Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thuyền Trưởng Và Đại Úy

Có những cuốn sách mà ngay từ thời còn nhỏ nó đã trở thành người bạn thân thiết của ta và sau đó nó cứ tồn tại trong suốt cả đời mình. Cuốn tiểu thuyết “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” của Veniamin Aleksandrovich Kaverin, một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Liên Xô là một cuốn sách như vậy. Không phải ngẫu nhiên mà từ Nhà xuất bản Văn học Thiếu nhi, đến Nhà xuất bản Đội Cận Vệ thanh niên, Nhà xuất bản Văn học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia và hàng chục Nhà xuất bản khác ở Liên Xô đã in đi in lại cuốn tiểu thuyết này tới bốn, năm chục lần, mỗi lần hàng chục vạn bản[1]. Kaverin sinh năm 1902. Từ ngày còn theo học ở trường trung học, ông đã say mê văn học và bắt đầu làm thơ. Năm 1919 ông học ở trường Đại học Tổng hợp Moskva; năm 1920 chuyển sang học ở trường Đại học Tổng hợp Leningrad và đồng thời còn tham gia nghiên cứu tiếng Ả-rập trong Học viện Ngôn ngữ Phương Đông. Giữa lúc đó “Câu lạc bộ văn học” Leningrad tổ chức cuộc thi văn cho các cây bút thanh niên, Kaverin đã tham gia với cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình, cuốn “Cây số thứ 11”. Truyện này đã được Maksim Gorky rất thích và khen ngợi. Từ đó trở đi Kaverin thường xuyên được sự chỉ đạo và giúp đỡ của nhà văn cách mạng vĩ đại đó. Trong thời kỳ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại, Kaverin đã công tác trên hạm đội Phương Bắc, đồng thời làm phóng viên cho tờ báo “Tin tức” và đã được tặng thưởng “Huy chương cờ đỏ”. Thời kỳ đầu, phần lớn những tác phẩm của Kaverin là những cuốn tiểu thuyết ảo tưởng; sau đó ông chuyển sang đề tài bộ mặt tinh thần và quá trình trưởng thành của thanh niên trong thời đại Xô Viết. Tiểu thuyết của ông khá nhiều, có hơn tám quyển lớn và nhiều cuốn đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài. “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” là cuốn tiểu thuyết dài nổi tiếng nhất của Kaverin. Tác phẩm kể lại câu chuyện về chiếc tàu thám hiểm “St. Maria” của nước Nga trước Cách mạng tháng Mười, về thuyền trưởng Tatarinov và đội thám hiểm do ông lãnh đạo đã bị mất tích ở vùng Bắc cực và về chuyện đại úy không quân Liên Xô Aleksandr Grigoriev sau ngày Cách mạng đã đi tìm đội thám hiểm đó. Câu chuyện kéo dài trong hơn ba mươi năm, qua những tình tiết phức tạp, tinh tế, tác giả đã biểu hiện vô cùng sắc nét ý chí kiên cường và tinh thần cao thượng của thanh niên Liên Xô. Sau khi xuất bản, cuốn tiểu thuyết đã lôi cuốn người đọc mãnh liệt. Năm 1946 “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” đã được tặng giải thưởng văn học Stalin. Hiện nay “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” vốn là một trong số tác phẩm được nhân dân và thanh thiếu niên Liên Xô yêu thích nhất. Về giá trị của tác phẩm, nhà phê bình văn học V. Annenkov đã viết: “Grigoriev, nhân vật chính của “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” đã trở thành tấm gương cho nhiều người. Không phải ngẫu nhiên mà một thanh niên nước ngoài đã viết: ““THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” đã đặt vào tay anh một vũ khí sắc bén. Vũ khí ấy là “Đấu tranh và tìm tòi, quyết đạt mục đích chứ không đầu hàng!”” Tính chất lãng mạn của lao động sáng tạo, của phát minh khoa học, tính chất lãng mạn của dũng cảm và chiến công là động cơ của tư tưởng và tình cảm trong những nhân vật tốt đẹp nhất của Kaverin”. Theo nhà phê bình văn học G. Trefilova thì “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” đã liên tiếp góp phần đào tạo thế hệ thanh niên cùng thời đại với nhân vật của nó… “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” được tính trong số những cuốn sách văn học Xô Viết đặc biệt được yêu thích, đặc biệt được phổ biến rộng rãi trong quần chúng, những cuốn sách ấy xuất sắc ở điểm là mọi người đều mê. Và theo ý kiến của Viện văn học thế giới mang tên Lenin thì “Cuốn tiểu thuyết “THUYỀN TRƯỞNG VÀ ĐẠI ÚY” của Kaverin đầy tinh thần dũng cảm, bền bỉ, dám nghĩ, dám làm. Nó đã trở thành một trong những cuốn sách được thanh thiếu niên Liên Xô yêu thích nhất”. Tóm lại đây là một tác phẩm văn học lớn, một cuốn tiểu thuyết có nội dung giáo dục rất cao, có sức hấp dẫn mãnh liệt. Hấp dẫn, không chỉ vì nó ly kỳ, dồn dập, cái gì cũng mới lạ, mà còn do nội dung tư tưởng, do số phận và cá tính của các nhân vật chính, do lời văn trong sáng, tươi mát và phong phú của nó. Xin trân trọng giới thiệu với toàn thể các bạn nam nữ thanh niên và các em thiếu niên lớn tuổi. Hà Nội, mùa xuân năm 1974 Ngọc Kỳ *** Tôi còn nhớ mãi cái sân rộng thênh thang nhưng bẩn thỉu và những căn nhà thấp bé có hàng rào bao bọc ấy. Cái sân ở ngay cạnh một con sông và cứ mùa xuân đến khi băng tuyết tan, nước rút đi là trên sân lại đầy những củi rác và vỏ sò, đôi khi còn có cả những vật rất hiếm thấy. Chẳng hạn như có lần chúng tôi vớ được một cái túi chật ních những bì thư. Sau đó nước sông lại đưa đến và nhẹ nhàng đẩy luôn chính cái người đưa thư ấy vào bờ. Anh ta nằm ngửa, hai tay giơ lên như muốn che nắng. Người này còn trẻ lắm, tóc vàng hoe, những chiếc khuy đồng trên áo vét kín cổ sáng lóng lánh – có lẽ trước khi đi đưa chuyến thư cuối cùng này anh ta vừa mới đánh khuy bằng phấn. 01 (1) Người cảnh sát mang cái túi đi, vứt lại bó thư bên trong đã bị nước ngấm ướt sũng. Dì Dasha nhặt đem về nhà. Chắc là túi đựng thư còn mới, lại làm bằng da và nắp đậy rất khít nên những bức thư bên trong vẫn còn xem được. Mỗi buổi tối dì Dasha lại đọc lên một bức thư, có khi dì chỉ đọc cho mình tôi nghe, có khi cả xóm cùng nghe. Việc đó thú vị đến nỗi cả các bà già thường đến nhà ông Skovorodnikov chơi bài cũng bỏ đấy đến nhập bọn với chúng tôi. Trong số thư ấy có một bức được dì Dasha hay đọc nhất, đến nỗi sau này tôi đã thuộc lòng. Từ đó đến nay bao nhiêu năm tháng đã trôi qua mà tôi vẫn còn thuộc từ đầu đến cuối. “Bà Maria Vasilievna kính mến! Trước hết xin báo tin để bà rõ là ông Ivan Lvovich hãy còn sống và khỏe mạnh. Cách đây bốn tháng, theo lệnh của ông, tôi đã rời khỏi chiếc tàu buồm cùng mười ba người nữa trong đội thủy thủ. Tôi hy vọng chẳng bao lâu nữa sẽ được gặp bà, nên tôi sẽ không viết tỉ mỉ về chuyến đi gian nan này của chúng tôi trên những núi băng trôi về đất Franz Josef. Chúng tôi đã phải chịu đựng mọi nguy nan và gian khổ khôn lường. Tôi chỉ muốn nói với bà một điều là trong cả nhóm chỉ còn mình tôi đến được mũi Flora một cách an toàn (nếu không kể đến đôi chân cứng dại vì băng giá). Chiếc tàu “St. Phocas” thuộc đội thám hiểm của trung úy Sedov đã cứu tôi và đưa về Arkhangelsk. Tôi được sống sót nhưng có lẽ phải lấy làm tiếc về điều đó vì một ngày gần đây tôi sẽ phải cưa chân và sau đó thì chỉ còn biết trông chờ ở lòng nhân từ của Chúa. Tôi không biết sẽ sống ra sao khi không còn chân nào nữa. Dưới đây tôi xin báo để bà biết: chiếc tàu “St. Maria” bị nghẽn băng ở ngoài biển Kara và từ tháng Mười năm 1912 nó không ngừng di chuyển lên phía Bắc cùng với những tảng băng Bắc cực. Khi chúng tôi rời khỏi chiếc tàu buồm thì nó ở vĩ độ 82°55’. Nó nằm nguyên giữa biển băng hay nói cho đúng hơn thì từ mùa thu năm 1912 nó còn nằm nguyên ở đó cho đến khi chúng tôi đi khỏi. Rất có thể nó sẽ đi được trong năm nay, nhưng theo ý tôi thì có lẽ phải đến sang năm, khi nó trôi đến gần chỗ mà chiếc tàu “Fram” đã được giải thoát, nó mới có khả năng thoát ra khỏi biển băng ấy. Lương thực còn cho những người ở lại trên tàu đủ dùng đến tháng Mười hoặc tháng Mười một sang năm. Dù thế nào đi nữa cũng xin bà tin cho rằng chúng tôi rời khỏi tàu không phải vì nó ở vào tình thế tuyệt vọng. Tất nhiên tôi phải chấp hành lệnh của Thuyền trưởng, song cũng xin thú thật rằng lệnh đó của ông rất phù hợp với nguyện vọng riêng của tôi. Khi tôi cùng với mười ba thủy thủ rời khỏi tàu thì ông Ivan Lvovich có nhờ tôi chuyển một gói niêm phong cho Ngài Cục trưởng Cục Địa lý thủy văn hiện đã quá cố và một phong thư cho bà. Tôi không dám mạo hiểm gửi bưu điện những thứ ấy bởi vì hiện nay chỉ mình tôi còn sống, tôi phải thận trọng tất cả những gì làm bằng chứng cho hành vi chính trực của mình. Do đó xin bà phái người hoặc bà đích thân đến Arkhangelsk để nhận các thứ trên, bởi vì tôi còn phải nằm ở nhà thương này ít nhất cũng là ba tháng nữa. Tôi mong thư trả lời của bà. Xin gửi bà lời chào kính trọng và luôn luôn sẵn sàng hầu bà. Hoa tiêu tàu viễn hành I. Klimov” Địa chỉ đề thư đã bị nước thấm nhòe nhưng vẫn còn có thể thấy được, địa chỉ ấy cũng viết bằng nét chữ cứng cáp, thẳng tắp trên chiếc phong bì giấy dày đã ngả màu vàng. Đối với tôi, bức thư ấy cứ như một thứ kinh cầu nguyện – tối nào tôi cũng nhẩm đi nhẩm lại trong lúc chờ cha tôi đi làm về. 01 (3) Cha tôi ở bến tàu về rất khuya. Giờ đây tàu thủy ra vào hàng ngày và không chở đay gai, bột mì như trước nữa mà toàn chở những hòm đạn và phụ tùng súng ống nặng trình trịch. Cha tôi người đẫy đà, vạm vỡ, ria mép rậm, đầu đội chiếc mũ dạ con và mặc quần vải bạt. Mẹ tôi nói luôn mồm còn cha thì cứ lặng thinh ngồi ăn, thỉnh thoảng ho vài tiếng và vuốt bộ ria. Sau đó cha dắt các con – tôi và em gái tôi – lên giường đi ngủ. Từ người cha tỏa ra mùi bao tải, khi thì mùi táo, mùi bột mì, có khi lại là mùi hôi của dầu máy. Tôi còn nhớ cái mùi đó đã làm cho tôi phát ngán. Có lẽ chính trong cái đêm bất hạnh ấy khi nằm cạnh cha tôi, lần đầu tiên tôi đã nhận xét một cách có ý thức về tất cả mọi vật chung quanh. Một căn phòng nhỏ hẹp với cái trần thấp lè tè dán giấy báo. Bên dưới cửa sổ có một khe hở lớn và qua đó gió từ ngoài sông lùa vào. Đó là ngôi nhà của chúng tôi. Một người đàn bà xinh đẹp, da ngăm đen để xõa tóc đang nằm ngủ trên hai chiếc bao tải nhét đầy rơm đặt dưới đất, đó là mẹ tôi. Đôi bàn chân trẻ con nhỏ bé thò ra ngoài cái chăn rách tả tơi, đó là chân em gái tôi. Một thằng bé gầy gò đen đủi, mặc chiếc quần rộng thùng thình, run rẩy bò từ trên giường xuống và rón rén đi ra sân – đó là tôi. * *    * Địa điểm thích hợp đã được chọn sẵn. Dây dợ chuẩn bị đầy đủ rồi, đến cả củi khô cũng đã chất đống sẵn ở cạnh Prolom, chỉ còn thiếu có miếng thịt thiu nữa là có thể đi câu tôm biếc được thôi. Đáy con sông ở chỗ chúng tôi màu sắc sặc sỡ cho nên tôm ở đây cũng lắm màu nhiều vẻ. Con thì đen, con thì xanh màu lá cây, con thì vàng. Những loại tôm này cứ đốt lửa lên là chúng sẽ đến và dùng nhái con làm mồi mà câu cũng được. Nhưng con tôm biếc thì chỉ có thịt thiu mới câu được, về điểm này, tất cả bọn trẻ con đều khẳng định như vậy. Mãi hôm qua mới gặp may: tôi xoáy được của mẹ tôi một miếng thịt, đem ra phơi nắng suốt một ngày. Bây giờ nó đã thối rữa ra rồi, chẳng cần phải cầm cũng đã thấy rõ. Tôi chạy thật nhanh dọc theo bờ sông đến Prolom. Ở đây đã chất sẵn củi để đốt lửa. Từ xa đã có thể nhìn thấy hai cái tháp: bờ bên này là tháp Pokrovskaya, còn bờ bên kia là tháp Spasskaya. Sau khi nổ ra chiến tranh, tháp Spasskaya được dùng làm kho chứa da của quân đội. Petya Skovorodnikov quả quyết rằng ngày xưa trong tháp Spasskaya có ma và chính mắt cậu ta đã nhìn thấy lũ ma bơi từ bờ bên kia sông sang bờ bên này của chúng tôi. Sau khi sang sông, lũ ma đánh đắm thuyền đi và kéo nhau vào sống ở trong tháp Pokrovskaya. Cậu ấy còn cam đoan rằng lũ ma rất thích hút thuốc lá và uống rượu. Đầu chúng nhọn hoắt và trong bọn chúng có nhiều đứa thọt chân bởi vì chúng rơi từ trên trời xuống. Lũ ma ở trong tháp Pokrovskaya ngày càng sinh sôi nảy nở và mỗi khi đẹp trời là chúng lại lẻn vào bờ ăn cắp thuốc lá của những người đánh cá buộc vào lưới để cúng thủy thần. Tóm lại là khi tôi nhìn thấy một bóng đen gầy gò ở chỗ bức tường hổng trong lúc đang thổi lửa thì tôi cũng chẳng lấy gì làm ngạc nhiên cả. - Nhóc con, mày làm gì ở đây? – Con ma hỏi tôi y như người vậy. Nếu lúc đó tôi nói được tôi cũng không trả lời nó. Tôi cứ nhìn nó trừng trừng và run bắn người lên. Đúng vào lúc đó mặt trăng ló ra khỏi đám mây nên có thể nhìn thấy người lính canh đang đi lại chung quanh kho chứa da của quân đội ở bờ sông bên kia, dáng to lớn, đẫy đà, lưng đeo khẩu súng trường chĩa nòng lên trời. - Câu tôm à? “Con ma” nhẹ nhàng nhảy xuống và đến ngồi bên đống lửa. - Sao cứ câm như hến thế, thằng ngốc? – Nó hỏi lại, giọng cục cằn. Không, đó không phải là ma! Đó chính là một người gầy còm hốc hác, đầu không mũ, gã cầm cái gậy con, luôn tay đập gậy vào chân mình. Tôi không nhìn kỹ mặt gã, nhưng tôi cũng nhận ra ngay là gã mặc có mỗi chiếc áo vét lên mình trần và dùng một chiếc khăn choàng thay cho áo sơ-mi. - Sao, mày không muốn nói chuyện với tao à, thằng khốn? – Gã lấy gậy chọc chọc vào người tôi mấy cái. – Thế nào, trả lời đi! Trả lời đi! Không thì… Không đứng dậy, gã nắm luôn lấy chân tôi kéo tới chỗ gã. Tôi ú ớ. - À, thì ra mày vừa câm vừa điếc! Gã bỏ tôi ra và cứ ngồi mãi, tay cầm gậy chọc vào đống than. - Cái thành phố hay thật, – gã nói vẻ chán chường. – Nhà nào cũng có chó; bọn cảnh sát như bầy thú dữ. Một lũ ăn tôm khốn kiếp! Gã bắt đầu chửi rủa. Nếu tôi biết sau đó một tiếng đồng hồ việc gì sẽ xảy ra thì dù tôi không thể nói lại với người khác một lời nào, tôi cũng sẽ cố gắng nhớ lấy tất cả những lời gã nói. Gã chửi rủa mãi, thậm chí nghiến răng nghiến lợi lại mà nhổ một bãi nước bọt vào đống lửa. Sau đó gã im lặng ngửa đầu lên ngồi bó gối. Tôi liếc nhìn và nếu gã không đáng ghét như vậy thì có lẽ tôi cũng đã thương hại gã. Bỗng gã đứng phắt dậy. Vài phút sau gã đã ở trên chiếc cầu phao – chiếc cầu này do quân lính mới bắc – sau đó thoáng thấy bóng gã bên bờ bên kia rồi mất hút. Đống lửa của tôi tắt ngấm. Nhưng dù không có ánh lửa tôi vẫn thấy rõ là tôi đã câu được rất nhiều tôm, nhưng trong đó không có con tôm biếc nào cả. Toàn là những con tôm đen thông thường chẳng lấy gì làm to lắm. Đem những con tôm này đến bán ở quán rượu chỉ được một cô-pếch[2] một đôi. Gió lạnh từ đâu phía sau thổi tới cứ lùa vào ống quần của tôi, tôi bắt đầu thấy lạnh cóng. Phải về thôi! Lần cuối cùng tôi quăng dây câu có sẵn mồi thịt thiu xuống nước thì thấy người lính gác ở bờ sông bên kia đang chạy xuống dốc. Tháp Spasskaya đứng sừng sững trên con sông. Từ tháp đến bờ sông là một cái dốc rải đá. Trăng sáng vằng vặc, trên dốc chẳng có một bóng người nào cả. Vậy mà không hiểu tại sao người lính gác lại vừa chạy vừa bỏ súng ra khỏi vai. - Đứng lại! Người lính không bắn mà chỉ lên đạn. Ngay lúc đó tôi nhìn thấy rõ người đang bị rượt theo trên cầu phao, sở dĩ tôi phải viết thận trọng như thế là vì cho đến giờ tôi cũng không dám khẳng định rằng đó chính là người trước đây một tiếng đồng hồ đã ngồi bên cạnh đống lửa của tôi. Song hình như giờ đây tôi vẫn còn nhìn thấy cái cảnh thế này: bờ sông tĩnh mịch, con đường sáng ánh trăng như rộng thêm ra chạy thẳng từ chỗ tôi đến những chiếc xà-lan đầu cầu phao và hai cái bóng đen dài của những người đang chạy trên cầu. Người lính gác chạy nặng nề và có một lần phải đứng lại để thở. Song người chạy trước rõ ràng lại còn nhọc nhằn hơn, bởi vì có lúc bỗng nhiên gã ngồi thụp xuống bên thành cầu. Người lính gác chạy tới chỗ gã, thình lình kêu lên một tiếng rồi ngã vật ra đằng sau – có lẽ bị đánh bất ngờ từ dưới lên. Người lính nằm vắt trên thành cầu rồi từ từ tuột xuống. Lúc đó tên hung thủ đã biến mất sau bức tường pháo đài. Không hiểu tại sao đêm hôm đó lại không có ai canh gác cầu phao: trong chòi gác trống không mà chung quanh cũng chẳng có người nào. Chỉ có mỗi mình người lính gác nằm nghiêng ở đó, hai tay vươn ra phía trước. Một miếng da to tướng văng ra bên cạnh. Lúc tôi sợ quá run bắn người lên đi đến gần thì thấy người lính ngáp một cách chậm chạp. Sau nhiều năm tôi mới biết rằng có nhiều người cũng ngáp trước khi chết. Đoạn người lính thở một hơi rõ dài, dường như khoan khoái, rồi tất cả lại trở nên tĩnh mịch. Chẳng biết làm gì hơn, tôi cúi xuống nhìn rồi chạy đến chòi gác xem – lúc đó tôi mới biết trong chòi gác không có người, thế là tôi lại quay về chỗ người lính. Tôi không kêu lên được, không phải vì hồi ấy tôi bị câm mà chính là vì sợ quá. Đúng lúc ấy từ trên bờ có tiếng người nói, tôi cắm đầu chạy về chỗ câu tôm vừa rồi. Sau này tôi cũng chẳng bao giờ lại chạy nhanh đến thế, thở không ra hơi, đau tức cả ngực. Tôi cũng chẳng kịp lấy cỏ đậy giỏ tôm vì khi về đến nhà thì tôm rơi mất một nửa. Lúc đó còn chú ý gì đến tôm nữa! Tôi lẳng lặng hé cửa, tim đập thình thịch. Trong gian phòng duy nhất của chúng tôi tối om om, mọi người đang ngủ ngon lành, chẳng ai biết tôi lén ra đi rồi lại trở về. Một phút sau tôi lại nằm lên chỗ cũ cạnh cha tôi. Nhưng mãi tôi vẫn không tài nào chợp mắt được. Trước mắt tôi lại hiện ra chiếc cầu phao dưới ánh trăng vằng vặc và hai cái bóng đen dài đang chạy.   Mời các bạn đón đọc Thuyền Trưởng Và Đại Úy của tác giả Veniamin Kaverin.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Thể Xác và Tâm Hồn
