Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Mùa Mưa - Nevil Shute

Tác giả Nevil Shute đã mất năm 1960, nhưng dự báo của Ông về một nước Anh hùng cường trong Khối Thịnh Vượng Chung đã thấy rõ. Đấy cũng là nhờ sự đóng góp tích cực của Vương Triều qua hình ảnh sống động, đầy gan dạ, mưu trí và đầy lòng nhân đức của Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị và lòng trung thành của người dân Anh trong 50 năm qua, trước bao thử thách. Câu chuyện tình lãng mạn của một phi công người Úc lai một phần tư da đen với cô thư ký của Nữ Hoàng, tuy có hơi ước lệ trong khung cảnh của Hoàng Gia, nhưng đầy kịch tính của một xã hội nền nếp, gia phong của nước Anh, cộng với sự khoáng đạt, đầy nhiệt tình của một nước Úc đang trên đà phát triển. Chọn tác phẩm “Mùa Mưa” (In the wet) để dịch, Tôi muốn kêu gọi lòng thương yêu, đùm bọc trong Hoàng Gia Nguyễn Phước trước những thành quả lịch sử hết sức vĩ đại của Tiên Đế. Còn gì nữa mà chia năm xẻ bảy, còn gì nữa mà tranh phần, đoạt lợi, để con cháu nghìn đời mai mỉa !. Tôi lại muốn kêu gọi sự đoàn kết tôn giáo để nhân loại tránh đi bao nỗi thống khổ, chết chóc triền miên. Còn hình ảnh nào đẹp bằng một vị Cha Xứ của Thiên Chúa Giáo La Mã và một Mục Sư Tin Lành đều được người dân Úc trọng nễ như nhau như là những vị Thừa Sai của Chúa mang đến hạnh phúc cho nhân dân. Ngoài ra trong một xã hội dân chủ pháp trị, thì quyền bầu cử của người dân là quan trọng hơn cả, nó định đoạt tương lai và vận mạng của một dân tộc. Vậy 7 quyền bấu cử Quốc Hội của nước Úc cũng đáng cho ta học hỏi, rút kinh nghiệm để làm cho đất nước phồn vinh. Và nếu chúng ta có được cái “Tâm Bồ Đề”, tâm Từ Vô Lượng, quả đất này sẽ không còn cảnh tranh bá đồ vương, tàn sát lẫn nhau, để cùng nhau xây dựng một “thiên đàng hạ giới”, cõi Nát Bàn ngay trong tim mình. *** Trước đây tôi chưa bao giờ chịu khó ngồi viết những chuyện dài dòng như thế này, tuy cũng đã viết nhiều những bài giảng đạo hay những đề tài khác cho các tạp chí trong họ đạo. Nói thật tôi cũng không biết cách sắp xếp câu chuyện hay cần viết dài hay ngắn như thế này cho thích hợp, nhưng chẳng có ai ngoài tôi ra đọc truyện này nên chẳng lấy đó làm quan trọng. Tuy vậy, sự thật là tôi cũng đã băn khoăn lo nghĩ từ khi ở Blazing Downs trở về nên cũng thường xuyên bị mất ngủ và không thể làm việc hết mình cho họ đạo, tuy rằng các buổi lễ ở nhà thờ vẫn tiến hành như thường lệ và máy móc. Tôi nghĩ rằng nếu cố gắng viết ra thì tâm hồn cũng nhẹ nhõm phần nào, điều mà từ lâu tôi vẫn đè nặng trong tâm tư, hơn nữa, sau khi viết, tôi sẽ gởi cho ngài Giám mục đọc qua. Điều băn khoăn của tôi, có lẽ tôi cảm thấy mình càng ngày càng già đối với công việc của họ đạo có hơi kỳ lạ này và điều đó chứng tỏ là trường hợp này tôi phải chấp nhận bất cứ điều gì khi bề trên đã quyết định. Viết tư liệu không phải dễ dàng gì ở nơi đây vì Landsborough là một thị trấn nhỏ. Chốc nữa tôi sẽ đi xuống cửa hàng sách Duncan để mua ít giấy viết, nhưng cửa hàng chỉ có những tập giấy mỏng để viết thư và những tập vở mà cô giáo Foster dùng cho các học sinh lớn tuổi hơn khi các em đã qua thời kỳ dùng bảng viết. Tôi mua sáu tập và hy vọng còn cần nhiều hơn nữa khi đã viết xong những điều cần nói ra, nhưng trong cửa hàng chỉ còn vỏn vẹn chín tập vở nên không muốn làm họ kẹt. Tôi đã yêu cầu họ mua thêm, và họ đã đặt hàng ở Townsville, chuyến máy bay tuần tới mới có. Để trung thực với những ai đọc tác phẩm của tôi viết, tôi nghĩ là nên nói thật về mình, ngõ hầu sẽ được đánh giá chính xác và có được tín nhiệm về những điều tôi viết hay không. Tôi tên là Roger Hargreaves, đã được thụ phong mục sư thuộc giáo hội nước Anh bốn mươi mốt năm qua, tháng trước đây tôi đã qua tuổi sáu mươi ba. Tôi sinh năm 1890 ở Portsmouth thuộc miền Nam nước Anh và đã tôt nghiệp trường cấp ba Portsmouth. Tôi đã được thụ phong vào năm 1912 và trở thành mục sư của nhà thờ Thánh Mark, thành phố Guildford. Năm 1914, thế chiến bùng nổ, tôi vào quân đội với chức vụ Tuyên uý. Tôi đã làm chủ lễ ở Gallipoli và ở Pháp. Trong chiến tranh tôi rất may mắn, bởi vì tuy bị một quả pháo dập ở Delville Wood trong suốt cuộc chiến Somme, tôi chỉ nằm bệnh viện vài tuần lễ và chỉ bốn tháng sau là trở ra tiền tuyến ngay. Sau chiến tranh tôi vẫn chưa có chỗ cố định và không muốn trở về với công tác giáo xứ trong một thị trấn nước Anh. Lúc ấy tôi mới hai mươi tám tuổi, chưa có gia đình và cũng chẳng có gì phải vướng bận nhiều khiến giữ chân tôi ở lại Anh. Theo tôi trong lúc còn trẻ trung và sức lực cũng nên hiến cuộc đời mình cho việc phụng vụ đến nhiều nơi khó khăn hơn và sau khi thảo luận với cha Giám mục, tôi sang Uùc theo chương trình huynh đệ Bush ở Queensland. Tôi đã phục vụ cho chương trình này bốn mươi năm, đi lại rất nhiều nơi từ Cloncurry đến Toowoomba, từ Birdsville đến Burdekin. Trong suốt mười bốn năm, tôi chưa có chỗ ở cố định và thường không ngủ quá hai đêm ở cùng một nơi. Chương trình huynh đệ này trả cho tôi mỗi năm năm mươi Anh kim, số tiền này cũng đủ để may mặc và chi tiêu cá nhân. Tôi cũng được cung cấp một số tiền nhỏ để chi phí cho việc đi lại nhưng tôi chưa phải dùng tới. Dân chúng ở vùng xa xôi hẻo lánh hầu hết đều có lòng tốt muốn giúp tôi đi lại từ nơi này đến nơi khác trong các lễ nghi tôn giáo, cưới hỏi hay ma chay. Họ thường lấy xe hơi chở tôi đến một địa điểm tiếp theo. Vào mùa mưa, khi ngập bùn, xe hơi không đi được, họ lại cho tôi mượn một con ngựa, khoảng chừng ba tháng để tôi có tiếp tục công việc cho hết mùa mưa. Năm 1934 tôi bị đau ruột thừa ở một nơi tên là Goodwood gần Boulia; cách Longreach ba trăm dặm về phía tây có một bệnh viện. Vào thời ấy, chưa có bác sĩ lưu động bằng máy bay. Tôi được họ chở trên xe tải trong hai ngày. Thời tiết thì quá nóng nực, đường đi thì gập ghềnh, khó khăn lắm mới tới được bệnh viện. Đến được