghĩ rằng sự mất mát trong câu chuyện được kể lại có thể tính bằng số bách phân là 90 phần trăm. Paustovsky có thể từ một chi tiết rất nhỏ mà dựng thành một truyện ngắn. Nhưng qua truyện ngắn đó ta được biết không phải một người – nhân vật chính – mà nhiều người, và hơn thế nữa, dấu vết của cả một khoảng thời gian. Cái “hư” trong văn Paustovsky có một đặc tính được nhiều người nhận xét. Dường như ông khám phá được trong tâm hồn ông, và trong tâm hồn người nói chung, sự ưa thích bản năng những cái không bình thường. Cho nên nói về cái bình thường bằng con đường tìm kiếm, lựa chọn để rồi đưa ra cái có vẻ không bình thường lại là con đường ngắn nhất của sự biểu đạt cái đẹp. Nhưng nếu cái không bình thường ấy quá xa lạ với trí tưởng tượng của người đọc thì cũng hỏng, người đọc sẽ đẩy nó ra và người viết thế là hoài công. Cần phải chọn cái không bình thường bình dị, nghĩa là cái có thể có, có thể xảy ra, dường như người đọc có thể thấy nó, nhưng do vô tình đã đi lướt qua nó, đi lướt qua cái đẹp, một cách hững hờ, và giờ đây, khi được nhà văn chỉ cho thấy, mới biết ra để mà nuối tiếc. Khả năng nhìn thấy cái không bình thường trong cái bình thường ở trong ông làm nên nét độc đáo của văn ông. Paustovsky thú nhận rằng khả năng đó bắt nguồn từ tính chuộng lạ vốn có trong ông từ thuở thiếu thời. Ông thuật lại: “Thế giới sặc sỡ của những cái lạ chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của tôi”. “Môn học mà tôi thích nhất ở trường trung học là môn địa lý. Môn này khẳng định với tôi rằng trên trái đất có những xứ sở kỳ lạ. Tôi biết rằng cuộc sống nghèo nàn và vất vưởng của gia đình tôi hồi ấy không thể cho phép tôi nhìn thấy những xứ sở ấy. Mơ ước của tôi không thể thực hiện được. Nhưng không phải vì thế mà nó chết dần chết mòn đâu”. “Tâm trạng tôi khi ấy có thể định nghĩa bằng hai từ: hào hứng và buồn rầu. Hào hứng trước cái thế giới mà mình tưởng tượng ra, buồn rầu vì không thể nhìn thấy nó. Hai cảm giác ấy chiếm thế thượng phong trong những vần thơ thuở thiếu thời của tôi và trong những tác phẩm văn xuôi đầu tiên còn non nớt của tôi”. “Những năm tháng qua đi và dần dần tôi rời bỏ tính chuộng lạ, vẻ diêm dúa, hương vị làm ta mê mẩn, chất bốc của nó và thái độ dửng dưng đối với con người bình dị, không có gì đáng chú ý. Nhưng trong một thời gian dài, trong những truyện dài và truyện ngắn của tôi vẫn cứ còn rơi rớt những sợi chỉ mạ vàng của nó.” Paustovsky kể rằng lần cắt đứt quyết liệt và cuối cùng với tính chuộng lạ ở trong ông xảy ra trong lần ông đi xem nhà chiếu hình vũ trụ Moskva. Cũng như mọi người, ông bị lóa mắt bởi sức sáng tạo của con người với những máy móc kỳ diệu đó. Ông ra về khi trời đã khuya. Một buổi tối tháng Mười với mùi lá rụng trên đường. Paustovsky ngẩng đầu lên. Ông bàng hoàng. Tưởng chừng ông được trông thấy,lần đầu tiên trong đời, một bầu trời thực sự – một bầu trời sống – với muôn vàn vì sao lấp lánh. “Và thế là tôi thấy tất cả những gì tôi viết từ trước tối hôm đó chỉ là giả tạo, hệt như cái nhà chiếu hình vũ trụ với những chòm sao giả của nó”. Sau đêm đó, ông vội vã hủy đi một số truyện ngắn quá diêm dúa và giả tạo mà trước kia ông thích thú. Tuy nhiên, không phải cái gì khác, mà chính lòng ham mê cái lạ trong buổi thiếu thời đã dạy cho ông biết cách nhìn thấy những nét đẹp, và hơn nữa, những nét hoàn toàn không dễ thấy đối với người khác, trong những sự vật tầm thường. Những nét đẹp đó chúng ta gặp luôn luôn trong những tác phẩm của ông, hầu như trên mỗi trang giấy. Chúng làm nên cái thần thái đặc sắc của văn ông. Ngay ở trong những truyện dài “Những Kẻ Lãng Mạn”, “Những Vầng Mây Lấp Lánh”, mà ông than phiền rằng trong đó tính chuộng lạ còn để lại nhiều dấu vết, chúng ta vẫn thấy những nét đẹp nhờ lòng ham mê tính chuộng lạ mà có. Có lẽ cái hại của tính chuộng lạ chỉ ở chỗ nó dễ làm người viết ham cái bề ngoài hào nhoáng mà quên mất cái bề trong còn đẹp hơn rất nhiều của cuộc sống. Về vấn đề này Paustovsky viết: “Tôi cho rằng một trong những đặc tính thuộc sáng tác văn xuôi của tôi là cái thần thái lãng mạn của chúng”… “Cái đó, tất nhiên, là chất riêng của từng người. Đòi hỏi người nào cũng vậy, nhất là nhà văn, phải từ bỏ cái thần thái ấy là lố bịch. Chỉ có dốt nát mới đi đòi hỏi như thế”… “Cái thần thái lãng mạn không hề sống chung dưới một mái nhà với sự quan tâm cấp thiết đối với cuộc sống “thô thiển” và tình yêu đối với cuộc sống ấy. Trong hết thảy lĩnh vực của thực tại và hoạt động của con người, trừ một vài trường hợp ngoại lệ, bao giờ cũng sẵn có những hạt giống lãng mạn… Vì không nhận thấy những hạt giống ấy, người ta có thể giày xéo lên chúng, nhưng cũng có thể ngược lại, tạo điều kiện cho chúng nở rộ, cho chúng lấy mùa hoa của mình làm cho thế giới bên trong của con người đẹp thêm, cao thượng hơn.” Ông phải bộc bạch tâm sự mình như thế, ông phải lớn tiếng bảo vệ phong cách lãng mạn trong văn học như thế là để tự vệ, để chống trả sức mạnh của trào lưu thời thượng “hiện thực xã hội chủ nghĩa” muốn áp đặt phong cách của nó như là một phong cách duy nhất cho nền văn học xô-viết. Paustovsky không rời con đường riêng mà ông đã chọn. Ông cho rằng nó hoàn toàn không có gì trái ngược với con đường chung của các nhà văn của bất kỳ nước nào, bất kỳ thời đại nào, là hướng tới và vẫy gọi mọi người cùng nhau hướng tới Cái Đẹp.3 Từ lâu Paustovsky đã có ý định viết một cuốn sách về nghề văn. Không phải một cuốn sách dạy viết văn, không phải thế, ông không có ý định dạy bảo ai, mà là một cuốn khảo cứu nghiêm túc nói về lao động đặc thù của những người cầm bút và vai trò của họ trong đời sống tinh thần của cộng đồng nhân loại. Trong bài “Thơ Của Văn Xuôi” đăng trong tạp chí “Ngọn Cờ” (Znamya) số ra tháng 9 năm 1953, ông viết rằng ý sáng tác một cuốn sách về nghề văn đã nảy ra trong ông ngay từ trước Thế chiến thứ hai. Ông đã bắt đầu, nhưng chiến tranh đã ngăn trở ông hoàn thành nó. Trong một thời gian hơn mười năm Paustovsky dạy nhiều khóa học văn xuôi tại Học viện văn học Gorky. Nhiều vấn đề có liên quan tới nghề văn và tâm lý sáng tác đã được đề cập. Vì các bài giảng của thầy, cũng như những lời phát biểu của trò, đều không được ghi lại, Paustovsky lấy làm tiếc, mới nảy ra ý tập hợp những tư liệu phong phú đó, bằng hình thức này hay hình thức khác, miễn sao chúng trở thành có ích cho những người viết văn, nhất là cho những người viết văn trẻ, và cho cả những ai yêu thích văn học. Mùa thu năm 1955, tại tỉnh Dubunty, một tỉnh nhỏ nằm bên bờ vịnh Riga, Paustovsky