Xuất bản năm 1943, tác phẩm Thể xác và Tâm hồn thành công vang dội khi được vinh danh tại giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp. Bộ tiểu thuyết được công chúng và giới phê bình văn học đánh giá cao, nhưng cũng đồng thời làm dấy lên tranh luận sôi nổi về những góc khuất của nghề Y được phơi bày trong tác phẩm.  Bức tranh hiện thực sâu sắc trong hoạt động y tế cũng như đời sống xã hội nước Pháp vào nửa đầu thế kỷ XX đã được tác giả khắc họa chân thực với những bất công trong xã hội, những tình yêu éo le, những cảnh đời ngang trái, những kẻ cơ hội, những bác sĩ cố chấp... Và cả những tâm hồn cao thượng, những y bác sĩ tận tâm, dám hy sinh, dám dấn thân và đi đến tận cùng đức tin của mình. *** Thể xác và Tâm hồn: Câu chuyện xúc động về ngành Y Theo nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, "Thể xác và tâm hồn" như một bức panorama, phơi bày những khía cạnh về đời sống ngành y của nước Pháp, rộng ra là cả thế giới. Từ xưa đến nay, Y học gắn liền với tiến trình phát triển của nhân loại. Thuở xa xưa, nhiều nền văn minh đang ở đỉnh cao rực rỡ phút chốc bị xóa sổ vì những dịch bệnh khủng khiếp. Điều đó chứng minh rằng, con người cần chăm sóc sức khỏe, hay cần phải phát triển y học trước nhất. Vì vậy, ngành y ở Việt Nam luôn là một trong những ngành quan trọng được đầu tư vì sự phát triển toàn diện của người dân. Trong năm vừa qua, Việt Nam được y tế thế giới biểu dương là quốc gia thành công nhất trong phòng, chống dịch COVID-19, huy động được toàn bộ hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tham gia phòng chống COVID-19 với chi phí thấp nhất. Có được thành công như vậy phần lớn nhờ những đóng góp không mệt mỏi của toàn dân nói chung và đội ngũ y bác sĩ nói riêng. Chính vì thế Phúc Minh Books cho ra mắt bộ sách Thể xác và tâm hồn của tác gia Maxence van der Meersch, một bộ sách nổi tiếng về ngành y thế kỉ 19 như một sự tri ân đối với những người anh hùng tuyến đầu đã hy sinh chống dịch. Thể xác và tâm hồn được xem là một trong những tác phẩm quan trọng nhất trong văn nghiệp của Maxence Van der Meersch. Bộ tiểu thuyết tâm lý xã hội này từng được vinh danh Giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp năm 1943 và dịch sang 13 ngôn ngữ khác nhau. Maxence Van der Meersch (1907-1951) là một trong những nhà văn nổi bật của văn học Pháp thế kỷ XX. Ông từng tốt nghiệp ngành Luật, nhưng lại có niềm đam mê đặc biệt với văn chương. Tác phẩm đầu tay - La Maison dans la dune (1932) - đã đặt nền móng cho sự nghiệp sáng tác của ông. Năm 1936, Maxence Van der Meersch gây tiếng vang lớn với tác phẩm L'Empreinte du dieu (Dấu ấn của Chúa), được trao giải Goncourt danh giá. Đến năm 1943, tài năng văn chương của ông tiếp tục được khẳng định với tiểu thuyết Corps et Âmes (Thể xác và Tâm hồn) - Giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp năm 1943. Bối cảnh câu chuyện diễn ra tại thành phố Angers những năm 1937 - 1938, Thể xác và Tâm hồn đã vẽ nên một bức tranh hiện thực rộng lớn, sâu sắc về đời sống xã hội, cũng như hoạt động y tế tại Pháp trong những năm nửa đầu thế kỷ XX, liên quan đến các bệnh lý tâm thần và bệnh lao. Hình tượng nhân vật chính Michel cũng chính là cuộc đời của bác sĩ Paul Carton, một vị bác sĩ mà nhà văn Maxence Van der Meersch vô cùng biết ơn và ngưỡng mộ - bởi ông cho rằng vợ mình, Thérèse, sống sót khỏi bệnh lao là nhờ công ơn của Paul Carton. Điểm nổi bật của nhân vật chính - Michel tuy là một chàng trai có xuất phát điểm tốt hơn đám bạn, có cha là một vị bác sĩ tiếng tăm, có địa vị trong giới Y học tại trường Đại học nổi tiếng, nhưng anh không vì thế mà kiêu ngạo. Trái lại anh hết sức học tập trau dồi khả năng phẫu thuật cũng như y đức. Dường như trái ngược với những cậu bạn cùng khóa chỉ chăm chăm dựa vào thế lực và nạn chia bè phái giữa các giáo sư đầu ngành với nhau để tiến thân, Michel chủ trương tin vào bản thân cũng như những giá trị cốt lõi. Cậu sẵn sàng từ bỏ sự sắp xếp của cha trên con đường hoạn lộ tươi sáng để được sống độc lập. Michel còn dành thời gian để theo đuổi cách chữa bệnh lao mới, đồng thời sống vì người bệnh mà không toan tính cũng như trục lợi trên bệnh tình của họ. Bản thân tác phẩm này khi ra mắt tại Pháp đã bị giới y học chỉ trích nặng nề bởi họ cho rằng Maxene van der Meersch chỉ là kẻ ngoại đạo không am hiểu sâu sắc về ngành y, nhưng nó lại được giới phê bình và công chúng đón nhận bởi nhà văn đã lột tả, khá chân thực những góc khuất của giới y-bác sĩ trong bối cảnh xã hội Pháp những năm 1937-1938 (Vấn nạn rượu bia, mại dâm; hậu quả của đời sống sinh hoạt thiếu khoa học, cách khám chữa bệnh quan liêu tắc trách, tranh giành danh vọng, địa vị trong gia đình/xã hội). Vậy nên tính thời đại của câu chuyện trong Thể xác và tâm hồn thực sự vẫn còn giá trị trong thời đại ngày nay. ***  “Thể xác và tâm hồn ” - cuốn sách tri ân những “Anh hùng áo trắng“  Bộ sách “Thể xác và tâm hồn “ của tác gia Maxence van der Meersch, một bộ sách nổi tiếng về ngành y thế kỉ 19 như một sự tri ân đối với những người anh hùng tuyến đầu đã hy sinh chống dịch COVID-19. “Thể xác và tâm hồn” của tác gia Maxence van der Meersch, một bộ sách nổi tiếng về ngành y thế kỉ 19 như một sự tri ân đối với những người anh hùng tuyến đầu đã hy sinh chống dịch. "Thể xác và tâm hồn" được xem là một trong những tác phẩm quan trọng nhất trong văn nghiệp của Maxence Van der Meersch. Bộ tiểu thuyết tâm lý xã hội này từng được vinh danh Giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp năm 1943 và dịch sang 13 ngôn ngữ khác nhau. Maxence Van der Meersch (1907-1951) là một trong những nhà văn nổi bật của văn học Pháp thế kỷ XX. Ông từng tốt nghiệp ngành Luật, nhưng lại có niềm đam mê đặc biệt với văn chương. Tác phẩm đầu tay - La Maison dans la dune (1932) - đã đặt nền móng cho sự nghiệp sáng tác của ông. Năm 1936, Maxence Van der Meersch gây tiếng vang lớn với tác phẩm L’Empreinte du dieu (Dấu ấn của Chúa), được trao giải Goncourt danh giá. Đến năm 1943, tài năng văn chương của ông tiếp tục được khẳng định với tiểu thuyết Corps et Âmes (Thể xác và Tâm hồn) - Giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp năm 1943. Bối cảnh câu chuyện diễn ra tại thành phố Angers những năm 1937 - 1938, "Thể xác và Tâm hồn" đã vẽ nên một bức tranh hiện thực rộng lớn, sâu sắc về đời sống xã hội, cũng như hoạt động y tế tại Pháp trong những năm nửa đầu thế kỷ XX, liên quan đến các bệnh lý tâm thần và bệnh lao.Hình tượng nhân vật chính Michel cũng chính là cuộc đời của bác sĩ Paul Carton, một vị bác sĩ mà nhà văn Maxence Van der Meersch vô cùng biết ơn và ngưỡng mộ - bởi ông cho rằng vợ mình, Thérèse, sống sót khỏi bệnh lao là nhờ công ơn của Paul Carton.  Điểm nổi bật của nhân vật chính - Michel tuy là một chàng trai có xuất phát điểm tốt hơn đám bạn, có cha là một vị bác sĩ tiếng tăm, có địa vị trong giới Y học tại trường Đại học nổi tiếng, nhưng anh không vì thế mà kiêu ngạo. Trái lại anh hết sức học tập trau dồi khả năng phẫu thuật cũng như y đức. Dường như trái ngược với những cậu bạn cùng khóa chỉ chăm chăm dựa vào thế lực và nạn chia bè phái giữa các giáo sư đầu ngành với nhau để tiến thân, Michel chủ trương tin vào bản thân cũng như những giá trị cốt lõi. Cậu sẵn sàng từ bỏ sự sắp xếp của cha trên con đường hoạn lộ tươi sáng để được sống độc lập. Michel còn dành thời gian để theo đuổi cách chữa bệnh lao mới, đồng thời sống vì người bệnh mà không toan tính cũng như trục lợi trên bệnh tình của họ. Bản thân tác phẩm này khi ra mắt tại Pháp đã bị giới y học chỉ trích nặng nề bởi họ cho rằng Maxene van der Meersch chỉ là kẻ ngoại đạo không am hiểu sâu sắc về ngành y, nhưng nó lại được giới phê bình và công chúng đón nhận bởi nhà văn đã lột tả, khá chân thực những góc khuất của giới y-bác sĩ trong bối cảnh xã hội Pháp những năm 1937-1938 (Vấn nạn rượu bia, mại dâm; hậu quả của đời sống sinh hoạt thiếu khoa học, cách khám chữa bệnh quan liêu tắc trách, tranh giành danh vọng, địa vị trong gia đình/xã hội.) Vậy nên tính thời đại của câu chuyện trong "Thể xác và tâm hồn" thực sự vẫn còn giá trị trong thời đại ngày nay. Bảo Châu *** Giới thiệu tác giả và tác phẩm MAXENCE VAN DER MEERSCH, nhà văn Pháp, sinh năm 1907 tại thành phố Roubaix, tốt nghiệp ngành Luật và Văn chương, mất năm 1951. Tác phẩm “NGÔI NHÀ TRONG CỒN CÁT” (1932), TỘI LỖI CỦA THẾ GIAN (1934), MARIA, CÔ GÁI VÙNG FLANDRE (1935), DẤU VẾT CỦA CHÚA (1936, giải thưởng VIỆN HÀN LÂM GONCOURT), THỂ XÁC VÀ TÂM HỒN (1943, giải thưởng VIỆN HÀN LÂM PHÁP), CÔ GÁI NGHÈO (1948) v.v...   THỂ XÁC và TÂM HỒN là một cuốn tiểu thuyết tâm lý xã hội vô cùng phong phú, nó phơi bày trước mắt người đọc một bức tranh đời thực rộng lớn và sâu sắc: những bất công đầy dẫy trong xã hội đồng tiền khi đám thượng lưu giàu có mặc sức hưởng thụ và chà đạp lên đạo lý, nhân phẩm, còn người lao động nghèo sống trong cảnh tối tăm cùng cực; những tâm hồn cao thượng dám đấu tranh cho lý tưởng nhân đạo và lẽ phải: những tình yêu éo le và những cảnh đời ngang trái, những tài năng say mê hy sinh vì sự nghiệp và những mánh khóe chạy theo bả vinh hoa... Bên cạnh đó người đọc sẽ còn bị lôi cuốn về những trang viết chân thực và thú vị về một nghề nghiệp rất cao cả, rất cực nhọc và cũng rất bí hiểm: ngành y. Mời các bạn mượn đọc sách Thể Xác và Tâm Hồn của tác giả Maxence Van der Meersch.