đấy, tôi bị viêm màng bụng và gần chết. Tôi nghĩ mình cũng sẽ chết thôi nếu không nhờ công ty xe hơi Billy Shaw ở Goodwood chở tôi chạy suốt đêm. Sau khi phẫu thuật, thằng tôi trông thật thảm thương và khó mà bình phục trở lại. Vì vậy tôi miễn cưỡng xin thôi việc chương trình huynh đệ và trở về nước Anh. Đức giám mục hết sức nhân từ và sắp xếp cho tôi một đời sống khá thoải mái ở nhà thờ Thánh Peter thuộc địa phận Godalming và tôi đã định cư ở đây, rồi kết hôn với cô Ethel. Những năm mới lập gia đình, chúng tôi sống rất hạnh phúc và tôi đã dằn lòng chứ không đã viết ra tất cả. Ethel chết năm 1943, lúc chúng tôi chưa có con. Vào thời chiến, ở nước Anh, một mục sư có nhiều việc phải làm và tôi không cảm thấy tiếng gọi phục vụ quan trọng hơn khi chiến tranh chưa chấm dứt. Nhưng tôi cũng nhận ra rằng miền Godalming cần một mục sư có gia đình hơn là một người goá vợ và còn rất nhiều miền ở Queensland cần một người đàn ông có kinh nghiệm như tôi, dầu người đó đã năm mươi sáu tuổi. Tôi đã từ bỏ giáo khu và trở lại Uùc như là một mục sư trên một chiếc tàu biển di dân, và tôi thật sự nhận ra rằng chương trình huynh đệ còn muốn nhận tôi trở lại công tác dầu tôi đã lớn tuổi. Chẳng bao lâu sau, tôi cũng nhận ra rằng công tác ở vùng xa xôi hẻo lánh dễ hơn nhiều trước đây mười năm. Chiến tranh đã làm đường sá thay đổi và cải tiến, có một điều là các đài thu và phát vô tuyến đã được sử dụng đại trà ở các nhà ga xa xôi hẻo lánh, do đó sự liên lạc đã dễ hơn nhiều. Điều quan trọng hơn cả là đã có nhiều người sử dụng máy bay, hầu như đâu cũng có phi trường, và những dịch vụ cho khách thường xuyên đã được mở. Tất cả những sự cải tiến này đã tạo thuận lợi cho một vị mục sư muốn phục vụ hết mình cho các tín đồ hơn là trước đây. Tôi cũng nhận ra rằng nhiều nơi ở trong quận của tôi ở có thể đến thăm dễ dàng, có thị trấn cứ sáu tháng tôi có mặt một lần, khác với trước đây phải mất hai năm mới tới được một lần như lúc tôi mới đến nước Úc lần đầu. Năm 1950 ở xứ Tân Guinea bị khan hiếm trầm trọng các nhà truyền giáo. Có một lúc người ta bỏ đi hay vì bệnh tật nên chỉ còn một mục sư của Giáo hội nước Anh ở đấy mà phải phục vụ một miền rộng một trăm tám mươi mốt ngàn dặm vuông ở Papua và lãnh thổ Ủy trị. Hình như tôi cũng đã nghĩ đến những nhu cầu quá lớn của họ so với nhu cầu ở Queensland và được sự thoa? thuận của chương trình huynh đệ, tôi đã tự nguyện đi đến đó một vài tháng để giúp đỡ họ giải quyết những khó khăn. Khi tôi đi máy bay đến cảng Moresby, tôi đã năm mươi chín tuổi, đối với công việc như thế này, tôi cảm thấy mình quá già, vì chẳng có ai khác dám đi. Trong một năm, tôi đã đi đến nhiều nơi trong xứ, từ con sông Fly đến Rabaul, từ các mỏ vàng ở Wau đến các đồn điền Samarai. Bây giờ tôi mới lo là mình quá bất cẩn không mang theo Paludrine vì vào tháng chín năm 1951 tôi bị bệnh sốt rét nặng ở Saramaua và phải nằm viện đến mấy tuần lễ ở cảng Moresby, do đó cũng chấm dứt luôn công tác của tôi ở Tân Guinea. Sở dĩ tôi nói đến chứng sốt rét bởi vì sau này tôi còn bị tái đi tái lại nhiều lần nữa, tuy có phần nhẹ hơn. Có một địa điểm mà trong các phần này tôi đã nói đến. Có người nói với tôi rằng khi chứng sốt rét đã bị một lần, vài năm sau có thể bị tái lại, trước khi dứt hẳn và lần tái phát này không mấy trầm trọng như cơn bệnh tôi đã bị lần đầu ở Salamaua. Tôi cũng biết là mình điều hành công việc tạm ổn tuy đang bệnh; nhất là vấn đề đi lại, có khi tôi cũng hoãn hành lễ trong một ngày và nằm cho mồ hôi toát ra. Tuy nhiên cơn đau đầu tiên quá nặng làm tôi yếu người hẳn đi, nên rời bỏ Tân Guinea mà chẳng mấy tiếc nuối, để trở về sống với các bạn hữu ở trên đồi Atherton Tableland phía sau Cairns thuộc miền Bắc Queensland, mong bình phục và khỏe mạnh trở lại. Đức Giám mục vào thời ấy, vẫn đi lại đều trong Quận và Ngài đã viết thư đề nghị là sẽ đến thăm tôi và bàn bạc những chuyện mà tôi thấy chưa xứng đáng được Ngài quan tâm như thế. Tôi đi xuống Innisfail để gặp Ngài ở đấy vì tôi cảm thấy đã bình phục nhiều. Qua câu chuyện thân mật, Ngài đã đề cập đến tuổi tác của tôi và mong muốn tôi tiếp tục làm việc nhưng ít năng nổ hơn. Ngài nói là Ngài nóng lòng mở lại nhà thờ Giáo xứ Landsborough và muốn cử một Mục sư lo việc họ đạo tại địa phương. Ngài đã đề cập đến kinh nghiệm của tôi ở vùng nông thôn và hỏi nếu tôi bằng lòng sẽ cử tôi đến đấy vài năm để xây dựng lại tinh thần Giáo hội ở trong Quận ấy. Ngài cũng không mong tôi đi hết họ đạo rộng gần hai mươi tám ngàn dặm vuông, trong một vùng mà dân cư thưa thớt, vì Ngài hy vọng trong một năm thôi là có một mục sư trẻ về thay thế. Dĩ nhiên vấn đề tài chính là một vấn đề khó khăn cho nhà thờ, nhưng Ngài nói là sẽ gởi cho tôi một chiếc xe tải trong vài tháng tới, mặc dầu nó đã hơi cũ. Xe chẳng thấy tới, nhưng tôi đã điều hành tốt mà không có xe. Landsborough là một thị trấn nằm phía trên vịnh Carpentaria, người ta thường gọi là Gulf Country. Cách đây năm mươi năm, thị trấn rộng hơn bây giờ. Thời săn vàng bùng nổ, cả thị trấn có chừng hai mươi lăm khách sạn, hầu hết là quán nhậu, nhưng bây giờ chỉ còn lại hai. Có chừng tám mươi cư dân da trắng ở đấy gồm cả đàn ông, đàn bà và trẻ em và một số dân da đen độ hai ba trăm người trồi sụt bất thường, họ sống trong điều kiện đáng thương, trong các túp lều che bằng các tấm sắt rỉ, ở ngoại ô thành phố. Nơi ấy cách Cloncurry hai trăm dặm và cách Cairns và thị trấn Townsville về phía biển năm trăm dặm bằng đường hàng không. Ở đấy có một bệnh viện điều hành bởi hai chị em cô y tá và một nhà riêng cho bác sỹ mặc dầu từ trước tới giờ chẳng có bác sỹ nào bị lôi cuốn về thực tập ở đấy. Gặp trường hợp khẩn cấp, người ta gọi về Cloncurry và bác sỹ cứu hộ sẽ đến bằng máy bay. Trong chiến tranh người ta xây ở đấy một phi trường thật tốt và mỗi tuần một lần cũng có máy bay chở thư và đồ tiếp tế