hoàn thành cuốn sách mà ông thai nghén từ lâu. “Bông Hồng Vàng” ra mắt bạn đọc lần đầu trong tạp chí “Tháng Mười”(Oktiabr). Trong bản dịch này, giống như trong nhiều bản dịch ở các nước khác mà tôi được biết (“Bông Hồng Vàng” đã được dịch ra nhiều thứ tiếng), tôi bỏ qua hai chương “Ngôn Ngữ Kim Cương” và “Những Cuốn Từ Điển”. Tác giả dành hai chương này cho việc nghiên cứu những nét độc đáo của tiếng Nga liên quan tới sự thể hiện văn học, xem xét nhiều mặt ngữ nghĩa, các gốc từ, âm hưởng, tiết tấu… của văn ngôn tiếng Nga. Tôi rất tiếc những chương này, nhưng tôi nghĩ không có cách nào truyền đạt cái đẹp thuần khiết của từ ngữ thuộc một ngôn ngữ này bằng những phương tiện không tương thích của một ngôn ngữ khác. Nói chung, trong khi dịch cuốn sách, cảm giác đuối sức là cảm giác tôi thường gặp. Thậm chí ở một vài đoạn tôi cảm thấy hoàn toàn bất lực. Ai cũng biết rằng dịch nếu không phải là phản thì cũng là một cái gì mất mát so với nguyên bản. Trong “Bông Hồng Vàng”, sự mất mát đó không phải là ít. Khi bản dịch hoàn tất, tôi mới hiểu rằng trong việc làm này của tôi chính tác giả đã giúp tôi rất nhiều. Bởi vì mỗi lần đọc đi đọc lại một đoạn văn khó, một hình ảnh đẹp được miêu tả một cách khác thường, cần phải tìm cách để truyền đạt cho tốt nhất, tôi lại phát hiện trong lòng mình một niềm vui, niềm vui này đã giúp tôi vượt qua những khó khăn. Bởi vì trong khi dịch “Bông Hồng Vàng”, tôi hiểu thêm được rất nhiều cái lao động nặng nhọc nhưng cao quý và vi tế tuyệt đẹp của nghề văn (nếu có thể coi nó là một nghề). Tôi sẽ sung sướng nếu qua bản dịch này những ý nghĩ tốt lành của tác giả tới được với bạn đọc. Bởi vì, sau hết, tôi rất yêu Paustovsky. VŨ THƯ HIÊN Mời các bạn đón đọc Bông Hồng Vàng của tác giả K. G. Paustovsky.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Thiên Thần
Thiên thần vẫn trụ chốn xưa, Động Tiên xịch mở, cánh vươn ngàn trùng Người ơi, duyên số lao lung, Huy hoàng muôn vẻ, nhớ nhung đời đời. FRANCIS THOMPSON *** Vài nét về Barbara Taylor Bradford Sinh ra ở Lees, Yorkshire, nước Anh. Năm 16 tuổi, bà làm phóng viên cho tờ The Yorkshire Evening Post. Đến năm 20 tuổi, bà là ký giả chuyên viết bình luận cho báo chí ở Luân Đôn. Năm 1979, bà viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên: Woman of Substance. Và tiếp theo là 7 cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất:Voice of the heart, Hold the dream, Act of Will, To be the best, The woman in his life, Remember và Angel. Phần lớn các tác phẩm của bà đã được thực hiện thành phim truyền hình nhiều tập. Các tác phẩm cửa bà đã được ấn hành 21 triệu bản tại Mỹ và 48 triệu bản bằng 34 thứ tiếng khác nhau trên toàn thế giới. Một số trong các tác phẩm nói trên của bà cũng đã được dịch ra tiếng Việt. Barbara Taylor Bradford hiện sống ở New York và Connecticut với chổng là ông Robert Bradord, một nhà sản xuất phim điện ảnh. Tác phẩm:   Thiên Thần Ba Tuần Ở Paris Chuyện Tình Như Huyền Thoại Tên Gọi Khác Của Tình Yêu Những Người Đàn Bà Trong Đời Anh Người Thừa Kế Khát Vọng Yêu Đương Đời Vẫn Đáng Sống Niềm Vui Chiến Thắng Nghị Lực Người Đàn Bà Em Thuộc Về Đâu Nhớ Người đàn bà đích thực ... Mời các bạn đón đọc Thiên Thần của tác giả Barbara Taylor Bradford.
