Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Gọi Em Bằng Tên Anh

Gọi em bằng tên anh là câu chuyện tình yêu bất ngờ và mạnh mẽ nảy nở giữa thiếu niên 17 tuổi tên Elio với Oliver, một học giả Mỹ là khách trọ mùa hè ở căn biệt thự của ba mẹ Elio tại vùng duyên hải Riviera nước Ý thập niên 1980. Trong những tuần mùa hè sôi động ấy, dòng chảy cuồn cuộn ám ảnh và đam mê bị kìm nén càng làm mãnh liệt thêm tình yêu giữa hai chàng trai trẻ. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của André Aciman là một khúc bi ca chân thành và cảm động dành cho tình yêu con người. Một cuốn sách không thể nào quên. *** André Aciman sinh ngày 2 tháng 1 năm 1951) là một nhà văn người Mỹ. Sinh ra và lớn lên ở Alexandria, Ai Cập, ông hiện là giáo sư nổi tiếng tại Đại học Trung tâm Đại học Thành phố New York, nơi ông dạy lịch sử của các lý thuyết văn học và các tác phẩm của Marcel Proust. Aciman trước đây đã từng dạy viết văn bản sáng tạo tại Đại học New York và văn học Pháp tại Princeton và Bard College. Năm 2009, ông là nhà văn đặc biệt tại Đại học Wesley. Ông là tác giả của một số tiểu thuyết, bao gồm cả Call Me by Your Name (chiến thắng trong hạng mục Gay Fiction tại Lambda Literary Award 2007) và một hồi ký năm 1995, Out of Egypt, đoạt giải Whiting Award. Mặc dù ông được biết đến nhiều nhất với tác phẩm Call Me by Your Name, nhưng Aciman đã tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2019, cuốn sách hay nhất của ông là cuốn tiểu thuyết Eight White Nights. Aciman được sinh ra ở Alexandria, Ai Cập, con trai của Regine và Henri N. Aciman, người sở hữu một nhà máy dệt kim. Mẹ của ông ấy bị điếc. Aciman đã lớn lên trong một gia đình nói tiếng Pháp, nơi các thành viên gia đình cũng thường nói tiếng Hy Lạp, tiếng Anh, và tiếng Ả-Rập. Cha mẹ ông là người Do Thái Sephardic, có nguồn gốc Thổ Nhĩ Kỳ và Ý, từ những gia đình đã định cư tại Alexandria vào năm 1905. Là thành viên của một trong những Mutamassirun ("nước") cộng đồng của mình, các thành viên trong gia đình của ông ấy đã không thể trở thành công dân Ai Cập. Như một đứa trẻ, Aciman nhầm lẫn tin rằng ông là một công dân Pháp. Ông đã đi học trường của Anh tại Ai Cập.[cần dẫn nguồn] Gia đình ông đã thoát khỏi cuộc di cư và những lần trục xuất từ ​​Ai Cập những năm 1956–57. Tuy nhiên, căng thẳng gia tăng với Israel dưới Tổng thống Gamal Abdel Nasser đưa người do Thái trong một vị trí bấp bênh và gia đình của ông ấy đã rời khỏi Ai Cập chín năm sau đó vào năm 1965. Sau khi cha ông có quốc tịch Ý cho gia đình, Aciman chuyển đến sống với mẹ và anh trai của mình như những người tị nạn đến Rome trong khi cha ông chuyển đến Paris. Ông ta nhận được một B.A. bằng tiếng Anh và Văn học so sánh từ trường Lehman College năm 1973, và bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ về Văn học so sánh của Đại học Harvard năm 1988. *** “Gặp sau!” Hai chữ đó, giọng nói đó, thái độ đó. Trước giờ, tôi chưa từng nghe ai dùng hai chữ “gặp sau” để tạm biệt. Nó có vẻ khắc nghiệt, cụt lủn, xua đuổi, thốt lên