đến. Nhà thờ ở Landsborough thuộc loại kiến trúc rất đơn giản, phía ngoài đóng bằng cây, mới được xây dựng lại cách đây ba mươi năm sau một vụ cháy rừng. Tôi thấy nhà thờ được trang bị quá sơ sài nên định bụng nếu nhận được chút ít tiền là tôi sẽ sơn trong và ngoài luôn thể. Nhà thờ chỉ có ghế dựa chứ không có ghế dài hành lễ và đây cũng có cái lợi vì cứ hai hay ba tháng một lần, chúng tôi có đoàn chiếu bóng lưu động ở Landsborough và chúng tôi có thể đem những ghế dựa này ra khỏi nhà thờ đặt trong sảnh Shire hay trước sân nhà sách Duncan vào mùa nắng. Cá nhân tôi cũng thấy tiện lợi nữa, vì trong tòa Cha sở chẳng có ghế bàn gì cả, nếu có ai đó muốn đến gặp tôi, tôi có thể đến nhà thờ mượn ghế và trả lui cho buổi lễ sau. Cả nhà thờ và tòa Cha sở chẳng được ai ngó ngàn tới, bởi vì vị mục sư cuối cùng bị rắn cắn chết năm 1935 và từ đấy chẳng có mục sư sở tại nào ở Landsborough cho tới khi tôi tới nhận việc vào mùa thu 1952. Dĩ nhiên, nhà thờ thỉnh thoảng cũng được sử dụng để làm lễ do các Mục sư vãng lai. Còn chính bản thân tôi sử dụng nhà thờ trong rất nhiều dịp khi tôi có mặt ở trong Quận, để mong tìm hiểu những gì thuộc địa phương Landsborough. Tôi rất hoan hỉ được đi trên đó, bởi vì tùy theo những chuẩn mực của nước Anh, nhưng không còn nhiều đối với một giáo xứ. Có lẽ theo chuẩn mục của nước Anh, tôi không mấy giống một mục sư. Theo tôi đó là một nơi tôi có thể tiếp tục tiến hành công tác đã quen thuộc và cũng từ đấy tôi có thể góp nhặt một số sách mới, cũng như được sống thoải mái và tương đối tiện nghi. Dầu cho đã trình bày với đức Giám mục, tôi cũng phải nhận ra rằng, cá nhân tôi không còn là người đàn ông trước khi bị bệnh sốt rét. Tôi hy vọng cơn bệnh sẽ qua đi và thể lực sẽ được phục hồi. Tôi hy vọng như thế vì có quá nhiều việc để làm mà quỹ thời gian chẳng còn bao năm nữa. ... Mời các bạn đón đọc Mùa Mưa của tác giả Nevil Shute.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Trân Châu Cảng
*“Trân Châu cảng” - ngày 07/12/1941 - một sự kiện kinh hoàng cho nước Mỹ và cả thế giới khi không quân Nhật bất ngờ tấn công vào Trân Châu cảng. Điều này đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ “ngây thơ vô tội”…và là sự khởi đầu đầy vinh quang của nước Mỹ. *Với bút pháp thần kỳ, mang đậm nét nhân văn, Randall Wallace sẽ mang đến cho độc giả sự đồng cảm sâu sắc về nỗi đau, nỗi mất mát lớn lao về tinh thần lẫn thể xác mà chiến tranh để lại cho nhân loại. *“Trân Châu cảng” - một câu chuyện bất ngờ gây chấn động, một thất bại thảm hại, một chiến thắng anh dũng và vượt trên tất cả là sự gắn kết một chuyện tình tuyệt đẹp! *** Trận Trân Châu cảng là một chiến thắng thể hiện rõ tinh thần và khả năng của quân nhân Nhật Bản, đặc biệt là hải quân và không quân. Ngoài ra nó cũng cho thấy kỹ nghệ phục vụ chiến tranh của Nhật Bản rất phát triển, thể hiện rõ qua số lượng tàu sân bay cao hơn cả của Mỹ và Anh cộng lại vào thời điểm đó. Tuy nhiên, tham vọng quá lớn của giới quân phiệt đã đẩy Nhật Bản đến thất bại cay đắng và như giới chuyên môn đã nhận định, việc lôi kéo Hoa Kỳ vào cuộc chiến là sai lầm chiến lược dẫn đến thất bại của phe trục trong Thế chiến 2. Cuốn sách tổng hợp rất nhiều thông tin chi tiết, bố cục hợp lý, là một tài liệu tham khảo tốt. *** Mùi thơm ngọt ngào của mảnh gỗ thông bay đến mũi Danny Walker. Rafe McCawley đã khoan hai lỗ nhỏ bằng đầu đinh rồi luồn sợ dây thừng qua. Sau đó, hai thằng bé cột chặt sợ dây ngang thắt lưng trông cho giống dây an toàn thường thấy trên máy bay. Hai đứa đang ngồi trong một thùng bia cũ bằng gỗ. Miệng thùng chẳng to hơn cái thố đựng nước là mấy, tuy nhiên cũng đủ rộng cho hai thân hình mỏng dính gầy gò. Rafe và Danny mới 10 tuổi đầu. Chúng ở trên mảnh đất vốn là một thái ấp cũ. Lúc này, nước Mỹ đang trong cơn đại khủng hoảng của những năm 1930. Nhưng hai thằng bé này sang lắm! Có máy bay riêng! Một chiếc máy bay có hai tầng cánh, thuộc loại nhỏ dùng để rải phân bón ngoài ruộng - một phương tiện lao động thường thấy ở khắp miền Nam nước Mỹ. Cha của Rafe mang chiếc máy bay cũ kỹ ấy về nhà. Thân máy bay bị bể. Máy móc hư nát, không thể dùng được. Ông tháo tung cỗ máy cồng kềnh ấy ra để lấy những phần phụ tùng còn tận dụng được. Lúc này, cánh máy bay là những mảnh gỗ, giẻ rách và đống dây kẽm gai rỉ sét. Quạt gió là cái cánh quạt gẫy nát ai đó vất sau góc vườn nhà. Rafe lượm về lắp cho máy bay của mình. Còn kính chắn gió của máy bay được làm bằng tổ chim sẻ. Khi còn nguyên vẹn, máy bay này đã từng lướt nhẹ trên bầu trời Tennessee. Bây giờ trong tâm trí của hai thằng bé sống nơi thôn dã, chiếc máy bay này là thứ tàu lượn bay nhanh nhất và xa nhất thế giới. Rafe hét lên: - Quân địch đang tới từ phía cánh trái kìa! Nó giả vờ nghiêng ngửa, ngả vai vào người Danny. Tuy tay thằng Rafe gầy gò, chỉ có da bọc xương, nhưng thân hình khá cao ráo. Đặc biệt, nó có cặp mắt nhanh nhẹn của một phi công. Mặc dù mới bước sang tuổi 11 nhưng Danny cũng nhận ra Rafe có tố chất thiên bẩm qua ánh mắt của bạn mình. Không hề có sự sợ hãi, tức giận. Chỉ là ánh mắt rất tinh tường và quả quyết. - Tớ thấy chúng rồi! - Danny trả lời. Trong khi ấy, thằng Rafe đá lưỡi kêu rừ rừ tạo Rafe âm thanh gầm rú của những chiếc máy bay tưởng tượng. Vừa la lối, và vừa cầm chiếc chổi cũ lượn tới lượn lui như thể nó đang lướt đi trong không trung vậy. - Danny! Hạ chúng ngay! - Được rồi! Rafe.. pằng pằng.. Thằng Danny mím môi phát ra âm thanh giả tiếng súng máy đang nã đạn. Danny thích cái cách Rafe gọi tên nó. Nghe âu yếm như hai người anh em ruột gọi nhau vậy. Rafe là người duy nhất trên đời này gọi nó là Danny. Trước đây, mẹ nó cũng gọi nó là Danniel. Nhưng bà đã chết khi Danny mới lên 4 tuổi. Cái từ đẹp đẽ nhất mà cha nó thường gọi nó chỉ đơn giản là nhóc tỳ mà thôi.   Mời các bạn đón đọc Trân Châu Cảng của tác giả Randall Wallace.