Tôi và Em
Rồi một ngày kia, tôi được tạm trả tự do. Một chút tự do bấp bênh và tạm thời, vì tôi vẫn chưa được hoàn toàn tự do thực hiện được những điều tôi mơ ước, vì tôi vẫn chưa được nhìn thấy tự do đến cho tất cả mọi người. Hưởng vội đôi chúg khí trời thanh thản trong lành, vài ngày sung sướng an ủi không kéo dài lâu, hạnh phúc riêng tư chưa kịp biến thành hạnh phúc hội ngộ. Mây đen đã tan thành mưa, nhưng bầu trời đã kéo đầy thêm bóng tối đe dọa. Vì từ miền xa ấy, Mơ Nữ đã ngập ngừng báo cho tôi những điều phiền muộn đơn độc của em, mà từ lâu nay tôi không bao giờ ngờ đến: Đáng lẽ em không nên nói gì hết với anh Những chuyện không vui trong lúc đáng mừng này Nhưng em sợ anh hiểu lầm Nếu một ngày kia bỗng dưng thấy em tan biến Mất tích giữa dòng đời mất tích giữa đời anh Anh biết sao không Thứ hai vừa rồi em bị ngất xỉu Trong sân trường, và đây không phải là lần thứ nhất Cái bệnh quái quỉ của em đã bắt đầu tái phát Đó là điều duy nhất từ lâu em vẫn dấu diếm anh Và em vốn mắc bệnh đau tim từ hồi còn nhỏ Bệnh nan y tự trời sao em thật xui gánh phải Thỉnh thoảng tạm bớt nhưng không lúc nao dứt hẳn Trong cặp sách chứa đầy vở học và thư anh Lúc nào cũng sẵn sàng mang theo đủ thứ thuốc nhỏ Phòng khi gặp cơn kích ngất bất thình lình xỉu giữa đường. Tôi bàng hoàng giây lâu, rồi chợt nhớ lại lúc em ngồi bên tôi trong quán vắng nghe nhạc. Khi một bản sầu ca quá buồn bã vang lên, em đưa tay lên ngực như cố chặn một cơn đau nhói nào. Lúc ấy tôi đã hỏi nhưng em làm lơ mỉm cười không nói. *** Những ai đã từng trải qua những năm tháng trẻ tuổi sống tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975, không mấy ai không biết nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn. Ông là nhà văn nổi tiếng với những truyện ngắn viết cho tuổi ô mai, học trò vô cùng dễ thương, như các tác phẩm “Dường như là tình yêu”, “Cô bé treo mùng”, “Ở một nơi ai cũng quen nhau”, “Thư về đường Sơn Cúc”, “Hôn lễ”… Tin từ trong nước cho hay, nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, sau một thời gian bị bệnh ung thư đã từ trần lúc 14 giờ 50 phút ngày 9 tháng 7 năm 2005, hưởng dương 59 tuổi. Linh cữu quàn tại chùa Long Vân, 44 Trần Minh Quyền, phường 11, quận 10, Sài Gòn. Lễ di quan lúc 7 giờ ngày 12 tháng 7 năm 2005, hỏa táng tại Bình Hưng Hòa. Sau năm 1975 như nhiều trí thức khác của miền Nam, nhà văn đã phải làm rất nhiều công việc khác nhau để kiếm sống và viết báo là một nghề của Hoàng Ngọc Tuấn. Ông viết báo với các bút danh: Huấn Toàn, Nhị Ngọc, Mây Biếc… gần đây là Ngọc Nhị. Khoảng tháng 3 năm 2005, bệnh tình của nhà văn trở nặng và phải vào bệnh viện Chợ Rẫy điều trị. Ông không lập gia đình và vì thế hoàn cảnh của ông khi đau ốm rất thương tâm. Ðã có rất nhiều bằng hữu, mạnh thường quân cả trong nước lẫn hải ngoại giúp đỡ ông về tiền bạc, thuốc men nhưng ông không qua khỏi. Ðể hiểu rõ hơn về nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, mời quý độc giả xem bài viết của nhà thơ Nguyễn Ðạt, một bạn văn của Hoàng Ngọc Tuấn trên trang Việt Nam số báo ngày hôm nay.   Mời các bạn đón đọc Tôi và Em của tác giả Hoàng Ngọc Tuấn.
