Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tuổi Già Tập 1 - Simone de Beauvoir

Simone de Beauvoir (1908 - 1986) là nhà văn, nhà triết học và một nhà đấu tranh cho nữ quyền người Pháp. Là một nhà văn từng được giải Goncourt nhưng cũng là một học giả uyên bác, các tác phẩm của bà được lấy cảm hứng từ chính cuộc đời mình đồng thời đầy ắp các dữ kiện khoa học, lịch sử, thống kê… Hai tác phẩm non-fiction được biết ở Việt Nam nhiều nhất của bà là Giới tính thứ nhì và Tuổi già. Giới tính thứ nhì (xuất bản năm 1949), được xem là một trong những quyển sách hay nhất của thế kỷ 20, là một cuốn bách khoa toàn thư về các giai đoạn của cuộc đời phụ nữ từ lúc sinh ra, dậy thì, lấy chồng, làm mẹ; đồng thời vạch ra con đường giành quyền lợi cho nữ giới. Với tác phẩm này, bà được xem là “Bà mẹ của phong trào nữ quyền". Tuổi già được viết lúc Beauvoir hơn 50 tuổi, mô tả chi tiết cuộc sống của người già và đấu tranh giành quyền cho họ. Người ta chỉ có thể hiểu được thân phận người già khi ở tuổi đó. “50 tuổi, tôi giật nảy mình khi một nữ sinh viên Mỹ kể lại với mình câu nói của một cô bạn: "Nhưng Simone de Beauvoir là một bà già chứ sao!" Cả một truyền thống dồn cho từ ngữ này một cái nghĩa xấu; nó vang lên như một lời thoá mạ. Vì vậy, người ta phản ứng, thường bằng giận dữ, khi nghe người khác bảo mình già. Tôi có biết nhiều người phụ nữ được biết tuổi tác của mình một cách khó chịu qua một kinh nghiệm giống như kinh nghiệm Marie Dormoy: một người đàn ông, bị vẻ trẻ trung của hình bóng bà đánh lừa, đi theo bà trên đường phố; đến khi đi vượt qua bà và trông thấy gương mặt bà, thì thay vì bắt chuyện, ông ta rảo bước.” "Bạn có biết khuyết tật nào lớn nhất trong các khuyết tật không? Đó là tuổi trên 55" – Tourgueniev. Vào tuổi 55, Trotsky phàn nàn người mệt mỏi, mất ngủ, hay quên; ông có cảm giác sức lực sút kém; và lo lắng. Ông gợi lại quá khứ: "Anh buồn bã nhớ lại tấm ảnh của em, tấm ảnh của chúng ta, trong đó chúng ta trẻ trung biết chừng nào”. Già đi – đó là một điều không thể tránh khỏi và cũng là một quá trình chấp nhận đầy đau đớn. "Wagner kinh hãi thấy mình già đi, 80 tuổi, ông viết: “Hình hài tôi làm người ta khiếp sợ và khiến tôi u sầu một cách xót xa”. Sự suy sụp về thể chất khiến người già không còn có thể tham gia sản xuất hay xây dựng, do đó họ bị xem như gánh nặng, phải phụ thuộc vào người khác. Beauvoir viết về những trại dưỡng lão ở ngoại ô Paris với những người già như bị xã hội bỏ quên, sống mòn mỏi chờ đợi những cuộc viếng thăm của con cháu. Theo Beauvoir, đối đãi công bằng với người già là cách ứng xử có trước có sau mà nếu khác đi là làm lung lay gốc rễ của xã hội hiện đại. *** Khi còn là thái tử Siddharta, bị vua cha nhốt trong một tòa lâu đài tráng lệ, nhiều lần Thích Ca trốn đi dạo chơi bằng xe ngựa trong vùng. Trong lần dạo chơi đầu tiên, thái tử gặp một người tàn tật, tóc bạc, răng rụng, da nhăn nheo, cúi gập người trên một cây gậy, miệng lập cập, hai tay run rẩy. Chàng lấy làm ngạc nhiên và người xà ích giải thích đó là một ông già. Thái tử liền thốt: “Những kẻ hèn yếu và dốt nát, chuếnh choáng vì niềm kiêu hãnh của tuổi trẻ, không thấy được tuổi già. Khốn khổ biết chừng nào! Hãy trở nhanh về nhà thôi. Các trò chơi và niềm vui mà làm gì, vì ta là nơi ẩn náu của tuổi già mai sau”. Qua một ông già Thích Ca nhận ra số phận của chính mình, sinh ra để cứu vớt loài người, Thích Ca muốn chia