Sáu Đợt Thức Tỉnh
Maria Arena là một bản sao vô tính. Sau mỗi lần chết đi, cô sẽ lại “thức tỉnh” trong một thân xác trẻ trung, sở hữu ký ức của mọi “kiếp đời” trước. Do vậy, cô cùng năm bản sao khác đã được bổ nhiệm làm phi hành đoàn của tàu vũ trụ Dormire, thực hiện chuyến bay dài mấy thế kỷ để lên định cư trên hành tinh Artemis tươi đẹp. Bỗng một ngày, Maria cùng phi hành đoàn thức tỉnh giữa một bể máu. Cả sáu vừa bị giết, máy móc trên tàu thì đã bị phá hoại, và không ai nhớ chuyện gì đã xảy ra hết, thậm chí còn chẳng nhớ gì về nhau. Nguy hiểm hơn, thủ phạm hẳn phải là một người trong nhóm bọn họ. Kẻ ấy vẫn đang rình rập, chờ thời cơ ra tay lần nữa… Sáu đợt thức tỉnh tên gốc là Six Wakes, một cuốn trinh thám với bối cảnh tương lai của Mur Lafferty. Truyện từng lọt danh sách đề cử các giải lớn năm 2017 như Hugo, Nebula, Goodreads Choice, và được mệnh danh là "10 người da đen nhỏ ngoài vũ trụ." --- REVIEW TỪ BẠN ĐỌC: 9.0/10 Đây là một cuốn Sci Fi vừa có tính giải trí rất cao thông qua việc đi giải mã một vụ thảm sát đầy lắt léo trên tàu vũ trụ, đồng thời còn giúp khơi gợi suy tư thông qua những bình luận cực kỳ sâu sắc về sức ảnh hưởng của một trong những thứ công nghệ mang tính bước ngoặt. Truyện pha trộn rất hài hoà các mô típ của trinh thám và Sci Fi, thế kể cả nếu chỉ đọc được một trong hai dòng này, chắc chắn bạn sẽ không thất vọng với Sáu đợt thức tỉnh. ~ Long Nguyen (Admin cộng đồng Hội thích truyện Sci Fi trên Facebook)   Đánh giá: 8/10đ (Hay. Đặc biệt. Đáng suy ngẫm). Đọc những chương đầu tiên trong tôi bùng nổ một cảm giác phấn khích kỳ lạ, nội dung mở màn thú vị tới mức tôi cứ suy nghĩ: "Liệu đây có phải cuốn sách hay nhất năm của mình hay không?" Mặc dù sau đó vì vướng bận công việc phải bỏ dở ít bữa nên sự lôi cuốn có phần chững lại và mạch truyện khúc giữa cũng hơi chậm, nhưng càng đọc về cuối tác phẩm càng để lại cho tôi nhiều cảm xúc và sự trăn trở quặn lòng. ~ Nguyệt Ngọt Ngào (Admin cộng đồng Hội Yêu Sách trên Facebook)   Đủ bí ẩn, đằng sau mỗi nhân vật là một câu chuyện không tưởng. Và, cốt truyện đủ bất ngờ, thật, mình chuyên đọc trinh thám, nội dung cuốn sách không được gọi là máu me nhưng đủ bất ngờ, khiến độc giả lăn đùng ngã ngửa luôn. Và âm mưu to lớn cùng ý đồ sau cùng cả cả câu chuyện sẽ là Hô hô, mình không nói đâu.  ~ Trang Đào (Admin cộng đồng Bình Thư Quán trên Facebook)   4/5 Phần đầu và cuối hấp dẫn, vậy đoạn giữa là gì? Là backstory của từng nhân vật, và các đoạn đối thoại liên tục. Có thể người đọc sẽ đôi lúc chán nản, nhưng đừng quên trong một tác phẩm trinh thám, tác giả thường không vô cớ đưa vào những chi tiết thừa, tất cả đều có lý do của nó.  ~ xuxudocsach (review trên Instagram)   Thể loại: Khoa học viễn tưởng – Trinh thám. Điểm: 9.5/10 Có thể nhiều người sẽ cho rằng “Sáu đợt thức tỉnh” chỉ là một quyển sách để giải trí, nhưng Biển ngộ ra được một số giá trị nhân văn mà (chắc là) tác giả muốn gửi gắm: sự tôn trọng sinh mệnh – kể cả sinh mệnh của bản sao vô tính, sự tôn trọng nhân quyền và tư duy của người khác, tội lỗi cay đắng và sự tha thứ nhẹ nhõm, hận thù và yêu thương. Đọc đến trang 467 thì Biển mỉm cười sung sướng, cảm thấy thật đáng công đọc từ đầu đến đó. Tha thứ thật sự quá khó, nhưng nếu làm được thì thanh thản biết bao, mà nếu không làm được thì cứ coi kẻ thù như không khí đi.  ~ Camellia Phoenix (review trong cộng đồng Hội thích truyện trinh thám trên Facebook)   3.5/5 Nhìn chung Sáu Đợt Thức Tỉnh là một cuốn trinh thám khá ổn, đặc biệt dành cho bạn nào thích khoa học viễn tưởng hay lập trình máy móc các kiểu đan xen một chút trinh thám thì okay, cuốn này đúng là dành cho bạn luôn. Dịch giả dịch siêu có tâm, tớ còn bị ấn tượng với dịch giả hơn cả nội dung sách ý huhu. ~ neverblossom (review trên Instagram)   Điểm: 9,5/10 Đây là một cuốn truyện rất hay, cả về khía cạnh trinh thám lẫn viễn tưởng. Dù có một hai lỗi đánh máy nhưng nội dung cuốn đến mức đọc bỏ qua sạch luôn. Dù bạn muốn một cuốn trinh thám bí ẩn và lắt léo với những nhân vật có chiều sâu hay một cuốn du hành không gian kỳ thú với những pha hành động đầy kịch tính hay thậm chí là một quyển sách triết lý sâu sắc nhưng không kém phần hài hước và cảm động về những khía cạnh xã hội lớn lao cũng như mối quan hệ giữa con người và công nghệ, chắc chắn đây sẽ là quyển hợp với bạn. ~ Ngoc Anh Nguyen (review trong cộng đồng Nhã Nam reading club trên Facebook)   5/5 Kéo full điểm luôn không cần phải bàn cãi  ~ Mai Nguyễn (review bản tiếng Việt trên Goodreads)   Điểm tổng: 4/5. Rất đáng đọc. Đây có lẽ là một trong những cuốn trinh thám mật thất lạ thường và cuốn hút nhất mình được đọc trong năm nay. Truyện mở ra trong một bể máu: 6 bản sao vô tính trần truồng thức dậy trên một con tàu vũ trụ, và thấy trôi lềnh bềnh xung quanh mình là máu, rất lắm máu, phòi ra từ những cái xác đã bị sát hại dã man. Lúc khám nghiệm xác, họ giật mình nhận thấy đây là xác của… chính họ. ~ Long Tran (review trong cộng đồng Người Đọc Sách trên Facebook) ***   Tác giả: Mur Lafferty. Dịch giả: Nguyễn Thành Long Thể loại: Trinh thám, Khoa học giả tưởng “Tôi phát ngấy cái giọng điệu đấy rồi. Suốt bao thế kỷ nay cứ phải nghe đi nghe lại. Đóng vai Chúa. Wolfgang, chúng ta đã đóng vai Chúa từ hồi thiên hạ còn tin mình có thể định đoạt giới tính cho con nếu làm tình chuẩn tư thế. Chúng ta đóng vai Chúa lúc phát minh ra ngừa thai, chọc ối, mổ lấy thai, lúc phát triển y học và phẫu thuật hiện đại. Bay là đóng vai Chúa. Chống ung thư là đóng vai Chúa. Kính áp tròng và kính gọng là đóng vai Chúa. Bất cứ hành động nào khiến cuộc sống của ta đổi khác so với thuở khai sinh là đóng vai Chúa. Thụ tinh trong ống nghiệm. Liệu pháp thay thế nội tiết tố. Phẫu thuật sửa đổi giới tính. Kháng sinh. Tại sao anh chấp nhận hết tất cả những thứ ấy, nhưng lại thấy sao chép vô tính có vấn đề?” Lúc cuốn này mới ra, không hiểu sao Biển cứ nhầm nó với “Đợt tuyệt chủng thứ 6”, thế là suốt một thời gian dài không đọc vì nghĩ nó thuộc thể loại sách học thuật khó nhằn. Đến khi được chính dịch giả comment trên một bài đăng thì Biển mới biết “Sáu đợt thức tỉnh” là trinh thám và chẳng liên quan gì đến tuyệt chủng, à chắc cũng có liên quan chút chút, vì bối cảnh truyện này là vào thế kỷ 25, diễn ra ngoài vũ trụ, lúc đó chắc có thêm một số loài đã tuyệt chủng trên Trái Đất. Sau khi đọc lần đầu và rung động vì độ hay của truyện, Biển chờ vài năm để quên bớt nội dung rồi đọc lại lần nữa, biết rằng mình sẽ hiểu sâu hơn và có thêm nhiều cảm nhận vừa giống vừa khác với lần đọc đầu. Ngày 25-7-2493 (đúng 472 năm tính từ ngày Biển đọc cuốn này lần 2), trên con tàu vũ trụ Dormire dài ba dặm rưỡi và đường kính một dặm rưỡi, bản sao của cô lao công Maria Arena tỉnh dậy trong khoang sao chép, xung quanh là xác chết năm đồng đội khác, bao bọc bởi hàng chục lít máu và các giọt chất lỏng độc hại sinh học khác đang trôi nổi trong môi trường vô trọng lực. Các đồng đội của Maria gồm Thuyền trưởng, Phi công kiêm Hoa tiêu, Sĩ quan Y tế kiêm Bác sĩ, Kỹ sư trưởng và Trưởng ban An ninh của tàu Dormire. Sau khi bản sao của năm người còn lại được thức tỉnh, họ nhận ra rằng tất cả đều đã chết hoặc bị giết gần như cùng lúc theo nhiều cách khác nhau, khi tàu Dormire đã rời Trái Đất được 25 năm và đang trong chuyến hành trình đến hành tinh Artemis – dự kiến là chốn định cư mới của phi hành đoàn cùng các bản sao và người thường chở theo trên tàu. Khoang sao chép đã hư hại, đồng nghĩa với việc họ chỉ còn bản thể duy nhất đang có chứ không thể tái sinh để sống tiếp. Trong bối cảnh kinh hoàng ấy, phi hành đoàn chật vật phục hồi lại môi trường sinh hoạt trên tàu đồng thời không bỏ qua nổi cảm giác nghi kỵ lẫn nhau, không biết rằng liệu người đang đứng bên ta đây có phải chính là người đã giết ta trong kiếp sống trước không. Ngoài lý do ban đầu là nhầm lẫn “Sáu đợt thức tỉnh” với “Đợt tuyệt chủng thứ sáu”, thêm một lý do khác khiến lúc đầu Biển ngần ngại đọc là vì cuốn này thuộc thể loại khoa học viễn tưởng. Biển sợ nó khó hiểu. Nhưng khi đã đọc rồi thì thấy đây là một truyện trinh thám rất dễ hiểu và hấp dẫn, thậm chí có thể nói đây là trinh thám cổ điển (điều tra dựa vào suy luận chứ không dựa vào khoa học kỹ thuật), vì tuy bối cảnh truyện là vào thế kỷ 25 trên một con tàu vũ trụ đang bay ngoài không gian nhưng trong cả truyện không hề áp dụng xét nghiệm nhóm máu, tìm dấu vân tay hay khám nghiệm pháp y… Các nhân vật chính sau khi sống lại nhờ đợt sao chép cuối cùng thì sinh hoạt tiếp dựa vào lịch sử sao lưu các dữ kiện của bản thân và người khác, phần lớn đã bị mất / xóa trắng do sự hư hại của IAN – Mạng Trí Tuệ Nhân Tạo đảm nhận nhiệm vụ duy trì sự sống và hoạt động cho mọi sinh vật và đồ vật trên tàu, bao gồm bản thân con tàu. Nếu coi tàu Dormire như một không gian khép kín (thực chất là vậy mà) thì truyện này kể về sáu vụ án mạng trong phòng kín. Thường thì Biển không mặn mà lắm với motip “án mạng phòng kín” (nhưng lại thích mấy cuốn Quán của Yukito Ayatsuji) nhưng cách tác giả xử lý cốt