Tổ Ấm Nơi Tận Cùng Thế Giới
Câu chuyện được kể lại qua lời tự thuật của bốn nhân vật là Bobby, Jonathan, Clare và Alice. Bobby là một cậu bé lớn lên ở vùng ngoại ô của Cleveland, bang Ohio, trong thập kỷ 60 và 70, khi ma túy và tiệc tùng đang là mối quan tâm của giới thanh niên. Cậu đã phải chứng kiến cái chết thương tâm của người anh trai yêu quý trong một vụ tai nạn kỳ lạ ở trong nhà, và rồi sau đó là cái chết của bà mẹ. Không được nuôi dạy chu đáo, Bobby đã lớn lên cùng người cha tối ngày say xỉn và cậu mau chóng chìm đắm vào ma túy và âm nhạc. Sau đó, cậu kết bạn với Jonathan, một cậu bé xuất thân từ một gia đình có vẻ ngoài yên ấm nhưng lại có những lệch lạc về giới tính. Họ đã trở thành những người bạn rất thân và thậm chí còn cùng nhau trải qua những kinh nghiệm đầu đời về việc khám phá bản năng giới tính. Mẹ của Jonathan là Alice đã tình cờ phát hiện ra bí mật đó của hai cậu bé, và đã đặt ra một vật cản giữa họ bằng cách lôi kéo Bobby đến với việc làm bánh. Thời gian trôi đi, Jonathan đến New York học đại học, còn Bobby an phận với vai trò một thợ làm bánh ở Cleveland. Tình cảm của họ tưởng như đã lắng dịu qua năm tháng, cho đến khi Bobby đến New York sống cùng với Jonathan và người bạn sống chung nhà với cậu là Clare. Lúc này Jonathan đã trở thành một kẻ đồng tính công khai. Cậu mong muốn có chung một đứa con với Clare, người đã chán ngấy việc yêu đương và chỉ muốn làm một bà mẹ độc thân đơn thuần. Tuy nhiên, kế hoạch đó đã bị xáo trộn khi Bobby và Clare có quan hệ tình cảm với nhau, và trở thành tình nhân, dù cả hai người đều không rõ mình có thực sự yêu người kia không. Và rồi Clare mang thai. Và ba người họ đã cùng nhau nuôi dạy “đứa con chung” của mình trong một căn nhà ở nông thôn, nơi họ đã có những ngày tháng vui vẻ và hạnh phúc, và tạo ra một kiểu gia đình mới. Thế nhưng cuộc sống không chỉ đơn giản như vậy… Tổ ấm nơi tận cùng thế giới đã xuất sắc mô tả những mối quan hệ xúc động, mong manh của cuộc sống thị thành ngày nay. Một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời về tình yêu, tình thân, tình bạn, và tình người. Cuốn tiểu thuyết này đã được đạo diễn Michael Mayer dựng thành film năm 2004. *** Michael Cickyham là một tiểu thuyết gia và nhà biên kịch người Mỹ. Ông nổi tiếng với cuốn tiểu thuyết The Hour năm 1998, đã giành giải Pulitzer cho tiểu thuyết và giải thưởng PEN / Faulkner năm 1999. Cickyham là giảng viên cao cấp về văn bản sáng tạo tại Đại học Yale. Tác phẩm: Thời Khắc Tổ Ấm Nơi Tận Cùng Thế Giới Nữ Hoàng Băng Giá ... *** Tôi bước vào cuốn sách trong trạng thái của một kẻ say rượu, điên cuồng gặm nhấm sự si mê của nỗi cô đơn đến vắt kiệt tất cả các cảm giác của một con người còn đang sống. Tôi chìm vào trong đó như kiếm tìm, như bước theo, như vùng vẫy trong cái tổ ấm nơi tận cùng thế giới mà bản thân tôi cũng đang cần vô cùng, vô cùng. Lật giở từng trang của cuốn sách tôi đã bị cuốn vào một cõi bi thương, lập dị, bí hiểm và cũng tuyệt diệu nhất thế gian này. Nơi