Sự Trả Thù Của Quý Cô
Georgiana là người phụ nữ quyền lực nhất Anh Quốc - Nữ hoàng của thế giới ngầm London mà không ai có thể chống lại. Duncan West là người duy nhất đủ thông minh để khám phá sự thật, để phá huỷ tất cả những gì cô đã gây dựng, bao gồm cả trái tim thép mà cô tôi luyện. Cô mang trong mình thân phận bí ẩn, anh sống với thân thế tội lỗi của bản thân. Hai người – vô số bí mật, đều ra sức che đậy, giấu giếm sự thật và tình cảm của chính mình, liệu sẽ ra sao khi tất cả được phơi bày? *** Tác giả: Sarah MacLean sinh ngày 17 tháng 12 năm 1978 tại Rhode Island, nước Mỹ. Bà là một cây bút đầy tài hoa chuyên về tiểu thuyết lãng mạn lịch sử, đồng thời cũng là một trong các tác giả của những cuốn sách ăn khách nhất do New York Times và Romantic Times bình chọn. Bà tốt Smith năm nghiệp 1978 và có chuyên tại bằng tiểu ngành thạc bang sĩ Lịch chuyên Rhode sử ngành Nhân loại học tại Đại học Harvard. Hiện tại bà đang sống tại New York cùng chồng, con gái và sở hữu một bộ sưu tập những cuốn tiểu thuyết lãng mạn hết sức đồ sộ. Sarah có niềm đam mê với lịch sử và văn học lãng mạn từ khi còn rất nhỏ. Bà từng dành hầu hết thời gian trong suốt thời niên thiếu vùi mình trong các thư viện sách. Đó cũng chính là nơi đã khơi dậy trong bà nhiệt huyết với sự nghiệp viết lách, để sau đó trở thành một trong những tiểu thuyết gia lãng mạn nổi tiếng thế giới. Khi rảnh rỗi, bà thích du ngoạn khắp mọi miền đất nước, tìm hiểu về các nền văn hóa, giáo dục, và khám phá thế giới xung quanh dưới con mắt của một lữ khách đầy lạc quan, yêu đời. Các bài viết của bà thường xuyên xuất hiện trên chuyên mục của New York Times Book Review, Washington Post và Parents Magazine. MacLean tự nhận mình là người theo chủ nghĩa bình quyền, và đó cũng chính là phương châm xuyên suốt các tác phẩm của bà, đan xen với dòng chảy của những điều lãng mạn, ngọt ngào. Bà là một trong các tác giả ăn khách nhất do New York Times, USA Today và Romantic Times bình chọn. Cuốn tiểu thuyết đầu tay - 9 tuyệt chiêu tóm kẻ phóng đãng - ra đời ngay sau khi Sarah tốt nghiệp đại học đã giúp tên tuổi của bà trở nên quen thuộc với nhiều độc giả khi được dịch ra mười thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Tác phẩm này thuộc series Love By Numbers, cùng hai tác phẩm 10 bí quyết chinh phục trái tim và 11 tai tiếng hạ gục công tước đã được Bách Việt xuất bản vào năm 2013. Hãy thử cầm trên tay những tác phẩm của Sarah MacLean để cảm nhận được ma lực từ một cây viết đầy trí tuệ và tài hoa. Hãy bước vào thế giới muôn hình vạn trạng trong tiểu thuyết của bà để thấu hiểu những giá trị nhân văn sâu sắc qua từng trang sách...   Các tác phẩm đã và sẽ được BachvietBooks giới thiệu tới độc giả: - 9 Tuyệt Chiêu tóm kẻ Phóng Đãng - Sarah Maclean (2013) - 10 Bí quyết chinh phục trái tim - Sarah Maclean (2013) - 11 Tai Tiếng hạ gục Công tước - Sarah Maclean (2013) - Canh bạc hôn nhân (2014) - Chàng Có Thể Hủy Hoại Em Không? (2014) - Đam Mê và Thù Hận - Sarah MacLean (Quý II/2015) - Sự Trả Thù Của Quý Cô ***   Tháng ba, 1823 Lâu đài Leighton Basildon, Essex “Em yêu anh.” Ba từ nhỏ bé, lạ lẫm đó chứa đựng vô vàn quyền lực. Một tiểu thư như Georgiana Pearson – có cha và anh trai đều là công tước, là hiện thân của danh dự và tôn kính, của sự cao quý và tinh khôi, một con người hết sức danh giá của giới thượng lưu – lại chưa từng nghe về điều đó. Giới quý tộc không yêu đương. Và dù có đi chăng nữa thì chắc chắn họ cũng chẳng bao giờ có một hành động thấp hèn như thừa nhận điều đó. Nên thẳng thắn mà nói, cô cũng khá sốc khi thấy nó thoát ra khỏi môi mình một cách nhẹ nhàng, thoải mái và “thật” đến thế. Nhưng suốt mười sáu năm cuộc đời, Georgiana chưa bao giờ tin tưởng điều gì nhiều đến thế, cũng chưa bao giờ giải phóng mình khỏi những kỳ vọng luôn gắn liền với tên tuổi, lịch sử và dòng họ của mình nhanh đến thế. Thực tế thì, cô đang nắm chặt cảm giác phấn khích đã mong đợi từ lâu ấy, cùng với rủi ro và cơ hội đi kèm với nó. Được sống. Được là chính mình. Rủi ro là cái khỉ gì, đây là tình yêu. Và nó đã giải phóng cô. Chắc chắn rằng trên đời này sẽ chẳng có giây phút nào đẹp như lúc này – trong vòng tay của người đàn ông mà cô yêu, người mà cô sẽ gắn bó cả đời. Và hơn cả thế. Người sẽ cùng cô xây dựng tương lai, người sẽ gánh vác tên tuổi, gia đình và danh dự của cô. Jonathan sẽ bảo vệ cô. Anh đã nói vậy lúc ôm cô, che đi cơn gió lạnh tháng Ba và đưa cô vào đây, chuồng ngựa ở điền trang của gia đình cô. Jonathan cũng yêu cô. Anh đã thì thầm những lời đó khi tay anh cởi khóa, nhấc váy, kéo tất và hứa hẹn sẽ đem cả thế giới cho cô với những động tác vuốt ve âu yếm. Và cô cũng thì thầm đáp lại. Trao cho anh tất cả mọi thứ. Jonathan. Tiếng thì thầm sung sướng của cô vọng khắp các xà gỗ và cô nép mình vào gần anh hơn, được bao bọc trong cơ bắp săn chắc, rơm rạ và được đắp