truyện trong “Sáu đợt thức tỉnh” thật sáng tạo và lôi cuốn, đúng kiểu ‘sự đơn giản làm nên vẻ đẹp’. “Lý thuyết” về sao chép người trong truyện này rất thú vị và dễ hiểu: Khi Biển qua đời, những gì chứa trong bộ não – có thể gọi là linh hồn, tâm tư, ký ức – được “đóng gói” thành não đồ và lưu vào một ổ cứng rời. Thân xác đã chết sẽ được cho vào máy tái chế và phục hồi lại ở độ tuổi như mong muốn, bằng một dung dịch tên là Lyfe. (Vâng, Life. Sự Sống). Sau đó não đồ sẽ được các chuyên viên lập trình (trong truyện này hầu hết bị gọi chung là “hacker”) tải trở vào thân thể mới. Bằng cách này, Biển sẽ không bao giờ chết, liên tục được tái sinh trong thân thể thanh xuân, với ký ức của TẤT CẢ những kiếp sống cũ, với điều kiện ký ức – não đồ đó không bị hacker can thiệp trước khi tải vào thân thể. Các bản sao sẽ được triệt sản, tài sản được tích góp qua các kiếp đời. Cách dùng công nghệ sao chép để có sự sống bất tử này là tác giả Mur Lafferty lấy ý tưởng từ một game mô phỏng không gian tên Faster Than Light. Trong truyện, công nghệ sao chép vô tính này bị phản đối kịch liệt bởi các tổ chức tôn giáo. Nếu nó tồn tại ngoài thực tế, Biển tin rằng nó cũng sẽ bị chống đối, lãnh lấy rất nhiều công kích và gây nên nhiều cuộc bạo loạn với tổn hại vô cùng lớn. Riêng ý kiến cá nhân thì Biển đồng tình, ủng hộ và sẵn sàng tham dự. Thường với những cuốn trinh thám có nhiều đoạn dài dòng về khoa học kỹ thuật thì Biển hay lướt, thậm chí ngay cả sách của hai tác giả yêu thích là Dan Brown và Jeffery Deaver mà Biển còn lướt, nhưng với “Sáu đợt thức tỉnh” là một cuốn trinh thám khoa học giả tưởng nhưng Biển không hề lướt một đoạn nào, bởi vì suốt truyện không hề có đoạn nào đậm chất khoa học kỹ thuật lê thê dài dòng cả. Mỗi câu đều cần thiết, mỗi đoạn đều đáng giá, mỗi chương đều hấp dẫn, cuối chương không dùng “mánh lới” thu hút nhưng vẫn thành công níu người đọc phải nhanh chóng giở đến chương tiếp theo. Với một phụ nữ nghiện game thì tác giả viết được cuốn tiểu thuyết như vậy là quá xuất sắc (không biết câu này có thể hiện thành kiến không nên có nào trong tiềm thức của Biển về việc “nghiện game” hoặc với giới tính nữ không!). Sau khi đọc “Sáu đợt thức tỉnh” của Mur Lafferty và hai cuốn đã xuất bản tiếng Việt của Chan Ho Kei thì Biển có một ‘thành kiến tốt’ rằng chả lẽ những ai đam mê công nghệ máy tính / làm trong ngành IT + có kỹ năng văn chương thì sẽ viết được những quyển sách rất ấn tượng? Sẽ thiếu sót nếu trong review không nói đến các nhân vật chính của truyện. Ở hầu hết các khía cạnh thì Biển nhận thấy mình khá trùng hợp với nữ chính Maria Arena (là lao công, thích nấu ăn, thích pha trà, mê trai Nhật – à có thể bỏ điều cuối cùng). Mỗi nhân vật có lai lịch và tính cách khác biệt, tất cả đều là những bản sao của chính mình, đã mấy trăm tuổi và trải qua nhiều kiếp sống thăng trầm đến nỗi canh Mạnh Bà cũng không giúp quên được những ký ức đau thương. Ngoài thích nữ chính vì kiêu ngạo cho rằng mình giống cô ấy, Biển còn thích cả chàng trai Nhật Akihiro Sato với khả năng chọc cười tinh tế và nhân vật IAN với kiểu nói chuyện rất “người”, tương tự như khi Biển thích Winston trong cuốn “Nguồn Cội”. Dẫu biết AI rất nguy hiểm nhưng không hiểu sao Biển luôn mê đắm chúng một cách mù quáng…. ____ Dành cho các tâm hồn lãng mạn, “Sáu đợt thức tỉnh” có ẩn chứa tình cảm lứa đôi, không cần quá tinh ý để phát hiện được, và cách viết của tác giả sẽ gieo rắc không ít hy vọng vào sự nảy nở tươi đẹp của (các) mối quan hệ này. Lần đầu Biển đọc “Sáu đợt thức tỉnh” đúng kiểu lần đầu làm chuyện ấy, cảm giác rất mới mẻ hồi hộp do liên tục không biết “chuyện này sẽ đi tới đâu”. Đến lần đọc thứ hai, do vẫn còn hơi nhớ cốt truyện nên Biển tưởng sẽ bớt thú vị. Nhưng không, sự thú vị và dòng chảy cảm xúc vẫn diễn ra với cách thức khác. Biển “bắt” được nhiều chi tiết mà lần đầu đọc đã bỏ qua, phát hiện thêm một điều khó hiểu để đem ra chất vấn dịch giả và đã được trả lời đầy đủ tính thuyết phục. Như thường lệ, sau nội dung chính thì Biển hứng thú đọc kỹ những Lời Bạt / Lời cảm ơn, trong cuốn này là phần phỏng vấn tác giả, và mức độ ưa thích đối với tác phẩm càng tăng lên. Biển rất mong chờ cuốn này được chuyển thành phim, nếu vào tay một vị đạo diễn tài năng thì chắc chắn nó sẽ là một tác phẩm điện ảnh hoành tráng đáng nhớ. Vì đọc với niềm yêu thích mù quáng nên Biển chả nhớ có lỗi chính tả hay lỗi đánh máy nào không (đoan chắc 99% là không có). Một trong những niềm dzui lớn khi đọc sách là mình có thể trực tiếp liên hệ với tác giả hoặc dịch giả để hỏi khi không hiểu, hoặc càm ràm khi không ưng ý (!)… điều mà Biển đã hai lần làm khi đọc “Sáu đợt thức tỉnh”. Thành thật mà nói thì bìa hơi xấu và tựa sách khó nhìn nhưng não đồ của Biển chưa đủ phong phú để nghĩ ra thiết kế bìa khác cho nó. Vì lý do cá nhân mà Biển có hai cuốn này và đã tặng một cuốn cho anh công an khu vực của mình. Biển sẽ mua thêm trong khả năng của mình để tặng, vì đây là một quyển trinh thám tuyệt vời rất đáng để quảng bá. Nội dung truyện này cũng tình cờ là cặp đôi hoàn hảo với bản nhạc mà Biển thích nhất: (Sea, 5-8-2021) Cáo Biển Non Xanh Reviewer: Điền Yên ——- Cơ sở khoa học của cuốn sách này rất thú vị. Nó thỏa mãn cuồng vọng bất tử của con người. Mỗi khi ta chết đi, một bản sao vô tính của ta sẽ được thức tỉnh, vào giai đoạn sung mãn nhất đời ta, ví dụ như tuổi đôi mươi. Hơn nữa, nó còn kế thừa trí nhớ của tất cả các kiếp trước. Thời gian và cái chết chẳng còn tí uy hiếp nào nữa. Sáu đợt thức tỉnh là câu chuyện về 6 thành viên phi hành đoàn. Họ thức tỉnh và nhận ra toàn bộ phi hành đoàn đã bị giết (nếu không thì họ đã chả thức tỉnh). Nhưng ai lại là người giết sạch bọn họ, khi mà chỉ có 6 người với nhau? Ai cũng đáng nghi. Ai cũng có bí mật của mình. Tấm màn che sự thật dần được vén lên. Thì ra họ không quen biết nhau trước khi lên tàu nhưng đều kết nối với nhau theo một cách thức nào đó. Đây là một tác phẩm trinh thám viễn tưởng lạ. Quá trình điều tra không phức tạp loằng nhoằng gì vì các nhâm vật đều bị khuyết trí nhớ. Manh mối để lại thì vụn vặt, chỉ đủ để chứng tỏ ai cũng không thoát khỏi liên quan. Họ khám phá ra sự thật một cách dần dần qua 6 đợt thức tỉnh. Cá nhân tôi thích cuốn này chủ yếu vì bối cảnh xã hội mà truyện xây dựng nên và cả quan điểm đạo đức của tác giả. Những người lòng tràn đầy kì thị khó đem lại điều gì tốt đẹp. Ngoài ra, qua truyện này, tôi thấy không nên gây thù với bọn lập trình Dang Thi Quynh Anh 3.5/5 Sẽ ra sao nếu như Mười Người Da Đen Nhỏ của Agatha Christie có một phiên bản với viễn cảnh xảy ra ở thì tương lai và ngoài không gian? Bùm, chúng ta có Sáu Đợt Thức Tỉnh của tác giả Mur Lafferty, một cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng đan xen yếu tố trinh thám này đây. Sáu Đợt Thức Tỉnh đưa người đọc theo chân một nhóm phi hành gia gồm sáu người – với điểm nhìn chính là nhân vật Maria Arena – một bản sao vô tính. Điều đặc biệt ở Maria là sau mỗi lần cô chết đi bất kể vì lý do gì, cô sẽ lại “thức tỉnh” trong một thân xác trẻ trung, đồng thời sở hữu mọi ký ức của “kiếp đời trước”. Chính vì vậy, cô cùng năm bản sao khác cũng chính là những phi hành đoàn đã được bổ nhiệm làm một nhiệm vụ trên con tàu vũ trụ Dormire, cùng nhau thực hiện chuyến bay dài mấy thế kỷ để lên định cư trên hành tinh Artemis tươi đẹp. Tuy nhiên, mọi chuyện không được như mong đợi khi cả nhóm gồm sáu người thì tất cả đều bị giết, máy móc bị phá hoại và khủng khiếp hơn nữa là không ai nhớ chuyện gì đã xảy ra, thậm chí ký ức về nhau cũng bị xóa sạch. Nguy hiểm hơn, thủ phạm gây ra tội ác này nằm trong số họ, và kẻ ấy vẫn đang rình rập, chờ thời cơ ra tay lần nữa. Tiểu thuyết khoa học viễn tưởng vốn không phải là thể loại tớ hay đọc thường xuyên. Mặc dù vậy Sáu Đợt Thức Tỉnh một phần do bởi yếu tố hoàn cảnh lạ lùng nên có sức lôi cuốn nhất định. Có đôi khi tác giả dường như hé lộ một chút manh mối dẫn đến kẻ sát nhân, nhưng hóa ra đó cũng chỉ là đòn hỏa mù đưa người đọc dấn thân sâu hơn vào mê cung của bí ẩn mà thôi. Cách triển khai mạch truyện có phần chậm chạp và đôi chút dài dòng, nhưng tuy nhiên cách kể chuyện đó lại mang một ưu điểm: Đó là Mur Lafferty đã giúp cho người đọc khám phá ra được tất cả những thân phận hay tính cách đặc trưng, những câu chuyện riêng của từng cá nhân sáu người phi hành đoàn. Bên cạnh đó, tớ thực sự thích cái cách mà tác giả đặt vấn đề cũng như xây dựng được cốt truyện có tính liên kết chặt chẽ với nhau, cũng như Mur Lafferty đã hoàn toàn nêu bật được lên sự bối rối, sự nghi ngờ hay thậm chí cả lòng ganh ghét đố kị và rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau của “các bản sao” khi họ bỗng nhiên “sống dậy” trong bể máu tội ác. Cách tạo dựng không gian hay nói cách khác, là bối cảnh trôi nổi ngoài vũ trụ của Sáu Đợt Thức Tỉnh cũng là yếu tố làm tăng lên được sự thú vị cho tác phẩm. Ngoài ra công nhận một điều là tác giả có kiến thức về khoa học cũng như trí tưởng tượng phong phú vô cùng luôn và cuốn tiểu thuyết này