mà những kẻ cô đơn đã vùng vẫy và khao khát cháy bỏng có được sự yêu thương của một tổ ẩm thực sự. “Tổ ẩm nơi tận cùng thế giới” là nơi duy nhất khiến tôi có cảm giác của một tình yêu thương vĩ đại nhất thế gian này. Câu chuyện về ba người trẻ Bobby, Janathan, Clare là một câu chuyện khiến người đọc sững sờ trong những đau thương, tuyệt vọng, nghẹn ngào, mơ mộng, khao khát và hạnh phúc. Tất cả những xúc cảm ấy đều luôn được đẩy đến tận cùng của ranh giới mong manh của cuộc sống này. Bobby là một đứa trẻ lớn lên trong không gian ngập ngụa mùi bia rượu và sự ớn lạnh của những ám ảnh chết chóc, với một thứ âm nhạc u mê cay đắng bao trùm. Đen kịt. Quạnh đắng. Cuộc sống của cậu đã chìm ngâp trong một nỗi cô đơn kinh hoàng như bóng đêm. Cả cha, mẹ và anh trai đều chết – những cái chết uất nghẹn trong đớn đau và khổn khổ. Cuộc sống ấy đã dẫn lối cậu đến với cái khói mê hoặc của cần sa, như tìm kiếm sự lãng quên, như trốn chạy thực tại ủ ê và chán chường. Cuộc sống của cậu tưởng như mãi chìm trong những đêm tối nghiệt ngã ấy, nhưng rồi sự gặp gỡ với Jonathan đã khiến cậu khác đi. Tình cảm của hai gã đàn ông đơn côi giữa cuộc đời này lại khiến tôi cảm thấy trân trọng và cảm động. Cái cách họ yêu thương, quan tâm và chăm sóc đến cuộc sống của nhau đã khiến tôi nghĩ đến một mối tình đồng tính tuyệt đẹp. Nhưng rồi, cuộc sống của họ cũng thay đổi khi Jonathan lên thành phố học đại học.  Cuộc gặp gỡ giữ Jonathan, Bobby và Clare chính là một diều đặc biệt, và là cái duyên cớ để câu chuyện cuốn hút hơn đối với bản thân tôi. Tôi chìm đắm trong những ngỡ ngàng về tình cảm con người mà tác giả đã cố gắng xây dựng nên trong “Tổ ấm nơi tận cùng thế giới”. Jonathan đã thực sự thừa nhận chuyện anh là người đồng tính nhưng anh vẫn luôn khao khát có một đứa con với Clare. Nhưng rồi Clare và người bạn thân yêu Bobby của anh lại nảy sinh tình cảm với nhau. Họ đã trở thành tình nhân của nhau và có với nhau một đứa con. Điều đó đáng ra đã chẳng khiến tôi ngạc nhiên và cũng không làm cho câu chuyện hấp dẫn hơn, nhưng điều thực sự đã làm tâm hồn tôi phải cảm động trong một sự day dứt vô cùng đó chính là niềm hạnh phúc bao dung của cả ba con người ấy. Cả Jonathan, Bobby và Clare đã quyết định sẽ cùng sống chung với nhau và cùng nhau đợi chờ đến ngày đứa trẻ ra đời. Khoảnh khắc gần gũi của ba kẻ cô đơn trong cuộc đời này đã khiến tôi ngỡ ngàng, vì một tổ ấm lạ lẫm, nhưng vẫn là một tổ ấm thực sự và duy nhất với họ ở thế giới này. Một tổ ấm nơi tận cùng của những đau đớn, hạnh phúc và hi vọng. Tổ ấm của họ có ba người lớn đã từng trải qua những khốn khổ nhất của cõi đời, và một đứa trẻ mới sinh đáng yêu, trong veo nhất thế giới. Tôi đã khóc rất nhiều khi đọc từng trang, từng trang sách của “Tổ ấm nơi tận cùng thế giới” và chứng kiến cuộc sống của những con người được xem là kì dị trong thế giới người nhộn nhạo này. Hạnh phúc của họ mong manh như sương khói, và rồi dễ tan biến đi mất dù họ khao khát và cố gắng níu giữ, nhưng rồi khi câu