một chiếc khăn choàng cho ngựa ấm áp đáng nhẽ phải khiến cô thấy ngứa ngáy khó chịu, vậy nhưng không hiểu sao lại rất mềm mại, hẳn là do những cảm xúc dịu dàng mà nó vừa được chứng kiến. Tình yêu. Thứ chỉ có trong các áng thơ, điệu nhạc, truyện cổ tích và tiểu thuyết. Tình yêu. Cảm xúc khó hiểu khiến đàn ông vừa khóc, vừa hát, vừa đau đớn vì dục vọng và đam mê. Tình yêu. Cảm xúc thay đổi cả cuộc đời, khiến mọi thứ trở nên rực rỡ, ấm áp và tuyệt vời hơn. Thứ cảm xúc mà cả thế giới tuyệt vọng muốn khám phá. Và cô đã tìm ra nó. Ở nơi đây. Trong mùa đông lạnh căm căm này, trong vòng tay của chàng trai tuyệt vời này. Không. Một người đàn ông. Anh là một người đàn ông, cũng như cô là một người phụ nữ, được tạo ra để dành cho ngày hôm nay, nằm trong vòng tay anh, ép chặt vào cơ thể anh. Một chú ngựa trong chuồng ngựa phía dưới khẽ hí lên, đập móng vào sàn nhà, đòi đồ ăn, nước uống, hoặc đòi được quan tâm. Jonathan cử động cơ thể và cô rúc vào anh, kéo chặt cái chăn quanh người họ. “Chưa được.” “Anh phải đi đây. Người ta gọi anh rồi.” “Em đang gọi anh đây,” cô nói, phô bày vẻ tán tỉnh duyên dáng nhất của mình. Tay anh ấm áp và thô ráp đặt lên bờ vai trần mịn màng của cô, gợi nên cảm giác rùng mình sung sướng trong toàn bộ cơ thể cô. Chẳng mấy khi có người chạm vào cô – con gái của một công tước, em gái của một công tước. Trong trắng. Tinh khôi. Không được phép chạm vào. Cho tới lúc này. Cô cười toét miệng. Mẹ cô chắc sẽ lên cơn khi biết con gái bà chẳng cần mà cũng chẳng có ý định ra mắt giới thượng lưu. Và anh trai của cô – Công tước Disdain – một quý tộc quyền lực, khó tính nhất Luân Đôn này… anh cũng sẽ không tán thành đâu. Nhưng Georgiana chẳng quan tâm. Cô rồi sẽ trở thành bà Jonathan Tavish. Cô thậm chí cũng không định giữ cái danh hiệu “Tiểu thư” mà cô đang mang. Cô không muốn nó. Cô chỉ muốn mình anh thôi. Cho dù anh trai cô có cố gắng làm tất cả để ngăn cản chuyện tình này cũng chẳng sao. Giờ thì chẳng ai ngăn cản được nữa rồi. Con ngựa lúc nãy đã rời khỏi chuồng. Nhưng Georgiana vẫn nằm trên đống cỏ khô. Cô cười rúc rích trước ý nghĩ ấy, thấy phấn khởi trước tình yêu và mối đe dọa – hai mặt của một phần thưởng hết sức giá trị. Anh đang chuyển động người bên dưới người cô, thoát khỏi tổ kén ấm áp được tạo nên bởi cơ thể họ, khiến gió lạnh luồn vào, làm da cô sởn gai ốc. “Em nên mặc đồ vào đi,” anh nói, kéo quần lên. “Nếu có người tóm được chúng ta...” Anh không cần nói hết câu, anh vẫn nói ra câu này suốt mấy tuần vừa rồi, kể từ lần đầu tiên họ hôn nhau cho đến suốt những khoảnh khắc vụng trộm sau đó. Nếu có người tóm được họ thì anh sẽ bị quất bằng roi, hoặc còn tệ hơn. Và cô sẽ bị hủy hoại. Nhưng lúc này đây, sau ngày hôm nay, sau khi nằm trần truồng trong vựa cỏ mùa đông khô khốc này, để anh khám phá, ve vuốt và chiếm giữ bằng đôi bàn tay suốt ngày chỉ biết đẽo, đục... cô cũng đã bị hủy hoại rồi. Cô không quan tâm. Điều đó không quan trọng. Sau chuyện này, họ sẽ bỏ chạy – phải thế thôi nếu muốn kết hôn. Họ sẽ chạy tới Scotland. Họ sẽ khởi đầu một cuộc đời mới. Cô có tiền. Dù cho anh chẳng có gì hết. Họ có tình yêu, vậy là đủ. Đám quý tộc chẳng có gì đáng để ghen tị hết. Họ đáng bị thương hại mới đúng. Không có tình yêu thì sống làm gì? Cô thở dài, quan sát Jonathan hồi lâu, mê mẩn nhìn anh mặc áo, nhét áo vào trong quần, xỏ chân vào bốt như thể đã làm việc đó cả nghìn lần trong không gian lụp xụp này. Anh quấn cà vạt lên cổ và khoác áo mỏng, rồi áo dày, mọi chuyển động đều gọn gàng nhanh nhẹn. Khi xong việc, anh đi ra chỗ chiếc thang dẫn xuống chuồng ngựa, tay chân thon dài và cơ bắp. Cô quấn chặt chăn vào người, cảm thấy lạnh lẽo sau khi anh rời khỏi. “Jonathan,” cô nhỏ giọng gọi, không muốn bị người khác nghe thấy. Anh nhìn cô và cô thấy trong ánh mắt xanh dương của anh chứa đựng một điều gì đó – một điều mà cô không thể nhận diện ngay được. “Gì vậy?” Cô mỉm cười và đột nhiên thấy thật xấu hổ. Xem xét những gì họ vừa làm, những gì anh vừa nhìn thấy thì điều đó đúng là bất khả thi. “Em yêu anh,” cô lặp lại, bị mê hoặc bởi cái cách chúng thoát ra khỏi môi cô, nó bao bọc cô trong sự thật, cái đẹp và tất cả những gì tốt lành nhất. Anh do dự trên thang, ngả người ra sau một cách thoải mái như thể đang bay trên không trung. Anh không nói gì một lúc lâu – lâu đến mức cô cảm thấy cái giá lạnh của tháng Ba ngấm tận vào trong xương. Lâu đến mức cảm giác bất an lặng lẽ hình thành trong cô. Cuối cùng, anh nở nụ cười dạn dĩ quen thuộc, thứ đã thu hút cô từ đầu. Suốt một năm. Và thậm chí còn lâu hơn thế. Cho tới tận chiều nay, khi cuối cùng anh cũng dụ dỗ được cô nằm trên đống cỏ khô này, hôn cô đến khi cô không còn chút do dự, rồi anh thực hiện lời hứa đáng yêu của mình, chiếm lấy tất cả những gì cô có.   Mời các bạn đón đọc Sự Trả Thù Của Quý Cô của tác giả Sarah MacLean.
Chàng Có Thể Hủy Hoại Em Không?