chính là cách dể tác giả “phô diễn” ra tầng tầng lớp lớp kiến thức của mình cho người đọc. Một ưu điểm và cũng là phần tớ cực kỳ ấn tượng về Sáu Đợt Thức Tỉnh không chỉ bởi ở nội dung cuốn sách mà đó là dịch giả Nguyễn Thành Long. Thề hơn hai mươi nồi bánh chưng rồi mới thực sự thực sự thực sự x 3000 lần ưng một dịch giả đến mức độ này. Đến độ đôi khi đọc cũng phải bất giác xuýt xoa ối giời ơi anh là ai mà dịch có tâm thế. Ngôn từ sử dụng rất linh hoạt và thậm chí còn sử dụng cả những từ lóng của cộng đồng mạng cho vào Sáu Đợt Thức Tỉnh Nữa cơ. Nếu để “mạn phép” chấm điểm riêng cho phần dịch thì tớ sẽ để điểm tối đa là 5/5 luôn, dịch duyên và có tâm thế chứ lị. Mặc dù vậy, Sáu Đợt Thức Tỉnh bên cạnh những ưu điểm thì còn có điểm trừ. Đó là các cuộc hội thoại giữa các nhân vật với nhau tớ cảm thấy đôi chút gượng gạo và lắm lúc trí não thuộc ban xã hội của tớ có không kham nổi những đoạn tác giả viết về mạch vi tính hay máy móc hay mọi thức liên quan đến khoa học nên có hơi bị nản. Và sự “hơi nản” này dẫn đến việc tớ có skip một số trang nhưng không sao, vẫn hiểu rõ nội dung ngon nghẻ lắm. Ngoài ra, mặc cho sự cái “dai dài” của tác phẩm nhưng Sáu Đợt Thức Tỉnh không thực sự có yếu tố xây dựng và phát triển nhân vật, chúng ta biết họ ra sao vì tác giả miêu tả vậy chứ không được khai thác sâu. Nhưng nhìn chung Sáu Đợt Thức Tỉnh là một cuốn trinh thám khá ổn, đặc biệt dành cho bạn nào thích khoa học viễn tưởng hay lập trình máy móc các kiểu đan xen một chút trinh thám thì okay, cuốn này đúng là dành cho bạn luôn. Dịch giả dịch siêu có tâm, tớ còn bị ấn tượng với dịch giả hơn cả nội dung sách ý huhu. Bạn nào muốn đổi gió đọc Mười Người Da Đen Nhỏ ngoài vũ trụ này có thể tìm đọc em ý nha, mà bạn nào muốn trau dồi khả năng dịch thì cũng có thể tham khảo cuốn nè luôn. Neverblossom Đây có lẽ là một trong những cuốn trinh thám mật thất lạ thường và cuốn hút nhất mình được đọc trong năm nay. Truyện mở ra trong một bể máu: 6 bản sao vô tính trần truồng thức dậy trên một con tàu vũ trụ, và thấy trôi lềnh bềnh xung quanh mình là máu, rất lắm máu, phòi ra từ những cái xác đã bị sát hại dã man. Lúc khám nghiệm xác, họ giật mình nhận thấy đây là xác của… chính họ. Những cái xác ấy thực chất là cơ thể cũ của họ, còn bọn họ là các thân xác mới, vừa được đánh thức dậy sau khi cơ thể cũ chết đi. Đống xác trông rất già, chứng tỏ trước khi chết, bọn họ đã cùng nhau sống trên tàu hơn mấy chục năm. Theo lý thuyết, ký ức của cơ thể cũ sẽ được máy nhân bản copy sang cơ thể mới, nhưng tất cả các bản sao mới này chẳng nhớ gì hết. Họ thậm chí còn không nhớ mình từng đặt chân lên tàu, không nhớ mình từng gặp nhau, và đương nhiên, không nhớ ai đã giết mình. Nguy hiểm hơn, lúc kiểm tra máy móc trên tàu, họ nhận thấy sau lần sao chép cơ thể mới cho mình vừa rồi, máy nhân bản đã hỏng nặng, và đây sẽ là lần đầu thai cuối cùng trong cuộc đời nhân bản của họ. Nếu xảy ra thêm một vụ tàn sát nữa, họ sẽ chết thật, không còn thân xác mới nào để sống lại cả. Bởi vậy, phi hành đoàn 6 người này bị tống vào một cuộc đua đầy chết chóc: phải khẩn trương tìm ra hung thủ, trước khi hung thủ nhớ được mình phải làm gì. Các manh mối giúp giải mã vụ án được đưa ra dưới dạng các thông tin về công nghệ nhân bản, lịch sử tương lai của thế giới, và quá khứ của từng nhân vật. Tính cách, bí mật, tội lỗi, động cơ tiềm tàng cũng như lý do từng nhân vật xuất hiện trên tàu dần dần được hé lộ, vừa tăng thêm chiều sâu và độ hấp dẫn cho từng người, vừa góp phần đưa ra gợi ý để độc giả có căn cứ đoán hung thủ là ai, song cũng tung khá nhiều hỏa mù để thủ phạm không quá dễ đoán. Vì ban đầu cần giới thiệu thế giới tương lai nên mấy chương đầu đi hơi chậm, và có nhiều tình tiết xem chừng rời rạc, nhưng sau khi xây dựng xong nền tảng thì truyện trở nên kịch tính và sâu sắc hơn hẳn, mọi thứ được xâu chuỗi hết lại, và tất cả các tình tiết ngỡ tưởng vô nghĩa ban đầu đều được hé lộ là manh mối quan trọng. Thủ phạm không hoành tráng lắm, nhưng cũng ổn và hợp lôgic. Cách lý giải bí ẩn không vi phạm nguyên tắc căn bản nào của một tác phẩm trinh thám, chẳng hạn như không tự nhiên đưa ra tình tiết mới mà độc giả không biết, không có gì siêu nhiên, không ăn may thấy manh mối,… Lúc đọc xong và ngẫm lại, mình tin đến khoảng 2/3 truyện là sẽ có thể đoán được hung thủ nếu chịu để ý từ đầu. Đặc biệt là sau khi hung thủ bị bắt, một lời giải cho một vấn đề quan trọng khác được đưa ra một cách rất bất ngờ và tài tình, và với mình thì đây là điểm sáng nhất truyện. Điểm tổng: 4/5. Rất đáng đọc. Long Tran Mời các bạn mượn đọc sách Sáu Đợt Thức Tỉnh của tác giả Mur Lafferty & Nguyễn Thành Long (dịch).
Nàng Aura
“HÃY ĐỌC THÔNG BÁO ẤY: một loại mời chào mà không phải ngày nào cũng đăng đâu. Hãy đọc đi đọc lại thông báo đó. Nó dường như nhằm vào bạn, chứ không phải bất kỳ ai khác,” cho đến khi bạn, hay chính là nhà sử học trẻ tuổi đang hồi thất nghiệp Felipe Montero, trả lời thông báo và bước chân vào ngôi nhà tăm tối, ẩm ướt và lạnh lẽo đến kỳ bí, nơi góa phụ 105 tuổi Consuelo Llorente sống cùng cô cháu gái mắt xanh Aura. Theo đề nghị của Consuelo, Felipe sẽ ở lại ngôi nhà để viết một cuốn hồi ký về người chồng quá cố nguyên là một tướng quân của bà, đổi lại là một khoản thù lao hậu hĩnh. Chàng trai trẻ bắt tay ngay vào công việc. Nhưng rồi, chàng rơi vào mối tình với Aura xinh đẹp, để rồi từ đó chàng dần dần chứng kiến những sự thật kinh hoàng về thân phận thật chính mình và hai người phụ nữ trong căn nhà ma quái… “Ông là một nhà văn đại tài, và (ngạc nhiên hơn) có phong cách viết rất đặc biệt ở thể loại truyện kinh dị.” – Pseudointellectualreviews *** Đàn ông đi săn và chiến đấu. Đàn bà mưu mô và mơ ước; là mẹ của trí tưởng tượng, của các vị thần. Đàn bà có được tầm nhìn thứ hai, những đôi cánh cho phép bay tới cõi hư vô của ham muốn và trí tưởng tượng… Các vị thần cũng giống như những người đàn ông, được sinh ra và chết đi trên ngực của một người đàn bà… Jules Michelet *** Review sách “Nàng Aura” – Carlos Fuentes Do năm nào cũng thấy Nàng Aura vào trong danh sách đại giảm giá của đợt Xả kho, nên mình muốn viết 1 bài giành lại justice cho tác phẩm này, rằng nó rất hay và độc đáo. Hy vọng trong những đợt dọn kho kế kiếp các bạn sẽ không “dòng người vội vàng lướt qua” em nó… NÀNG AURA VÀ OLALLA – MỐI TƯƠNG QUAN KÌ LẠ Năm 1885, khi đang rà soát lại bản thảo của cuốn sách rồi đây sẽ trở thành kinh điển – Chuyện về bác sỹ Jekyll và ông Hyde – Robert Louis Stevenson đã mơ một giấc mộng, để rồi sau này trở thành hiện thân cho tiểu thuyết ngắn Olalla. 77 năm sau, Carlos Fuentes viết ra một kiệt tác khác – Nàng Aura vào năm 1962 mà không dư hay thiếu chữ nào, để rồi sau đó sẽ bị cấm vì các dụng ý “gợi dục”. Cách nhau gần 80 năm, thế nhưng có thể nói ý tưởng về hai kiệt tác như cuộc “đồng mộng dị sàng” thú vị của hai nhà văn thuộc hai thời đoạn, hai nền văn hóa và hai phong cách hoàn toàn riêng biệt. * Có thể thấy rằng, Mỹ Latin dường như là cái nôi mắn đẻ cho những bối cảnh cần đến phép màu. Nơi đây không cần những người con sinh ra từ đất, mà ngay cả những bên tham chiến trong cuộc chiến tranh Bán đảo giữa khối Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha với Liên hiệp Anh cũng có thể mang trong mình một tàn lửa nhất định, và rất có thể Stevenson là một trong số đó. Không cần Freud giải mã giấc mơ, dường như chính miền đất huyền diệu ấy đã phôi thai và ám hương lên hình dung của Stevenson; để những câu chuyện kì dị, gothic, liêu trai thành hình, dù cho khái niệm gothic không đến từ vùng đất này. Riêng với Carlos Fuentes – gã khổng lồ của văn chương Mexico nói riêng và châu Mỹ Latin nói chung; vùng đất của ông vừa hoang dại nhưng cũng đậm dấu ấn một cách không ngờ. Trong văn chương của Juan Rulfo, người ta nhận ra cái nóng hầm hập ngày càng đi xuống như của một cổ quan tài, nơi không có gió và chỉ có riêng tiếng sỏi lạo xạo. Triển khai từ chính cái lặng im đấy, Fuentes mang gothic vào đô thị, nhưng giờ đây cũng triệt tiêu hoàn toàn dải âm nghe thấy, để đọng lại những tạp âm trắng duy nhất về sự xôn xao của một cõi lòng xáo động. BỐI CẢNH SONG SONG Câu chuyện của Fuentes và Stevenson nhìn chung là có sự tương đồng khá thú vị. Hai nhân vật chính đều là nam giới, và định mệnh run rủi cho họ vào một tình cảnh không thể đoan trước. Trong Nàng Aura, đó là nhà sử học Montero làm việc viết sử cho một góa phụ có chồng đã chết; trong khi Olalla là một chàng lính Anh nghỉ dưỡng sau khi bị quân đội bỏ lại. Cả hai đã hơn một lần khước từ ngẫu nhiên, để nằm sau các cách cấu thành cốt chuyện, đó là trò chơi định mệnh, khi Montero không chỉ thấy một lần mẫu tin rao vặt cần một sử gia thạo tiếng Pháp, còn chàng lính Anh cũng không nguôi được nghỉ dưỡng ở gia tộc nay suy tàn dẫu cho đã được cảnh báo. Bối cảnh cách nhau một thời gian dài, nhưng nhìn chung cả hai nhà văn đều mang được sắc màu của thời đại vào tác phẩm mình. Nếu Stevenson viết trong thời đoạn Chiến tranh Bán đảo, nơi dinh thự có các cầu thang