chuyện kết thúc, tổ ấm ấy đã khuyết thiếu và mất mát. Kết thúc câu chuyện, các nhân vật đáng thương ấy vẫn vùng vẫy trong niềm cô đơn, chới với và níu kéo cuộc sống với sức lực kiệt cùng khiến tôi tâm hồn tôi nặng trịch và day dứt khôn nguôi. Khi gập trang cuối cùng của cuốn sách lại, tôi lục tung đống băng đĩa của mình để tìm âm nhạc. Tôi thèm khát một thứ âm khiến tôi trải nghiệm những cảm giác u ám, cô đơn và hạnh phúc này, giống như những nhân vật trong truyện. Vậy là tôi nằm im lìm, và mở Gun’n Rose. Âm nhạc chảy trôi vào trái tim tôi nghẹn ngào bật thành những giọt hình cầu mặn chát, và khiến những nhân vật của “Tổ ấm nơi tận cùng thế giới” trở về trong tôi rõ ràng đến từng nét cười. Tôi đã nằm như thế suốt cả một buổi chiều với đôi mắt chẳng thể nhắm lại. Phải mất khá lâu sau tôi mới có thể viết lại được những dòng chữ cảm nhận về cuốn sách này khi cảm xúc đã dần lắng lại. Một cuốn sách thực sự khiến tôi phải nhớ. Và người viết nên câu chuyện ấy thực sự làm tôi khâm phục, biết ơn vì những cảm giác mà ông đã khiến tôi cùng tất cả những người đọc như tôi phải trải nghiệm trong cuộc sống này. Tôi xin thay lời kết bằng một nhận định của nhà phê bình Sherry Rosenthal dành tặng cho “Tổ ấm nơi tận cùng thế giới”: “Lâu lắm rồi mới xuất hiện một cuốn tiểu thuyết quá lôi cuốn bởi vẻ đẹp và sự nhạy cảm đến mức độc giả ngấu nghiến nó gần như hoàn toàn, với một vẻ vô cùng háo hức, để rồi sau đó cảm nhận nỗi đau dai dẳng, khôn nguôi”... THỤY   Mời các bạn đón đọc Tổ Ấm Nơi Tận Cùng Thế Giới của tác giả Michael Cunningham.
Những Người Tình Cô Đơn Kỳ Lạ Của Tôi
"Tôi" ở đầu truyện chỉ là một cô sinh viên bình thường, ngoan ngoãn với những suy ngẫm về tình cảm gia đình với đứa em trai và bố, mẹ cô đã ra đi sau khi họ li dị, về tình bạn với Tee - cô bạn có những nét đồng cảm đã gắn bó với cô suốt thời thơ ấu. 21 tuổi, cô đã quyết định dọn ra ở riêng với Tee để tìm kiếm cuộc sống tự do của một người trưởng thành, và từ đó những câu chuyện kỳ lạ xảy ra: những mối quan hệ, những câu chuyện tình, những ám ảnh...Càng đi sâu hơn bạn sẽ càng trải nghiệm những cảm xúc mạnh mẽ và thực sự "kì lạ", chúng sẽ cuốn bạn đi mặc dù bản thân bạn không ý thức được điều đó. Những ngày đầu trong cuộc sống riêng của "tôi" cùng Tee trôi đi, cũng như những con người khác ở lứa tuổi đó, họ cùng nhau chia sẻ việc học hành, gia đình... sự thân thiết giữa họ chỉ có thể lí giải bằng một sợi dây vô hình nào đó. Cho đến khi họ gặp Chi Ngắn tại một lớp tiếng Trung, anh chàng này bước vào cuộc sống của họ rất tự nhiên. Sau một lần ba người họ - tôi, Tee, Chi Ngắn đi chơi, "tôi" thức dậy trong một căn phòng hết sức kỳ lạ, có phần quái dị "...thằn lằn hàng trăm con đủ màu ở đâu kéo nhau chui ra...chúng nằm đè lên nhau, chúng đang làm tình. Thứ nước màu vàng tuột ra từ những thân hình lắc lư cuồng dại của chúng... Vô số những con gián màu da cam đầu và râu trắng ởn đang xòe cánh đập toán loạn,... dường như chúng đang mắc kẹt, có vẻ gì đó hốt hoảng, đau