Chàng có thể hủy hoại em không? bắt đầu bằng một tình huống “dở khóc dở cười” khi tiểu thư Philippa Marbury đường đột xuất hiện trong văn phòng làm việc của Cross - một “tay chơi” nổi tiếng kiêm chủ nhân của sòng bài Thiên Thần Sa Ngã và yêu cầu anh ta “hủy hoại” nàng bằng những trải nghiệm xác thịt, đưa nàng vào hành trình khám phá cơ thể con người ở một góc độ rất khác - trần trụi và đầy nhục cảm, nhưng - dưới lăng kính của khoa học. Lý do nàng đưa ra để giải thích cho yêu cầu oái oăm đó là, nàng sắp trở thành vợ của Bá tước Castleton, nhưng nàng chẳng hề biết gì “chuyện ấy”, và Philipa nghĩ mình cần được trang bị tốt, nàng muốn biết mọi kiến thức, mọi ngóc ngách về những điều mà nàng sắp phải trải qua. Với cô tiểu thư thông minh và ngây thơ này, trải nghiệm xác thịt cũng đơn thuần giống như những ngành khoa học khác mà nàng vẫn thường nghiên cứu. Nàng, đơn giản, muốn làm chủ kiến thức, và Cross được đánh giá là một cộng sự lý tưởng cho chuyện này. Như hai thỏi nam châm trái dấu, Cross và Philippa bị cuốn vào nhau bằng một lực hút vô hình. Cuộc tình của họ đi ngược lại với những lề thói phong kiến khi Cross là kẻ bị giới thượng lưu ruồng bỏ, còn Philippa là cô tiểu thư danh giá đã đính hôn với một Bá tước khác. Vậy số phận sẽ dẫn họ đến đâu? *** Sarah MacLean sinh ngày 17 tháng 12 năm 1978 tại Rhode Island, nước Mỹ. sinh học Bà tốt Smith năm nghiệp 1978 và có chuyên tại bằng tiểu ngành thạc bang sĩ Lịch chuyên Rhode sử ngành Nhân loại học tại Đại học Harvard. Hiện tại bà đang sống tại New York cùng chồng, con gái và sở hữu một bộ sưu tập những cuốn tiểu thuyết lãng mạn hết sức đồ sộ. Sarah có niềm đam mê với lịch sử và văn học lãng mạn từ khi còn rất nhỏ. Bà từng dành hầu hết thời gian trong suốt thời niên thiếu vùi mình trong các thư viện sách. Đó cũng chính là nơi đã khơi dậy trong bà nhiệt huyết với sự nghiệp viết lách, để sau đó trở thành một trong những tiểu thuyết gia lãng mạn nổi tiếng thế giới. Khi rảnh rỗi, bà thích du ngoạn khắp mọi miền đất nước, tìm hiểu về các nền văn hóa, giáo dục, và khám phá thế giới xung quanh dưới con mắt của một lữ khách đầy lạc quan, yêu đời. Các bài viết của bà thường xuyên xuất hiện trên chuyên mục của New York Times Book Review, Washington Post và Parents Magazine. MacLean tự nhận mình là người theo chủ nghĩa bình quyền, và đó cũng chính là phương châm xuyên suốt các tác phẩm của bà, đan xen với dòng chảy của những điều lãng mạn, ngọt ngào. Bà là một trong các tác giả ăn khách nhất do New York Times, USA Today và Romantic Times bình chọn. Cuốn tiểu thuyết đầu tay - 9 tuyệt chiêu tóm kẻ phóng đãng - ra đời ngay sau khi Sarah tốt nghiệp đại học đã giúp tên tuổi của bà trở nên quen thuộc với nhiều độc giả khi được dịch ra mười thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Tác phẩm này thuộc series Love By Numbers, cùng hai tác phẩm 10 bí quyết chinh phục trái tim và 11 tai tiếng hạ gục công tước đã được Bách Việt xuất bản vào năm 2013. Nằm trong series The Rules of Scoundrels, cuốn Chàng có thể hủy hoại em không đã cướp đi trái tim của hàng triệu độc giả bằng lối kể chuyện vô cùng tinh tế, sắc sảo. Một tiểu thuyết thú vị khác trong loạt truyện này, No Good Duke Goes Unpunished, đã mang về cho MacLean giải RITA - phần thưởng cao nhất dành cho các tác phẩm xuất sắc trong mảng văn học lãng mạn, do hiệp hội các nhà văn lãng mạn Mỹ bình chọn năm 2014. Cuốn sách sẽ được Bách Việt giới thiệu tới độc giả trong thời gian tới. Hãy thử cầm trên tay những tác phẩm của Sarah MacLean để cảm nhận được ma lực từ một cây viết đầy trí tuệ và tài hoa. Hãy bước vào thế giới muôn hình vạn trạng trong tiểu thuyết của bà để thấu hiểu những giá trị nhân văn sâu sắc qua từng trang sách... BachvietBooks *** Tác giả: Sarah MacLean sinh ngày 17 tháng 12 năm 1978 tại Rhode Island, nước Mỹ. Bà là một cây bút đầy tài hoa chuyên về tiểu thuyết lãng mạn lịch sử, đồng thời cũng là một trong các tác giả của những cuốn sách ăn khách nhất do New York Times và Romantic Times bình chọn. Các tác phẩm đã và sẽ được BachvietBooks giới thiệu tới độc giả: - 9 Tuyệt Chiêu tóm kẻ Phóng Đãng - Sarah Maclean (2013) - 10 Bí quyết chinh phục trái tim - Sarah Maclean (2013) - 11 Tai Tiếng hạ gục Công tước - Sarah Maclean (2013) - Canh bạc hôn nhân (2014) - Chàng Có Thể Hủy Hoại Em Không? (2014) - Đam Mê và Thù Hận - Sarah MacLean (Quý II/2015) - Sự Trả Thù Của Quý Cô *** Luân Đôn Đầu xuân năm 1824 Làm con trai thứ cũng có những lợi ích nhất định. Thực vậy, nếu xã hội tồn tại một sự thật thì đó chính là: Những kẻ chơi bời, những gã hư hỏng, hay những tên vô lại đều là những người thừa kế cần được cải tạo. Người đó có thể đập phá, ăn chơi trác táng và làm xã hội chướng mắt với những hành vi bồng bột của tuổi trẻ, nhưng tương lai của anh ta như được khảm vào đá bởi các thợ nề giỏi giang nhất: Rốt cuộc anh ta sẽ thấy bản thân bị trói buộc vào tước vị, đất đai và điền trang, trở thành một tù nhân của tầng lớp quý tộc cũng như các anh em cùng giới trong Thượng nghị viện. Không, sự tự do không dành cho những người thừa kế mà cho những đứa con còn lại. Và Jasper Arlesey, con trai thứ của Bá tước Harlow, biết điều đó. Anh cũng rất rõ, với tầm hiểu biết sâu sắc của một gã tội phạm thoát được giá treo cổ trong chân tơ kẽ tóc, rằng bất chấp việc phải từ bỏ tước vị, điền trang và của cải được thừa kế, mình vẫn là người đàn ông may mắn nhất trên trái đất khi được sinh ra sau Owen Elwood Arthur Arlesey - đứa con lớn tuổi nhất, con trai cả, Tử tước Baine