đá lớn, cửa kiểu Moor; thì Fuentes hiện đại hơn, với tòa nhà phong cách Baroque Mexico cùng các tượng thánh, giàn nho phất phơ cũng như mùi rêu ẩm mốc cùng phong cách thuộc địa cũ. Gothic trong phong cách kiến trúc được hai nhà văn khắc họa một cách rõ ràng, dẫu ở đâu thì vùng đất ấy đã mang sẵn trong mình một sự huyền ảo. “Nhân sư” dẫn dắt nhân vật chính đi vào đóng hỗ lốn của mình cũng đặc biệt giống nhau. Nếu chàng Montero luôn được một thiếu phụ áo xanh, thân thể trắng muốt, dong dỏng cao dẫn dắt trong những mê lộ hành lang của căn nhà thiếu ánh sáng vì đô thị xung quanh xây chen; thì trong Olalla, người đảm nhận vai trò này, mà khốn thay, cũng trùng cái tên Filipe như chàng Montero – em trai của Olalla. Filipe được mô tả lúc thì ngây ngô hát những bài đồng dao, nhưng cũng có khi tàn ác như khi vặn cổ chú sóc. Hai dáng hình ấy đưa nhân vật vào một không gian chung của câu chuyện có phần tương đồng, nhưng chính ở đây mọi thứ rẽ khác. HIỆN THỰC – KÌ ẢO Nếu Stevenson mang được chất huyền ảo của Latin vào trong bối cảnh nhưng hầu như câu chuyện là thực; thì Fuentes tiếp nhận và nâng cao chất kì ảo đặc trưng của dải đất quê hương, nơi ông xây dựng Nàng Aura như một hỗn hợp vừa thực mà cũng không thực- vẩn vơ, bảng lảng và mù sương khói. Stevenson vẫn dùng văn chương thuần tuyến tính của phương Tây vào thời điểm đó, ông không cách tân lối viết, tuy có dùng những yếu tố như khởi nguồn đặc trưng sau này của châu Mỹ Latin, như hình tượng cơn gió độc, bà mẹ ủ ê, thú tính vật vờ trong ánh sáng ban ngày. Hoàn toàn ngược lại, Fuentes đóng kín nhân vật của mình trong ngôi nhà số 815 phố Donules, để người đọc thấy được vòng tròn quẩn quanh mà ông tạo ra, như một kiểu mê cung của Borges. Chàng sử gia Montero hết đi đến phòng trên cao rồi lại đến chỗ bàn ăn, từ bàn ăn đi vào phòng ngủ nơi chứa những tập bản thảo cũ mốc… Câu chuyện được tiếp diễn qua vài ba vòng lặp như thế, để cứ mỗi một lần như lát cắt phạm, Fuentes tung ra sự thật từng chút một; từ cô gái trẻ xanh xao không bao giờ dùng bữa, cho đến sự xuất hiện hầu như bất động khi có mặt đồng thời bà góa và cô nàng thanh xuân, cho đến con thỏ và cuối cùng là ba đêm tội lỗi. Tuy Stevenson rất có thể nói là người đặt nền móng cho yếu tố kỳ ảo đậm chất Latin trong tác phẩm của mình; thế nhưng Fuentes mới là người nhân nó lên và biến nó trở thành đặc biệt. Olalla của Stevenson đến sau cùng vẫn tồn tại và có thật, cô không giống Aura của Fuenets, mang nhiều dáng hình cũng như cảm xúc. Fuentes với cách viết nhiều vòng tròn đồng tâm lan ra từ từ, kết hợp với yếu tố gothic – kinh dị, khóa chặt người đọc vào văn bản của mình. Ông là nhà văn thiên về tâm lý, trong khi Stevenson chỉ đơn giản thuật lại, tuy là mới mẻ nhưng không đào bới tận cùng. Với hai cách diễn đạt khác nhau, nhưng bất ngờ thay, sau cuối cả hai đều là những câu chuyện tình đau thương. GIỌT MÁU CHUNG TÌNH Tuy tiếp cận câu chuyện từ hai hướng và hai phong cách viết, thế nhưng ẩn sau tầng tầng lớp lớp yếu tố kì dị, thì tình yêu ngăn cấm là thứ mà hai nhà văn hướng đến. Stevenson không những dùng sớm yếu tố kì ảo, mà còn cho thấy vấn đề muôn thủa của lục địa này, để rồi sau đó chính Marquez sẽ nhân nó lên làm thành tác phẩm huy hoàng nhất của mình – hôn phối cận huyết. Chính yếu tố sáng rõ này là thứ phân đôi tình yêu của Olalla và chàng lính trận, để kết thúc dòng máu suy vong, để ấn định cái kết của một gia tộc. Có lẽ nào chính ngọn gió độc, tiếng thét điên cuồng của bà mẹ điên trong đêm đen thẫm hay cơn khát máu bập vào thịt sống; là những dấu chỉ rõ nhất cho thứ bệnh điên cần được loại bỏ? Hơn một lần Olalla cầu xin chàng ta rời khỏi nơi đó, để cuối cùng trên ngọn đồi cắm phập thánh giá, một lần nữa họ gặp lại nhau để Stevenson “thánh hóa” sự hy sinh của tình yêu không được đền đáp. Lần gặp thứ hai như xác tín cho đức tin, sự minh triết cũng như những gì họ đã bỏ qua. Cũng thư thế, Fuentes mất đến ba đêm để chắc chắn thứ trước mắt chàng Montero không là ảo ảnh. Từ hành động lột da dê song song ở hai người đàn bà, một ở bếp và một ở phòng ngủ, Montero bắt đầu có những nghi ngại đầu tiên. Thế nhưng bởi dục vọng chìm đắm trong sắc đẹp của Aura, chàng đã ở lại với đôi mắt thỏ và những linh hồn lẩn khuất trong đêm. Đêm đầu tiên, chàng cảm thấy da thịt của một cô gái trẻ, đúng là Aura với chiếc váy xanh mà chàng thèm muốn. Thế nhưng đến đêm thứ hai, đó đã là da thịt trưởng thành, cứng lại, rắn đanh, mang dấu ấn thời gian của người đàn bà trung niên với tình yêu dường như đã đi qua một nữa đời mình. Đêm thứ ba, đêm cuối cùng; da thịt mơn man đã về lại với nhăn nheo ở quãng đời cuối, của sự co lại, gập gềnh núi đá lởm chởm, đó cũng là khi Montero biết mình dấn thân vào câu chuyện gì. Cả Fuentes và Stevenson không kết thúc một cách rõ ràng câu chuyện của mình. Montero bừng tỉnh trong đêm thứ ba và câu thoại (hay là tuân mệnh?) đi tìm Aura thanh xuân; trong khi anh lính trẻ không ngừng quay lại để thấy Olalla đứng mãi bên cây Thánh giá. Nàng đã hóa thánh, được gột rửa sạch và nhận hết mọi tội lỗi của dòng tộc suy vong; trong khi giờ đây Montero như bị thôi miên trong những vòng màu đan cài, giữa thời khắc của cổng thời gian kéo dài ba ngày, có thể mãi mãi hay không bao giờ đóng, liệu còn gắn bó hay sẽ chia phôi với Nàng Aura, ai biết. Nhưng dẫu sao đó là chuyện tình đau thương và đầy muộn phiền của sự đứt gánh. * Là mối tương giao kì lạ của hai nhà văn ở hai thời kì, Nàng Aura và Olalla mang trong mình sự tương đồng ở nhiều yếu tố trong cốt truyện, thế nhưng bằng phong cách viết cũng như triển khai cốt truyện khác nhau, phản ảnh 1:1 giữa hai tác phẩm cho ta góc nhìn thú vị về câu chuyện tình yêu vừa đẹp đẽ nhưng cũng đau đớn. Stevenson dưới cách thể hiện khác lạ nhiều yếu tố Latin mang đến Olalla lạ lẫm và đầy say mê; trong khi Fuenetes quán triệt đặc trưng của lãnh địa mình, hình thành một vòng thời gian khác lạ và đầy thôi miên. Một sự tương đồng độc đáo. Review của độc giả Ngô Minh – Nhã Nam reading club *** “NÀNG AURA” (Carlos Fuentes) – Nhân duyên tiền định hay dục vọng vô biên? Ra mắt năm 1962,*** Nàng Aura*** ***(Aura) ***là một trong những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của tác giả Carlos Fuentes, cũng là một trong những đại diện tiêu biểu nhất của nền văn học Mỹ Latin đương đại. Vinh dự được trao giải thưởng cao quý Miguel de Cervantes Saavedra, tác phẩm đã đưa Fuentes trở thành một trong những tượng đài lớn của văn học Mỹ Latin bên cạnh Gabriel Garcia Marquez, Mario Vargas Llosa, … Câu chuyện của Nàng Aura bắt đầu từ đoạn tình cảm lỡ dở, gập ghềnh và trắc trở kéo dài 27 năm đằng đẵng giữa Giorente và Consuelo. Khi còn trẻ, họ đã đến với nhau bởi tiếng sét ái tình và trở thành đôi vợ chồng đầu ấp tay gối đến tận lúc đầu bạc răng long. Tưởng rằng cái c.h.ế.t sẽ là dấu chấm hết cho mối tình đẹp đẽ, nhưng Consuelo lại không nghĩ như vậy. Consuelo sở hữu một pháp lực trời ban, cùng niềm khao khát thanh xuân vĩnh cửu, bà đã nhập thân vào hình hài cô gái đôi mươi Aura để sống một cuộc đời trẻ mãi không già. Nhưng cũng bởi vậy, bà cũng phải chứng kiến sự già đi rồi chết dần của Giorente, người mình yêu thương nhất. Cứ vậy, suốt 27 năm về sau, Consuelo, trong thân phận “nàng Aura”, vẫn sống một kiếp đời bất tử trong nỗi nhớ nhung da diết giày vò từng ngày từng đêm. Để rồi khi một chàng trai trẻ tên Felipe xuất hiện, ngọn lửa tình yêu cuồng nhiệt lại nhen nhóm trong Consuelo một lần nữa. Bởi Consuelo biết, anh chính là chuyển thế của Giorente, được định mệnh sắp đặt để tái ngộ với bà. Cách Felipe đến với “nàng Aura” hệt như Giorente thuở nào, từ ánh mắt si tình chỉ trong lần đầu gặp gỡ “nàng Aura”, đến cái cách anh nâng niu từng trang sách lịch sử, những trang hồi ký của người chồng quá cố. Tiếc rằng, chỉ có khuôn mặt kia, đã không còn là Giorente bà từng biết nữa. Nhưng với ma pháp cao cường của Consuelo, bà rắp tâm biến mọi thứ không thể phải thành CÓ THỂ. Một âm mưu kinh hoàng dần được bày ra, với hàng loạt những ám thị nối đuôi nhau. Những bí mật khuất lấp dần được hé lộ, về người đàn bà Consuelo, và về ngôi nhà cổ quái của bà ta. Một bí mật về tuổi xuân vĩnh cửu, về dục vọng ẩn sâu. Và đó cũng là câu chuyện tình vượt thời gian, vượt qua cả cái c.h.