với sự bất cần ẩn giấu của những người không quan tâm là sẽ gặp lại hoặc nghe tin về ta nữa hay không. Đó là điều đầu tiên tôi nhớ về anh, và đến tận hôm nay tôi vẫn còn nghe câu đó. Gặp sau! Tôi nhắm mắt, nói câu đó, và trở lại nước Ý vào nhiều năm trước, bước dọc con lộ rợp bóng cây, nhìn anh xuống xe taxi, áo sơ-mi xanh dương thùng thình, cổ áo rộng phanh ra, kính râm, mũ rơm, chỗ nào cũng thấy da Đột nhiên anh bắt tay tôi, dúi vào tôi cái ba-lô, lấy va-li ra khỏi cốp xe, hỏi bố tôi có nhà không. Có thể chuyện đã bắt đầu ở ngay nơi đó, ngay lúc đó: cái áo, tay áo xắn lên, đôi gót chân tròn của anh thụt ra thụt vào đôi giày vải bạt đã sờn, háo hức muốn thử đi vào lối sỏi dẫn tới ngôi nhà của chúng tôi, vừa bước đi đã vội hỏi, Đường nào ra bãi biển? Một anh khách trọ hè. Lại thêm một nỗi chán. Rồi gần như không nghĩ ngợi gì, lưng anh đã quay sang chiếc xe, anh vẫy bàn tay đang rảnh và thốt một câu vô tư Gặp sau! với người hành khách khác trong chiếc xe, rất có thể người này đã chia tiền cuốc xe từ ga tới. Không thêm tên tiếc hay lời đùa bỡn gì để làm dịu đi cái sự chia ly xáo động, không gì cả. Hai chữ tống tiễn của anh nhanh nhảu, bạo dạn, và cụt lủn – ta có nói gì đáp lại anh cũng chẳng cần. Bạn thấy đó, tôi nghĩ đây sẽ là cách anh tạm biệt chúng tôi khi tới lúc. Sẽ là hai chữ Gặp sau! ẩu tả, cộc cằn. Từ giờ tới đó là sáu tuần lễ, chúng tôi sẽ phải chịu đựng anh ta. Tôi thật là khiếp sợ. Loại sợ không cắt nghĩa được. Dẫu vậy, tôi có thể học cách thích anh ta. Từ cái cằm tròn trịa cho tới cái gót cũng tròn trịa. Rồi sau vài ngày, tôi sẽ học cách ghét anh ta. Đây, chính con người có bức ảnh trên tờ đơn đăng ký vài tháng trước đã hiện ra cùng bao nhiêu hứa hẹn cho những mối thân tình chớp nhoáng. Nhận khách trọ hè là cách bố mẹ tôi giúp các giảng viên đại học trẻ chỉnh sửa bản thảo trước khi xuất bản. Cứ sáu tuần mỗi mùa hè, tôi phải dọn trống phòng ngủ của mình, chuyển xuống căn phòng kế dọc hành lang, căn phòng này nhỏ hơn, xưa là của ông tôi. Trong những tháng mùa đông, khi chúng tôi ở thành phố, nó trở thành căn phòng kho tạm, phòng trữ đồ, cũng như phòng áp mái, nơi có tin đồn là người ông có cùng tên với tôi vẫn nghiến răng trong giấc ngủ vĩnh hằng. Khách trọ hè chẳng phải trả tiền bạc gì, được hưởng mọi thứ trong nhà, và về cơ bản thì được làm bất cứ gì họ ưng, miễn là họ dành chừng một giờ mỗi ngày để giúp ba tôi viết thư từ, và giấy tờ nhiều loại. Họ trở thành người nhà, và sau mười lăm năm như vậy, chúng tôi đã quen với từng cơn mưa bưu thiếp và quà cáp không chỉ vào mùa Giáng sinh mà trải dài suốt năm từ những con người giờ đây hết lòng tận tụy với gia đình tôi, và sẵn sàng đi chệch khỏi lộ trình châu Âu của họ để cùng gia đình mình tạt qua B. một hai ngày, và hồi tưởng về nơi ăn chốn ở xưa. Lúc dùng bữa thường có hai hoặc ba vị khách khác, có khi là láng giềng hoặc họ hàng, có khi là đồng nghiệp, luật sư, bác sĩ, những kẻ giàu có và nổi danh ghé tới thăm ba tôi khi trên đường tới nhà nghỉ hè của riêng họ. Thậm chí đôi lúc chúng