và là người thừa kế tước vị bá tước - mười bảy tháng. Là con thừa kế, Baine phải gánh trọng trách lẫn sự đứng đắn nặng nề cùng với hy vọng và giấc mơ của một thế hệ Bá tước Harlow. Baine phải sống đúng với kỳ vọng của những người xung quanh - cha mẹ... giới quý tộc... người hầu... tất cả. Tử tước Baine không khiếm khuyết, đứng đắn và nhạt nhẽo ấy đã đáp ứng được kỳ vọng của tất cả những người đó. Tạ ơn trời! Đó là lý do vì sao tối hôm đó, Baine đã hộ tống em gái họ trong chuyến đi đầu tiên của cô tới Almack. Phải, vốn Jasper đã đồng ý nhận nhiệm vụ đó và hứa với Lavinia rằng anh chẳng dám bỏ lỡ một buổi tối quan trọng đến thế trong thời thanh xuân của cô. Nhưng những lời hứa của anh chỉ như gió thoảng mây bay, ai chả biết điều đó, vậy nên Baine là người thay anh làm nhiệm vụ. Đáp ứng kỳ vọng như thường. Thay vào đó, Jasper còn bận giành giật cả một gia tài ở một trong những sòng bạc xấu xa nhất Luân Đôn rồi ăn mừng bằng một hành động chính xác với những gì các đứa con thứ hư hỏng hay làm - ở trên giường một cô nàng xinh đẹp. Baine đâu phải là người duy nhất sống đúng kỳ vọng. Một bên khóe miệng Jasper nhếch lên thành nụ cười kín đáo khi nhớ lại khoái lạc mà mình có thừa vào tối hôm đó, rồi phai nhạt trước cảm giác nhoi nhói hối hận mà mình cảm thấy khi trèo ra khỏi chăn đệm ấm áp cùng đôi vòng tay sẵn sàng. Anh mở then cửa sau khu bếp của Dinh thự Arlesey rồi lẻn vào trong. Căn phòng tối om và im ắng trong luồng ánh sáng xám xịt của buổi sáng tháng Ba lạnh cắt da cắt thịt, vừa đủ tối để che đi bộ quần áo nhàu nhĩ, cà vạt buông hờ, và dấu hôn lộ ra dưới cổ áo lỏng lẻo. Khi cánh cửa đóng lại sau lưng, một cô hầu gái giật mình ngẩng lên từ nơi cô ta đang khom lưng, gần nửa người chui trong lò sưởi, đang đốt lửa để chuẩn bị trước khi đầu bếp đến. Cô ta đứng dậy, đặt một tay lên bộ ngực nở nang đáng yêu của mình. “Thưa ngài, ngài làm em sợ quá!” Jasper trao cho cô ta một nụ cười tinh quái trước khi cúi chào một cách hoa mỹ đến mức hẳn một triều thần cũng lấy làm tự hào. “Xin lỗi, cô gái đáng mến”, anh dài giọng, thích thú ngắm nét ửng hồng rực lên trên má cô ta thể hiện rằng cô ta tha thứ cho anh. Anh cúi người qua vai cô ta, sát sàn sạt đủ để nghe rõ nhịp thở cùng mạch đập dồn dập ở cổ cô ta rồi chộp lấy một cái bánh quy cứng từ cái khay thức ăn chuẩn bị cho các gia nhân trong bếp, nấn ná lâu hơn cần thiết một chút và thích cái cách cô ta run rẩy trông chờ. Tất nhiên, anh sẽ không chạm vào cô ta bởi cách đây rất lâu anh đã học được rằng không bao giờ được động tới gia nhân. Nhưng điều đó không ngăn anh yêu thương cô ta chút xíu. Không thể ngăn anh yêu thương toàn bộ phụ nữ - mọi vóc dáng, mọi khổ người, mọi tầng lớp. Làn da mềm mại và những đường cong còn mềm mại hơn của họ, cái cách họ hổn hển, cười khúc khích, và thở dài, cái cách những cô nàng giàu có chơi trò bẽn lẽn, còn những cô nàng ít may mắn hơn thì nhìn anh bằng đôi mắt đầy sao, háo hức mong được anh chú ý. Không nghi ngờ gì, phụ nữ là tạo vật hoàn mỹ nhất của Đức Chúa trời. Và ở tuổi hai mươi ba, anh có kế hoạch dành trọn một đời để thờ phụng họ. Anh nhai chiếc bánh quy ngọt và nháy mắt với cô ta. “Em sẽ không nói với ai là em thấy ta, phải không?” Mắt cô ta mở to, và cô ta lập tức lắc đầu. “K... không, thưa ngài! Không ạ!” Phải rồi, là con thứ luôn có những lợi ích nhất định. Nháy mắt thêm lần nữa và trộm thêm cái bánh bích quy, Jasper lẻn khỏi bếp vào hành lang hậu dẫn tới cầu thang cho gia nhân. “Ngài đã ở đâu vậy?” Stine, người lo liệu công việc kinh doanh của cha anh, hiện ra từ bóng tối trong bộ đồ đen, khuôn mặt dài và trắng bệch của ông ta đầy vẻ buộc tội cùng một vẻ gì đó tồi tệ hơn thế. Tim Jasper đập thình thịch vì ngạc nhiên dù anh sẽ bị nguyền rủa nếu thú nhận điều đó. Anh không phải trả lời Stine. Chỉ riêng việc phải trả lời ông chủ của Stine đã tệ lắm rồi. Tức là cha của anh. Người đàn ông dành cho con trai thứ của mình ít kỳ vọng hơn tất cả những người khác gộp lại. Người con trai đó ngả gót chân ra sau và cười toe toét với vẻ kiểu cách đầy kinh nghiệm. “Stern[1]“, anh dài giọng, thích cái cách người ông ta cứng đờ trước cái tên sai đó. “Lúc này khá sớm để đi săn, phải không?” “Không quá sớm đối với ngài.” Jasper mỉm cười như một con mèo nhìn thấy chim hoàng yến. “Ông nói mới đúng làm sao! Đúng là muộn rồi. Ta đã có một tối tuyệt vời, và mong ông không phá hoại... dư âm huy hoàng của nó.” Anh vỗ vai Stine rồi đi qua ông ta. “Cha ngài đang tìm ngài.” Anh không ngoái lại. “Hẳn rồi. Ta cũng chắc chắn là việc đó để sau cũng được.” “Tôi không nghĩ là có thể đâu, ngài Baine.” Anh mất một lúc mới nghe rõ từ đó, nghe thấy tước vị đó cũng như hiểu ra ý nghĩa của nó. Anh quay lại, vẻ khiếp hãi và khó tin chạy xuyên qua cơ thể. Khi anh cất lời, từ ngữ thốt ra thật non nớt và yếu ớt, chẳng hơn một tiếng thì thầm là bao. “Ông vừa gọi ta là gì?” Mắt Stine thoáng nheo lại. Sau này, chính cái cử động gần như không thể nhận thấy trên đôi mắt đen lạnh lùng ấy đã khiến Jasper nhớ mãi. Anh cao giọng đầy giận dữ, “Ta vừa hỏi ông đấy!”. “Ông ta gọi mày là Baine.” Jasper quay phắt lại đối mặt với cha anh, Bá tước Harlow, cao lớn, mạnh mẽ và thậm chí vẫn cứng rắn vào khoảnh khắc này. Trong thời điểm này. Dù cho di sản của ông ta đã sụp đổ và phải đối mặt với nỗi thất vọng của cuộc đời mình. Giờ là người thừa kế. Jasper vật lộn tìm hơi thở, rồi tìm lời để nói. Cha anh tìm ra trước. “Đáng ra phải là mày mới phải.” Mời các bạn đón đọc Chàng Có Thể Hủy Hoại Em Không? của tác giả Sarah MacLean.