đớn...". Điều khó tin hơn nữa là Chi Ngắn và Tee hoàn toàn biến mất. Cảm giác cô đơn, lo lắng, sợ hãi và bị phản bội xâm chiếm "tôi" mà cô không thể giải thích. "Tôi" còn có một mối quan hệ kỳ lạ với Taurus - người hấp dẫn "tôi" ngay từ lần gặp đầu tiên. Chàng trai này xuất hiện một cách bất ngờ, ngay cả đến nhân vật chính của chúng ta còn không ngờ được có người thu hút cô từ những hành động ban đầu ấy. Tình cảm của cô dành cho Taurus ngày một lớn hơn cũng là lúc cô nhận được những lời cảnh báo từ Tee về những chuyện cô ấy đang phải trải qua, về sự biến mất khó hiểu của bạn và một ngày nào đó cô sẽ phải đứng trước sự lựa chọn. Liệu điều gì sẽ đến với nhân vật chính, cô sẽ lựa chọn ra sao, sống yên ổn chờ đợi Tee trở về hay chủ động đi tìm tình yêu của mình?, Có sự liên quan nào giữa những con người kỳ bí đó: Taurus, Chi Ngắn và họ có sự liên hệ nào tới hình ảnh của căn phòng "quái dị" với những con thằn lằn và gián kia? Bạn sẽ cùng nhân vật chính trải nghiệm trong "Những người tình cô đơn kỳ lạ của tôi". Với cách dẫn dắt truyện nhẹ nhàng, lối văn không quá cầu kì bạn dần dần bị ngấm vào cốt truyện ấy. Không phải tất cả đều có cùng một cảm nhận, rút ra được cùng một ý nghĩa khi đọc xong cuốn sách này. Hãy đọc và bạn sẽ tìm ra được ý nghĩa của riêng mình trong câu chuyện này. *** Tôi không gặp lại Taurus từ đêm hôm ấy. Đôi khi, vào những đêm dài mất ngủ, tôi vẫn thoáng nhìn thấy vài hạt bụi nhỏ li ti lấp lánh buồn bã trong đáy ly rượu vang gần cạn của mình. Có thể anh ấy đúng. Tất cả đã quá muộn. Madame J cũng biến mất, như chưa hề tồn tại trong thế giới mà tôi từng biết. Sau vài lần tìm cách liên lạc với cô, tôi buộc phải thừa nhận sự biến mất sạch sẽ ấy. Văn phòng đại diện, điện thoại, địa chỉ email. Tất cả đều câm lặng. Trong những giấc mơ cũ kỹ của mình, tôi vẫn thấy cô, với dáng vẻ trễ nải thường thấy, nằm sưởi nắng dưới những cái ô trắng tinh dọc hiên nhà trong ngôi biệt thự trắng. Để rồi thứ tình cảm nồng ấm gần gũi hoàn hảo của cô lại ôm ấp tôi suốt những ngày dài sau đó. Chúng ta đã đều có sự lựa chọn của mình. Những lựa chọn khiến đường ray cuộc đời chúng ta bẻ sang một hướng khác. Như những con tàu chạy trên những đường ray song song, có thể nhìn thấu nhưng không còn có thể gặp nhau. Một buổi sáng đầu hè ấm áp, khi cái nắng mới lên khiến thứ không khí ẩm ướt còn vương lại từ cuối mùa xuân tan biến, tôi bị đánh thức bởi tiếng mở cửa lách cách, tiếng cái khóa rơi đến choang xuống nền nhà lát gạch, tiếng một ai đó rất quen làu bàu khi xô vào cánh cửa. Tee kéo lê cái vali màu đỏ sẫm đầy bụi của mình vào tận giữa nhà, chống nạnh, nheo mắt nhìn tôi dưới cái mũ lưỡi trai. - Giờ này còn ngủ. Bạn về mà không thèm chui ra khỏi giường tiếp đón. Tôi bật dậy, dụi nhẹ vào đầu mũi cay cay của mình, cười xuề xòa. - Về rồi đấy à? - Ừ, cuối cùng thì cũng về rồi đấy. Hai đứa ôm lấy nhau, bật khóc. Nắng trải từng viên lấp lánh xuống sàn nhà. Mời các bạn đón đọc Những Người Tình Cô Đơn Kỳ Lạ Của Tôi của tác giả An Hạ.