tôi đón mời một cặp đôi khách du lịch vãng lai vào phòng ăn gia đình, những người này đã nghe nói về căn biệt thự cũ xưa, và đơn giản chỉ muốn ghé qua xem chơi, họ rất đỗi thích thú khi được mời dùng bữa cùng chúng tôi, kể chúng tôi nghe về họ, trong khi dì Mafalda dù được báo vào phút chót vẫn dọn ra những món thường lệ của dì. Ba tôi, một người kín đáo và rụt rè khi một mình, thích nhất là có vài chuyên gia danh giá đang nổi lên trong lĩnh vực nào đó giúp chuyện vãn bằng vài thứ tiếng, trong khi mặt trời hè nóng rẫy cùng một vài ly vang ngọt rosatello1 đẩy con người rơi vào trạng thái lờ đờ khó tránh khỏi. Chúng tôi gọi phần việc đó là chuyện nhàm sau bữa chiều – và qua một dạo, hầu hết các vị khách sáu tuần của chúng tôi cũng vậy. Có lẽ chuyện bắt đầu không lâu sau khi anh tới, ngay giữa một trong những bữa ăn trưa thê thảm đó. Anh ngồi xuống cạnh tôi, và rốt cuộc tôi nhận ra rằng, dù làn da anh có hơi rám nắng sau ít ngày ở Sicily mùa hè đó, màu da lòng bàn tay anh cũng xanh xao, mỏng mảnh như làn da ở lòng bàn chân, hầu, dưới cánh tay – những chỗ này không bị phơi ra nắng nhiều, gần như màu hồng nhạt, lấp lánh và trơn láng như bụng thằn lằn. Kín đáo, trong sáng, non tơ, giống như màu ửng hồng trên gương mặt một vận động viên hoặc thoáng bình minh sau một đêm giông bão. Bấy nhiêu cho tôi biết nhiều điều về anh mà tôi sẽ chẳng biết hỏi thế nào. Có lẽ chuyện bắt đầu trong những giờ bất tận sau buổi ăn trưa, lúc mọi người thơ thẩn trong những bộ đồ tắm cả bên trong và ngoài ngôi nhà, thân thể nằm ườn ra khắp nơi, giết thì giờ cho tới khi ai đó rốt cuộc đề nghị chúng tôi xuống chỗ rặng đá để bơi. Họ hàng, anh em họ, láng giềng, bạn, bạn của bạn, đồng nghiệp hoặc đơn giản là bất kỳ ai gõ cửa nhà chúng tôi rồi hỏi mượn sân quần vợt – ai ai cũng được chào mời vào thơ thẩn và bơi và ăn và được dùng cả căn nhà nghỉ, nếu họ ở lại đủ lâu. Hay có lẽ chuyện bắt đầu trên bãi biển. Hoặc ở sân quần vợt. Hoặc trong lúc chúng tôi đi bộ cùng nhau lần đầu vào cái ngày đầu tiên, lúc tôi được nhờ dẫn anh đi xem nhà và chung quanh, và việc này dẫn tới việc kia, tôi đã đưa anh qua cánh cổng bằng sắt rèn cũ xưa đến tận bãi trống bát ngát ở khu đất heo hút gần với dọc đường ray xe lửa bỏ hoang từng nối B. với N. “Đâu đây có một nhà ga bỏ hoang à?” Anh hỏi, nhìn qua tán cây dưới ánh mặt trời bỏng rát, có thể là đang tìm chuyện để hỏi con trai chủ nhà. “Không, chưa từng có nhà ga nào cả. Con tàu đơn giản chỉ dừng lại thôi.” Anh tò mò về con tàu; vì đường ray có vẻ hẹp quá. Tôi giải thích rằng đó là con tàu hai toa có phù hiệu hoàng gia. Bây giờ đám du mục gypsy sống trong đó. Từ hồi mẹ tôi còn con gái tới đây nghỉ hè thì họ đã sống vậy rồi. Mấy người đó kéo các toa tàu vào sâu trong đất liền. Anh có muốn xem toa tàu không? “Có lẽ để sau.” Thái độ dửng dưng lịch sự, cứ như anh nhận thấy lòng sốt sắng sai chỗ của tôi nhằm làm vui lòng anh, và đẩy tôi ra xa một cách ngắn gọn. Nhưng tôi lại đau ... Mời các bạn đón đọc Gọi Em Bằng Tên Anh của tác giả André Aciman.