Không Khóc Ở Kuala Lumpur
ĐỌC “KHÔNG KHÓC Ở KUALA LUMPUR” CỦA LINH LÊ Nếu Malaysia phải chọn một người để quảng bá du lịch cho Kuala Lumpur và cho đất nước Hồi giáo này, người đó sẽ không phải là Linh Lê. Hình ảnh Kuala Lumpur trong Không khóc ở Kuala Lumpur đầy ám ảnh, những trận mưa, sấm chớp kinh hoàng, những bi kịch nặng nề và ám ảnh, cả tiếng quạ kêu. Những tình tiết éo le đến mức không thể tin đó là sự thực. Những nhân vật sống bản năng đến khó tin. Nhưng rồi người đọc lại bị thuyết phục bởi một giọng văn rất thực, một tình cảm rất thực, thực tưởng như chính những trải nghiệm của nữ tác giả tuổi đời còn rất trẻ này. Không kỹ thuật, không tính toán, tả chân một cách như vô tình, lại đem đến cho tác phẩm một nét riêng, nhiều lúc sa đà vào chi tiết, nhưng nhiều lúc chính chi tiết làm cảm xúc như dồn nén, thậm chí nghẹt thở. Dường như với Linh Lê, không có chỗ cho những cá tính hời hợt. Tất cả đều được phơi bày. Cũng không có chỗ cho những cảm xúc bâng quơ. Hoặc là hạnh phúc ngất ngây, hoặc là đau khổ đến tột cùng. Và ở tận cùng của nỗi đau, khóc hay không khóc, dường như cũng không có gì khác biệt. Có cảm giác từng đoạn, từng đoạn, tác giả như “lên đồng” cùng tác phẩm và độc giả cũng bị dẫn dụ vào những dòng chữ đầy ám ảnh đó, có rất nhiều đoạn ám ảnh như vậy trong Không khóc ở Kuala Lumpur. Đọc liền một mạch, lật đến trang cuối cùng, gập lại cuốn sách, tôi liên tưởng tới một bộ phim Sitcom trên truyền hình, thể loại phim mà mọi diễn biến chỉ xảy ra trong bốn bức tường. Chỉ có điều, Sitcom gây cười và như một món giải trí nhẹ nhàng, trôi tuột trước khi đi ngủ. Còn với tiểu thuyết đầu tay này của Linh Lê, chúng ta bị ám ảnh. Một sự pha trộn giữa trong sáng và từng trải, ngây thơ và sâu sắc. Đó là những gì mà độc giả có thể cảm nhận được về tác giả trong tiểu thuyết đầu tay này của cô. Với những gì có trong Không khóc ở Kuala Lumpur, với một sự tinh tế và nhạy cảm hiếm có ở một nữ tác giả tuổi đời còn rất trẻ, văn học trẻ chào đón một hơi thở mới, thổi về từ Kuala Lumpur. BTV Lê Quang Minh - Đài truyền hình Việt Nam *** Không khóc ở Kuala Lumpur là truyện đầu tay của tác giả trẻ Linh Lê. Tác phẩm kể về những câu chuyện tình yêu của giới trẻ với muôn vàn sắc màu, có yêu thương, có hạnh phúc và không thể thiếu những buồn đau. Các bạn có thể tìm đọc cuốn sách trên trang đọc sách waka.  Truyện xoay quanh Việt An – một cô gái thông minh, sắc xảo, có ý thức cao về vẻ bề ngoài của mình. Ở cô tỏa ra vẻ đẹp kiêu ngạo, tràn đầy sức sống tuổi trẻ. Mười sáu tuổi, An quen một chàng trai tên Kiên. Anh học giỏi, đẹp trai, đã thu hút cô với dáng vẻ hiền lành của mình. Họ yêu nhau thắm thiết bằng tất cả sự nồng nhiệt, chân thành dành cho mối tình đầu thơ dại. Thế nhưng thanh xuân mấy ai giữ trọn được duy nhất một mối tình. Cô và Kiên chia tay. Mối tình ấy để lại vết sẹo đau đớn mà thỉnh thoảng vẫn nhói lên trong lòng An. Bước chân vào đại học, An nhanh chóng hòa nhập vào môi trường mới. Cô kết bạn với Hiên Lam và Chu Minh. Chu Minh là người thật thà, tốt bụng. Hiên Lam lại khác. Cô toát ra dáng vẻ bất cần, từng trải vì những vấp ngã trong quá khứ. Bộ ba thân thiết với nhau từ những ngày đầu vào đại học. Rồi Minh và An yêu nhau. Và ba người họ cùng nhau sang Kuala Lumpur du học. Học tại đất nước xa lạ, nhóm bạn bị cuốn vào không khí hiện đại của môi trường mới. Lam lao vào những cuộc yêu vô thưởng vô phạt để chơi bời cho bớt nhàm chán. Ngược lại An và Minh nảy sinh mâu thuẫn trong mối quan hệ. Hai người đứng trước bờ vực của sự chia tay. Trong hoàn cảnh đó, Ken xuất hiện. Giữa sự mệt mỏi trong mối quan hệ với Minh, Ken mang đến cho An cảm giác nhẹ nhõm. Sự mới lạ từ Ken đã cuốn hút An và làm sống dậy những nhiệt huyết, xúc cảm trong lòng An từ lâu đã bị chôn vùi sau mối tình với Kiên. An quyết định chia tay Minh để đến với Ken. Không chịu được sự tuyệt tình của An, Minh lựa chọn tự tử. Mọi chuyện chưa kịp lắng xuống, An lại phát hiện một sự thật bàng hoàng mà Ken che giấu. Ken và Lam vụng trộm. Một người là người yêu, một người là bạn thân, vậy mà hai người họ lại lén lút yêu đương sau lưng An. Hai người họ đến với nhau chỉ trong giây phút bốc đồng nhất thời. Ken vốn thuần khiết và ngay thẳng, nhưng phần bản chất đàn ông bên trong Ken đã không kịp khống chế nên mới lao vào cuộc vui với Lam. Hai người họ quyết định chấm dứt mối tình này bằng một chuyến đi du lịch. Đó cũng là chuyến du lịch cuối cùng trong cuộc đời họ. Ken và Lam chết vì tai nạn giao thông. Ken, Lam hay Chu Minh đều là một phần thanh xuân, là tuổi trẻ của An. Dẫu họ có đối xử với cô không công bằng nhưng họ đã sát cánh bên cô trong thời gian tươi đẹp nhất. Họ đã chứng kiến An vấp ngã và trưởng thành. Vậy mà giờ đây, tất cả đều đã ra đi, bỏ mặc An một mình trên cõi đời này. Tuổi thanh xuân của An cũng chấm dứt từ đây. Cái chết của những người bạn cũng chính là cái chết tâm đối với An. Không khóc ở Kuala Lumpur là thế giới những con người trẻ tuổi, trẻ lòng. Họ vốn là một tờ giấy trắng, không có gì trong tay nhưng họ có nhiệt huyết, hết lòng trong tình yêu, tình bạn. Họ sống hết mình với những khát khao cháy bỏng để cho dù đến chết cũng không hối tiếc. Nhưng bên cạnh đó, trong tâm hồn họ cũng lẩn khuất những góc tối không muốn ai biết đến. Ví dụ như với An là mối tình ngây dại đánh đổi tất cả ngây thơ, trong trắng với Chu Minh. Chính sự sứt mẻ, không hoàn hảo đã tạo dựng nên con người, đặc biệt là người trẻ. Ngây thơ làm nên thất bại. Nhưng từ những tổn thương ấy họ mới có thể trưởng thành. Với Không khóc ở Kuala Lumpur, Linh Lê đã tái hiện lại một thành phố Á Đông rực rỡ phù hoa. Nổi bật trên cái nền đó là cuộc sống của những du học sinh đầy khó khăn, luôn bị cám dỗ bởi những điều mới lạ. Ở nơi đấy, tuy có những buồn đau nhưng cũng có những kí ức tươi đẹp của sự trưởng thành. Tác giả đã tái hiện lại cuộc sống của những người trẻ bằng lối kể tự nhiên, dễ hiểu. Nhân vật được xây dựng có cá tính riêng. Tất cả tạo nên những sắc màu rực rỡ có vui, có buồn, có vấp ngã, có trưởng thành của tuổi trẻ. *** Mời các bạn đón đọc Không Khóc Ở Kuala Lumpur của tác giả Linh Lê.