ế.t, bất chấp mọi giới hạn mà con người có thể tưởng tượng ra. Bằng một câu chuyện giản đơn chỉ vỏn vẹn chưa đầy trăm trang giấy, Carlos Fuentes đã dẫn độc giả bước vào không gian Mỹ Latin cổ xưa đậm chất Gothic ma mị nhưng không kém phần quyến rũ. Lồng ghép trong một câu chuyện tình vượt thời gian, cốt truyện cũng sử dụng những nút thắt mở tài tình, khiến cho độc giả phải xoay mòng mòng trong những giác cảm mơ hồ giữa thực và mơ, giữa quá khứ và hiện tại. **Nàng Aura **bắt đầu bằng một không gian Mỹ Latin đầy hoài niệm: đó là khung cảnh những dinh thự cổ có kiến trúc kiểu Baroque Mexico từ thời thuộc địa, với những bức tượng thánh cổ quái cùng những hành lang tróc sơn cũ kĩ. Ở nơi đó cũng thấp thoáng những dấu hiệu chuyển giao thời đại, với những khu dân cư hỗn tạp đủ mọi mọi ngành nghề dần chiếm chỗ khu dinh thự, với nhịp sống hối hả và bộn bề tấp nập đang từng bước thay thế đời sống cũ. Những đoạn văn gợi tả đó, dù chỉ ngắn gọn trong vài trang đầu, nhưng đủ để làm nền cho cảnh trơ trọi lẻ loi của ngôi nhà cổ quái của Consuelo giữa trung tâm khu phố xưa, làm bật lên vẻ ma mị đáng sợ cổ quái với những ai ghé thăm nơi đây lần đầu tiên. Motif kinh dị lãng mạn của** Nàng Aura** có thể nói là không quá mới mẻ, nhưng chất liệu Mỹ Latin lại là nhân tố đáng chú ý khiến mình phải lưu tâm tới. Không gian trong Nàng Aura được bao trùm bởi màu sắc hiện thực huyền ảo hiển hiện trong nhiều chi tiết, từ sự già đi bất thường của “nàng Aura” đến màn hóa thân gây choáng váng của nàng. Nó còn ẩn hiện trong những hành tung kì quái và sự xuất hiện đồng thời của cả hai người phụ nữ là Consuelo và “nàng Aura”, đến những ảo giác ma quỷ thoắt ẩn thoắt hiện trong tiềm thức Felipe mỗi đêm. Không chỉ vậy, Carlos Fuentes cũng thể hiện xuất sắc trong việc khắc họa bầu không khí Gothic vừa quỷ dị vừa huyền ảo trong căn nhà của Consuelo. Ngôi nhà bị bao trùm bởi bóng tối dày đặc, chìm nghỉm lúc nhúc giữa các tòa nhà hiện đại đan xen nhau, tựa như hình ảnh người chủ nhân phải chịu cảnh cô đơn hiu quạnh suốt năm tháng. Trong cái không gian chật hẹp đó, những tiếng mèo kêu nhức óc, lũ chuột và con thỏ mắt đỏ được thêm thắt vào như là những yếu tố gợi mở đầy ẩn ý. Trong căn phòng được bày ngổn ngang các dụng cụ thờ cúng, nhưng thực ra lại để dành cho một nghi thức tà đạo ma quái. Chỉ có ánh nến lờ mờ dường như là nguồn sáng duy nhất hiện diện giữa bóng tối u minh. Nhưng đâu ai biết, những lúc chập chờn, lúc chạng vạng có hay mới là lúc ma quỷ hiện diện rõ ràng nhất. Sự khắc họa những góc tối sâu thẳm trong nhân tâm của truyện cũng khiến mình băn khoăn rất nhiều, trước khi nút thắt cuối cùng được bật mở. Đó là một Consuelo bị ám ảnh bởi cái c.h.ế.t và tuổi xuân vĩnh hằng. Đó là Giorente – kẻ mà dù ở kiếp nào, dù mang hình hài Llorente hay Fellipe, đều tỏ rõ là hạng người dễ bị cám dỗ bởi dục vọng và dường như không có khả năng kháng cự lại nó. Nực cười là, Giorente đã từng chê trách rằng Consuelo “đã từ thiên thần hóa quỷ dữ”, rằng bà đã quá tham lam khi cố níu kéo thanh xuân, nhưng chẳng phải chính bản thân ông ta, ở cả hai kiếp sống, cũng không thể cưỡng lại sự ham muốn với vẻ đẹp của “ác quỷ” đó sao? Chẳng phải chính ông cũng giấu trong lòng cơn thèm khát không thể tả bằng lời với nét thanh xuân rạng rỡ của “nàng Aura” sao? Tuy vậy, khi gấp lại cuốn sách, mình hoàn toàn không cảm thấy đáng sợ hay căm ghét họ, bởi xét cho cùng, dục vọng của họ chỉ là đại diện cho ước mơ muôn thuở của con người. Khi còn trẻ, chúng ta giống Felipe, khao khát yêu đương, khao khát sống hết mình vì tuổi trẻ. Còn khi về già, chúng ta trở thành Giorente và Consuelo, lại hoài niệm về thanh xuân, hoài niệm đến ăn mày dĩ vãng, dẫu cho đó là điều bất khả không bao giờ trở thành hiện thực được, chỉ trừ trong** Nàng Aura.** Review của độc giả Kiên Trần – Nhã Nam reading club Mời các bạn mượn đọc sách Nàng Aura của tác giả Carlos Fuentes & Phạm Triệu Lập (dịch).
Mạch Buồn
Đây là những câu chuyện thuyết phục nhất về con người và chiến tranh. Là tâm trạng của những người lính đã chiến đấu và bỏ mạng tại Anzio. Nhiệm vụ của họ là chiếm đồi Alban để tiến đến Rome cách đó bốn mươi dặm. Suốt hơn bốn tháng trời, họ chống chọi với bom đạn, bùn lầy và mùa đông giá rét để giữ mạng sống. Họ đã để lại một vết máu dài cùng nỗi thống khổ khôn tả trên bình nguyên Latium. Không có anh hùng, không có chiến thắng chỉ có bộ mặt chiến tranh khổng lồ, điên rồ và tàn khốc. Đây không chỉ là Abzio mà là bất cứ chiến trường nào nơi con người phải đối mặt với cái chết... *** MỘT SỐ LỜI BÌNH CHO MẠCH BUỒN “Một cuốn sách đáng chú ý, cho chúng ta thấy rõ hơn bộ mặt khổng lồ và điên rồ của chiến tranh.” J.B. Priesley “Một trong những cuốn sách về chiến tranh gây xúc động nhất, vừa chân thực vừa giàu chất thơ.” Times Literary Supplement “Một kiệt tác… Xét một số khía cạnh cuốn sách này hay hơn cả cuốn Phía Tây không có gì lạ…” Irish Times “Tôi chưa từng đọc một cuốn sách nào về chiến tranh hay hơn cuốn sách này, một cuốn sách giàu tính nhân văn, hàm chứa sự thật đau thương đến nỗi khiến tôi lặng người…” Time Out *** Trước khi anh đặt chân đến cảng cá nhỏ bên bờ biển Tyrrhenian, trời đã ngả về cuối chiều. Ánh hoàng hôn vàng đượm bắt đầu chuyển thành màu xám. Dải đồi Alban đã choàng lên mình tấm khăn sương của đêm. Trên đỉnh đồi cao nhất một đống lửa lớn cháy lấp lánh. Một con bò đực trắng đã bị giết để tế thần. Đích thân Caesar chứng kiến lễ tế này. Thần Jupiter đã được dỗ yên. Tất cả những người đàn ông giờ đã có thể bước đi bên nhau trong hòa bình. Người lữ hành nhìn thấy nước trước khi anh thấy bóng dáng của thị trấn. Antium nằm khuất sau một nếp gấp của bình nguyên Latium. Nhưng người lữ hành biết chỗ nào con đường bất ngờ dốc xuống biển. Chính nơi đây anh đã biết được câu chuyện về nữ thần Fortuna và chính nơi đây nhiều năm trước anh đã tiếp tục cuộc hành hương của mình. Anh bước đi dọc bờ biển, tiếng móng guốc của những con lừa vọng trên mặt đường trải sỏi, những con mòng biển sà xuống sát đầu anh bật lên những tiếng thét. Anh rẽ vào một cái sân hẹp. Anh quỳ xuống, cầu thánh thần phù hộ cho mình trở lại Antium bình an vô sự. Sáng hôm sau, vừa tới đền thờ thần Fortuna, người lữ hành sửng sốt khi nghe một người đàn ông nói rằng Caear đã bị ám sát. Trong vài phút anh ngây người nhìn chằm chằm xuống con tàu bằng thủy tinh chứa những đồ cúng bé xíu của mình, con tàu trượt khỏi tay anh rơi xuống đất vỡ tan tành. Rồi anh bước vào điện thờ thần Fortuna, vị thần nắm giữ trong tay mọi hiểu biết về tương lai. *** Một cuốn sách về chiến tranh được in khá đẹp với những lời ca ngợi rất “kêu” trên bìa lót, một trong số đó đã có ấn tượng đến mức tôi quyết định đọc thử : “Xét một số khía cạnh cuốn sách này hay hơn cả cuốn Phía Tây không có gì lạ…” – Irish Times. Tôi không phải là kiểu người chọn sách dựa trên những lời khen in bìa như thế, đôi khi còn ác cảm nữa kia. Nhưng lần này lại khác, bởi trong lời nhận xét ấy có nêu đối tượng so sánh cụ thể là kiệt tác của Remarque. Bình thường người ta có thể tung hô thoải mái song khi đã đặt lên bàn cân một cái tên lừng lẫy như vậy hẳn nhiên phải có ít nhiều cơ sở. . Mạch buồn là một tiểu thuyết chiến tranh, thuật lại cuộc chiến của quân Đồng minh tại Anzio, chiếm Rome, vào chiến tranh thế giới lần thứ II. Bản thân William Woodruff đã trực tiếp tham gia chiến dịch này, ông còn là một nhà sử học vì vậy cuốn sách này hết sức trung thực về mặt tư liệu. Cần nói rằng, nhà văn đã chọn cho mình một lối viết khá lạ, khi không chọn ra  tuyến nhân vật nào cho tác phẩm. Mạch buồn là một tiểu thuyết không có nhân vật cụ thể mà thay đổi liên tục theo dòng sự kiện, khi là một anh hạ sĩ, khi là một lính Đức, lúc lại là một đứa trẻ bản xứ… Nhân vật duy nhất cố định xuyên suốt tất thảy là chiến tranh. Đã có không ít sách viết về chiến tranh, nhưng William Woodruff đã đạt được một thành công khác biệt bởi chiến tranh trong sách của ông không hề bị giới hạn trong không gian. Góc quan sát trong truyện liên tục thay đổi, thậm chí nhiều lúc còn không có một dấu hiệu chuyển góc nhìn rõ ràng, những quang cảnh chiến đấu, mất mát, bom đạn… đổ tràn trên trang giấy từ rất nhiều góc độ tại cùng một mốc thời gian. Chính thủ pháp này đã khiến Mạch buồn có một cái nhìn toàn diện, khách quan hiếm có của một sử liệu ở một tác phẩm văn học. Cũng có ý kiến cho rằng tác giả đã ca ngợi chủ nghĩa anh hùng tập thể chứ không phải xây dựng hình tượng anh hùng cá nhân tương tự một số tiểu thuyết khác. Tôi không đồng ý lắm. Trong cuốn sách này, tôi đã không hề thấy chất anh hùng. Dường như anh hùng là một khái niệm quá màu mè, hoa mỹ khi dùng để nói đến một tác phẩm giàu chất hiện thực đến kinh ngạc như vậy. Chiến tranh trong Mạch buồn không có kẻ chiến thắng, không có niềm vinh quang, chẳng có thất bại và có lẽ cũng không có cả sự đau khổ. Nó là một thứ gì đó vượt qua mọi giới hạn của nhận thức thông thường, đưa tất cả về những giá trị cơ bản nhất : sống – chết. William Woodruff, cũng như Remarque, không viết về cuộc chiến dưới cái nhìn của một người đứng về một bên chiến tuyến, ông viết nó dưới tư cách của một con người bình thường, phản ánh nên một hiện thực khốc liệt, soi rọi nhiều số phận nhỏ bé đã bị vinh quang của lịch sử lấp nhòa. Có lẽ chính cái nhìn khách quan mà vẫn thấm đẫm tính người ấy đã đưa Mạch buồn trở thành một điểm sáng trong dòng chảy tiểu thuyết cùng loại. Đọc xong Mạch buồn, tôi chợt hiểu rằng, một cuốn tiểu thuyết chiến tranh xuất sắc cũng chính là một tác phẩm phản chiến gây ấn tượng nhất.  Trong chiến tranh, không có kẻ nào thực sự chiến thắng. Đó là điều văn học có thể chỉ ra cho ta thấy, còn lịch sử thì không. chiemphong Mời các bạn mượn đọc sách Mạch Buồn của tác giả William Woodruff & Nguyễn Bích Lan (dịch).