Nguồn: dtv-ebook.com

Đọc Sách

The Penniless Peer - Barbara Cartland
Nàng thiếu nữ tóc đỏ duyên dáng Fenella Lambert hằng yêu người anh họ đẹp trai từ thuở ấu thơ. Khi Lord Perequine Corbury từ trận chiến đánh quân của Napoleon trở về, chàng đã lâm vào hoàn cảnh chật vật túng thiếu. Chính nàng là người đề ra 1 giải pháp táo bạo giúp chàng khôi phục toàn bộ gia sản – dù rằng đáp án là người mình yêu sẽ đám cưới với người đàn bà khác. Cùng với Perequine, Fenella đã lao vào cuộc phiêu lưu đầy dẫy hiểm nguy hơn bao giờ hết … *** Barbara Cartland tên đầy đủ là Maria Barbara Cartland Hamilton sinh ngày 9/7/1901 là một nhà văn người Anh. Bà được coi là một trong những cây bút sáng tác mạnh mẽ nhất của thế kỷ 20 và luôn có tên trong sách kỷ lục Guinness như một trong những nhà văn xuất bản nhiều tác phẩm nhất trong một năm. Sự nổi tiếng của bà gắn liền với những cuốn tiểu thuyết lãng mạn hư cấu dưới bút danh Barbara Cartland, ngoài ra bà cũng sáng tác dưới bút danh sau khi đã lập gia đình là Barbara McCorquodale. Ước tính lượng sách bán được lên đến hơn một tỷ bản đã khiến bà trở thành một trong những biểu tượng xã hội của thành phố London cũng như một trong những nhân vật được giới truyền thông Anh săn đón nhiều nhất. Điểm đặc trưng nhất trong phong cách của Barbara Cartland là đoạn kết với tuyên ngôn tình yêu sẽ chinh phục mọi thử thách. "Những nhân vật nữ chính luôn là chìa khóa trong mọi tình huống. Họ là những phụ nữ độc lập, thông minh và tự tin vào bản thân. Barbara Cartland đã tạo ra sức hấp dẫn cho những câu chuyện bà kể bằng công thức vô cùng đơn giản: Luôn là một kết thúc có hậu nhưng trong suốt chiều dài câu chuyện người đọc lại luôn bị thu hút bởi ý nghĩ liệu nút thắt có bao giờ được cởi bỏ thành công" – Miller nói. Trong suốt sự nghiệp của mình Barbara Cartland đã viết khoảng 723 cuốn sách được dịch sang 38 ngôn ngữ. Quãng thời gian sáng tác dồi dào nhất của bà phải kể đến 650 tiểu thuyết lãng mạn được viết trong 20 năm cuối đời. Ngày 21/5/2000 bà qua đời ở tuổi 98 sau khi hoàn thành cuốn tiểu thuyết cuối cùng chỉ một năm trước đó. *** Lord Corbury lái xe đến Brighton vào lúc xế chiều. Cỗ xe 4 ngựa được điều khiển khéo léo thu hút bao ánh mắt ngưỡng mộ của khách bộ hành. Anh rất ngạc nhiên khi thấy cả đội ngựa tuyệt hảo màu hạt dẻ trong tàu ngựa của biệt thự Corbury, những chú ngựa tuyển này chắc chắn sẽ làm bạn bè anh lác mắt. Lord Corbury cho xe dừng lại trước 1 khách sạn trên đường Marine Parade và yêu cầu 1 phòng lớn. Với cung cách uy nghi đĩnh đạc anh được tiếp đón long trọng bằng 1 căn phòng từng dành riêng cho bá tước của Dorchester. Thay đổi y phục xong, Lord Corbury đến nhà Lord Farquhar tọa lạc trên đường Stein và yêu cầu được gặp Fenella. Anh được mời vào phòng đọc sách ở tầng trệt, và người ra tiếp anh là Lord Farquhar. -Thật là ngạc nhiên đó, Periquine. Ông cười nói vui vẻ. “Chúng tôi không nghĩ là cháu xuống miền nam sớm thế.” -Cháu có thể gặp Fenella không? Lord Corbury nói thẳng mục đích của mình đến đây, không muốn làm lạc hướng câu chuyện. -Fenella đang nghỉ trên lầu. Chúng tôi sẽ ăn tối với Thái tử tại dinh của ngài, vì thế con bé cần nghỉ ngơi chuẩn bị cho buổi tối này. ... Mời các bạn đón đọc The Penniless Peer của tác giả Barbara Cartland.
Đàn Hương Hình - Mạc Ngôn
Đây là cuốn tiểu thuyết thứ hai do dịch giả Trần Đình Hiến thực hiện sau "Báu vật của đời". Ông đang theo đuổi một loạt truyện của nhà văn hiện đại Trung Quốc Mạc Ngôn. Dưới đây là cuộc trao đổi của ông với báo giới. Đàn hương hình là bộ tiểu thuyết lịch sử được Mạc Ngôn viết trong suốt 5 năm, từ 1996 đến 2001. Tác phẩm được phát triển trên một vở hý kịch cùng tên gồm 9 cảnh vốn có từ thời cuối Thanh và đầu Trung Hoa Dân quốc. Tác phẩm có một kết cấu khá lạ với 3 phần: Đầu phụng, bụng heo và đuôi beo. Một kết cấu và phương thức mà nói như chính tác giả trong phần viết thêm là: "Mỗi chương của phần đầu phụng và đuôi beo đều dùng phương thức nhân vật tự thuật. Phần bụng heo, bề ngoài tưởng như từ một góc độ nào đó nhìn vào mà viết, thực ra là ghi lại phương thức truyền miệng trong dân gian và phương thức ca vịnh để thuật lại một thời kỳ lịch sử có tính truyền kỳ.  Đàn hương là một loại gỗ rất cứng, được dùng để làm kiếm. Giết người bằng kiếm đàn hương có thể nói là một trong những hình thức man rợ và tàn khốc nhất từng được biết đến trong lịch sử Trung Quốc. Người ta đã luồn kiếm ngược từ hậu môn ra đến đằng miệng phạm nhân. Đây chính là hình phạt đã được áp dụng cho nhân vật chính của tác phẩm là Tôn Bính - một ông bầu của gánh hát Miêu Xoang nổi tiếng trong vùng, đồng thời là thủ lĩnh của phong trào khởi nghĩa nông dân vùng Cao Mật chống lại sự đàn áp của phát xít Đức vào năm 1900, khi chúng làm đường sắt xuyên qua vùng này. Ngoài hình phạt dã man nói trên, còn 3 cái án tàn khốc khác, do phát xít Đức và tên tay sai phản động của triều đình Mãn Thanh là Viên Thế Khải thực hiện. *** Mạc Ngôn tên thật là Quản Mạc Nghiệp, sinh năm 1955 tại Cao Mật tỉnh Sơn Đông. Là tác giả tạo nên cơn sốt văn học Trung Quốc tại Việt Nam thông qua một loạt các tiểu thuyết được chuyển ngữ và xuất bản từ thập kỷ trước như Cao lương đỏ, Báu vật của đời, Đàn hương hình, Cây tỏi nổi giận… Mạc Ngôn đã để lại dấn ấn sâu đậm trong lòng độc giả bởi tài năng văn chương không thể phủ nhận. Giải thưởng Nobel Văn học năm 2012 một lần nữa khẳng định địa vị quan trọng của Mạc Ngôn trong nền văn học thế kỷ 20 của Trung Quốc nói riêng và thế giới nói chung. Tác phẩm chính Báu vật của đời, nguyên tác: Phong nhũ phì đồn (丰乳肥臀), (1995) Cao lương đỏ, nguyên tác: Hồng cao lương gia tộc (红高粱家族), (1998) Đàn hương hình (檀香刑). Cây tỏi nổi giận (Bài ca củ tỏi Thiên Đường) Củ cải đỏ trong suốt. Rừng xanh lá đỏ (Rừng vẹt) Tửu quốc (Rượu chảy như suối) Châu chấu đỏ. Tổ tiên có màng chân Con Đường Nước Mắt Hoan Lạc Bạch Miên Hoa Trâu Thiến Sống Đọa Thác Đày Người Tỉnh Nói Chuyện Mộng Du Khác Ma chiến hữu, nguyên tác: Chiến hữu trùng phùng (战友重逢), (2004), một tác phẩm đề cập đến lính Trung Quốc hy sinh trong Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979. Giải thưởng Giải nhất về tiểu thuyết của Hội Nhà văn Trung Quốc, tháng 12/1995 cho truyện "Báu vật của đời". Giải Mao Thuẫn cho tác phẩm Đàn hương hình Giải Nobel Văn học năm 2012. *** Mi Nương, Mi Nương, nàng cho ta những phút mê hồn… Nàng lõa lồ ngọc thể, đầu đội tấm da mèo nhỏ, lăn đi lăn lại trên giường ta, lăn tới lăn lui trên người ta. Nàng vuốt một cái, khuôn mặt lập tức biến thành mặt mèo xinh xinh, hiếu động. Qua cơ thể nàng, ta nhận ra rằng, trên đời này không động vật nào mềm mại bằng giống mèo… Lưỡi hồng hồng liếm khắp người ta, cho ta lên tiên cho ta chết ngột… Ta chỉ muốn ngậm nàng trong miệng… Nghĩa miêu mặc áo miêu rộng thùng thình, trong tiếng thanh la tiếng trống, chạy ra sân khấu như một trận cuồng phong, thổi dạt màn đêm phong tình về phía sau. Anh ta nhón chân lượn mấy vòng rất đẹp, rồi ngồi xệp giữa sân diễn, cất giọng tự bạch: Mỗ đây Miêu chủ Tôn Bính, thuở thiếu thời đã học Miêu Xoang, cùng gánh hát đi khắp bốn phương. Mỗ hát đại hí bốn mươi tám xuất, sắm đủ các vai khanh tướng đế vương. Vào tuổi trung niên, mỗ chót nói ngông, đắc tội quan huyện Cao Mật. Quan huyện cải trang đạo tặc, vặt râu mỗ một sợi không còn, hủy luôn cả duyên nợ với Miêu Xoang! Mỗ bàn giao gánh hát cho người khác, trở lại quê nhà mở quán bán trà. Vợ mỗ Đào Hồng cá lặn chim sa tính tình hiền thục, sinh hạ hai con như vàng như ngọc. Đáng giận thay, bọn Tây xâm nhập Trung Hoa, làm đường sắt phá tan phong thủy. Càng căm bọn Hán gian cáo mượn oai hùm, gây tai họa gieo họa cho dân làng. Vợ mỗ bị giặc bờm xơm trên chợ, tai ương từ đó chụp lên đầu. Mỗ đau đau đau từng khúc ruột, mỗ hận hận hận vỡ tim gan.. ... Mời các bạn đón đọc Đàn Hương Hình của tác giả Mạc Ngôn.
The Kiss Of The Devil - Barbara Cartland
Quyết làm trái lời người họ hàng Jimmy, cô gái xinh đẹp nhưng nóng đầu Skye Standish dấn thân vào một chuyến hành trình thám hiểm vùng đất hỗn loạn của Mariposa thuộc Nam Mỹ. Từ đó, những chuyện bất ngờ liên tục xảy ra. *** Barbara Cartland tên đầy đủ là Maria Barbara Cartland Hamilton sinh ngày 9/7/1901 là một nhà văn người Anh. Bà được coi là một trong những cây bút sáng tác mạnh mẽ nhất của thế kỷ 20 và luôn có tên trong sách kỷ lục Guinness như một trong những nhà văn xuất bản nhiều tác phẩm nhất trong một năm. Sự nổi tiếng của bà gắn liền với những cuốn tiểu thuyết lãng mạn hư cấu dưới bút danh Barbara Cartland, ngoài ra bà cũng sáng tác dưới bút danh sau khi đã lập gia đình là Barbara McCorquodale. Ước tính lượng sách bán được lên đến hơn một tỷ bản đã khiến bà trở thành một trong những biểu tượng xã hội của thành phố London cũng như một trong những nhân vật được giới truyền thông Anh săn đón nhiều nhất. Điểm đặc trưng nhất trong phong cách của Barbara Cartland là đoạn kết với tuyên ngôn tình yêu sẽ chinh phục mọi thử thách. "Những nhân vật nữ chính luôn là chìa khóa trong mọi tình huống. Họ là những phụ nữ độc lập, thông minh và tự tin vào bản thân. Barbara Cartland đã tạo ra sức hấp dẫn cho những câu chuyện bà kể bằng công thức vô cùng đơn giản: Luôn là một kết thúc có hậu nhưng trong suốt chiều dài câu chuyện người đọc lại luôn bị thu hút bởi ý nghĩ liệu nút thắt có bao giờ được cởi bỏ thành công" – Miller nói. Trong suốt sự nghiệp của mình Barbara Cartland đã viết khoảng 723 cuốn sách được dịch sang 38 ngôn ngữ. Quãng thời gian sáng tác dồi dào nhất của bà phải kể đến 650 tiểu thuyết lãng mạn được viết trong 20 năm cuối đời. Ngày 21/5/2000 bà qua đời ở tuổi 98 sau khi hoàn thành cuốn tiểu thuyết cuối cùng chỉ một năm trước đó. *** Skye lấy trong tủ ra bộ áo cô chưa từng mặc qua. Áo may bằng ren trắng thật mịn màng mỏng manh đến nỗi cô tưởng mình như đang mặc chiếc áo dệt bằng tơ trời trong truyện thần thoại. Chiếc áo khiến cô trông trẻ hơn, thân trước cắt thấp phô bày khoảng vai trần mịn màng sáng rỡ như ánh ngọc trai. Mái tóc được chải công phu cho đến khi những lọn tóc óng lên như ánh lửa viền quanh gương mặt thon nhỏ. Cô chỉ đeo một món trang sức duy nhất là đôi hoa tai nạm ngọc thạch anh và kim cương mà El Diablo tặng cho cô trong đêm fiesta. Khi đeo đôi hoa vào tai, cô nhớ lại cô từng thề có ngày sẽ trả lại cho anh, nhưng bây giờ cô sẽ không tự nguyện trả lại nữa. Khi mặc bộ áo này, cô đã săm *** thật lâu xem còn bất cứ khiếm khuyết nào cần phải sửa chữa hay không, đêm nay cô chỉ có một ước nguyện duy nhất, trên tất cả mọi ước nguyện, rằng cô muốn mình đẹp nhất, lộng lẫy hơn bao giờ hết. Ngắm mình trong gương, cô hài lòng với bóng dáng mình, đôi mắt to rạng rỡ, nhưng sâu thẳm huyền hoặc. Hai cánh môi đỏ ấm áp mềm mại. Hơi thở gấp gáp giữa đôi môi khẽ mở tố cáo nhịp đập vội vã của con tim bất trị. Dường như cả thế kỷ đã trôi qua từ lúc cô gặp El Diablo ngày hôm qua. Sáng sớm hôm nay anh đã rời tàu rất sớm bỏ mặc sự khó chịu của Evan rằng anh vẫn chưa hoàn toàn hồi phục để cáng đáng bao nhiêu công việc đang chồng chất, thay vì thế anh chỉ cười với ông. ... Mời các bạn đón đọc The Kiss Of The Devil của tác giả Barbara Cartland.
Cuốn Theo Dòng Xoáy - Barbara Cartland
"Người ta bao giờ cũng nghĩ mình là cần thiết, nhưng chỉ cần lướt qua bên cạnh cái chết là thấy mọi cái đều vô nghĩa. Thành đạt, quyền lực, sức mạnh, tiền bạc ư? Tất cả cái đó chẳng đáng là bao so với cái việc giản đơn là hít thở và sống." Barbara Cartland *** Barbara Cartland tên đầy đủ là Maria Barbara Cartland Hamilton sinh ngày 9/7/1901 là một nhà văn người Anh. Bà được coi là một trong những cây bút sáng tác mạnh mẽ nhất của thế kỷ 20 và luôn có tên trong sách kỷ lục Guinness như một trong những nhà văn xuất bản nhiều tác phẩm nhất trong một năm. Sự nổi tiếng của bà gắn liền với những cuốn tiểu thuyết lãng mạn hư cấu dưới bút danh Barbara Cartland, ngoài ra bà cũng sáng tác dưới bút danh sau khi đã lập gia đình là Barbara McCorquodale. Ước tính lượng sách bán được lên đến hơn một tỷ bản đã khiến bà trở thành một trong những biểu tượng xã hội của thành phố London cũng như một trong những nhân vật được giới truyền thông Anh săn đón nhiều nhất. Điểm đặc trưng nhất trong phong cách của Barbara Cartland là đoạn kết với tuyên ngôn tình yêu sẽ chinh phục mọi thử thách. "Những nhân vật nữ chính luôn là chìa khóa trong mọi tình huống. Họ là những phụ nữ độc lập, thông minh và tự tin vào bản thân. Barbara Cartland đã tạo ra sức hấp dẫn cho những câu chuyện bà kể bằng công thức vô cùng đơn giản: Luôn là một kết thúc có hậu nhưng trong suốt chiều dài câu chuyện người đọc lại luôn bị thu hút bởi ý nghĩ liệu nút thắt có bao giờ được cởi bỏ thành công" – Miller nói. Trong suốt sự nghiệp của mình Barbara Cartland đã viết khoảng 723 cuốn sách được dịch sang 38 ngôn ngữ. Quãng thời gian sáng tác dồi dào nhất của bà phải kể đến 650 tiểu thuyết lãng mạn được viết trong 20 năm cuối đời. Ngày 21/5/2000 bà qua đời ở tuổi 98 sau khi hoàn thành cuốn tiểu thuyết cuối cùng chỉ một năm trước đó. *** Chiếc xe lớn nổ máy và chạy hết tốc độ đưa nàng đi xa tòa lâu đài. Nàng ra đi không có chương trình cụ thể mà chỉ muốn cho khoảng cách giữa John và mình càng lớn càng tốt . Đến 2h chiều, dừng xe để mua xăng, nàng trông thấy một quán cà phê nhỏ và sực nhớ từ tối hôm trước chưa hề ăn uống gì . Nàng gọi trà và mấy lát bánh mì phết bơ cùng với một quả trứng mà chủ quán năn nỉ mời nàng và tự hào nhấn mạnh : − Tất cả khách hàng đều hỏi mua trứng của chúng tôi, trứng rất tươi mà. Anna không dám chối từ, ăn xong và trả tiền, nàng lại lên xe . Xe lăn bánh suốt buổi chiều, mặc dù trời nắng, qua đồng cỏ ruộng vườn dọc sông suối hai bên trồng liễu. Nàng không biết mình ở đâu nhưng vẫn cứ cho xe lăn bánh. Gần đến một thành phố lớn, nàng tránh không đi vào. Đi hết buổi chiều nàng nhìn thấy một biển báo: Manchester, bất giác nàng hiểu là đi suốt ngày, nàng đã trở về làng quê. Nửa tiếng sau nàng về tới Liton Copon, "nhà mình" hai từ vang lên thánh thót trong lòng mà Anna tưởng như nghe thấy . Bỗng nàng sực nhớ, ngôi nhà không còn thuộc về mình nữa, làm sao tiền bạc có thể thay thế được một vật quý giá như ngôi nhà gia đình, ý nghĩ ấy làm nàng xót xa. ... Mời các bạn đón đọc Cuốn Theo Dòng Xoáy của tác giả Barbara Cartland.