sẻ hoàn toàn với số phận của họ. Và về điểm này, Người khác họ: họ lẩn tránh những gì không làm họ vui lòng. Và đặc biệt là tuổi già. Châu Mỹ đã loại trừ ra khỏi từ vựng của họ từ: người chết: mà chỉ nói người khuất bóng thân yêu; cũng giống như vậy, họ tránh liên hệ tới tuổi già. Ở nước Pháp ngày nay, đó là một đề tài cấm kỵ. Khi bắt buộc phải vi phạm điều cấm kỵ ấy, tôi đã bị người ta la ó! Chấp nhận mình đã bước vào ngưỡng cửa của tuổi già, tức là cho rằng nó rình rập tất cả mọi người phụ nữ, rằng nó đã tóm cổ nhiều người. Với thái độ dễ thương hay giận dữ, nhiều người, nhất là người già, không ngớt nhắc đi nhắc lại với tôi rằng làm gì có tuổi già! Có những người không trẻ bằng những người khác, chỉ thế thôi! Đối với xã hội, tuổi già xuất hiện như một điều bí ẩn đáng xấu hổ, mà nói tới là điều khiếm nhã. Trong mọi lĩnh vực, văn học viết rất nhiều về phụ nữ, về trẻ em, về thiếu niên; ngoài các công trình chuyên môn, người ta rất ít ám chỉ tới tuổi già. Một tác giả băng hoạt hình đã phải làm lại cả một loạt tác phẩm vì trước đó ông ta đã đưa vào trong số các nhân vật một cặp vợ chồng đáng tuổi làm ông làm bà: “Hãy loại bỏ người già đi!” - người ta hạ lệnh cho ông ta[1]. Khi tôi nói mình viết một cuốn tiểu luận về tuổi già, người ta thường thốt lên: “Sao lại kỳ thế!... Bà đâu có già!... Đề tài ấy, ngán lắm...” Chính vì lý do ấy mà tôi viết cuốn sách này: để phá tan sự đồng tình im lặng. Theo Marcuse, xã hội tiêu thụ đem một ý thức tốt đẹp thay thế cho ý thức xấu xa và bài xích mọi ý nghĩ tội phạm. Cần khuấy động sự yên ổn của nó. Đối với người có tuổi, nó chẳng những là phạm tội, mà còn là một tội ác. Ẩn náu phía sau các huyền thoại bành trướng và phong túc, nó cho người già là những kẻ khốn cùng. Ở Pháp, nơi tỷ lệ người già cao nhất thế giới - 12% dân số trên 65 tuổi - họ bị dồn vào cảnh khốn cùng, cô đơn, tàn tật, thất vọng. Ở Mỹ, số phận của họ cũng không sung sướng hơn. Nhằm dung hòa sự man rợ này với thứ đạo lý nhân văn chủ nghĩa mà họ thuyết giáo, giai cấp thống trị có cách đơn giản là không xem họ là những con người; nếu nghe tiếng nói của họ, người ta bắt buộc phải thừa nhận đó là một tiếng nói của con người; tôi sẽ buộc độc giả của mình nghe tiếng nói ấy. Tôi sẽ miêu tả hoàn cảnh của họ và cách họ sống; tôi sẽ nói những gì diễn ra thực sự trong đầu óc và trong con tim họ - những thứ bị dối trá, huyền thoại và những lời sáo rỗng của nền văn hóa tư sản xuyên tạc. Vả lại, thái độ của xã hội đối với họ mang tính chất đồng lõa sâu sắc. Nói chung, xã hội không coi tuổi già là một lớp tuổi rõ rệt. Cuộc khủng hoảng về tuổi dậy thì cho phép vạch ra giữa một thiếu niên và người trưởng thành một đường ranh giới chỉ mang tính võ đoán trong những giới hạn chật hẹp; ở tuổi 18, 21, thanh niên được chấp nhận vào xã hội con người. Hầu như bao giờ xung quanh sự thăng tiến ấy cũng có những “nghi thức chuyển giai đoạn”. Còn thời điểm bắt đầu tuổi già thì không được xác định rõ rệt, nó thay đổi theo từng lúc, từng nơi. Không ở đâu, người ta bắt gặp “nghi thức chuyển giai đoạn” thiết lập một quy chế mới[2], về chính trị, suốt đời, cá nhân giữ nguyên những quyền lợi và nghĩa vụ giống nhau. Luật Dân sự không mảy may phân biệt giữa một cụ già trăm tuổi và một người tuổi bốn mươi. Các nhà làm luật cho rằng ngoài những trường hợp bệnh lý ra, trách nhiệm hình sự của người có tuổi cũng hoàn toàn đầy đủ như của thanh niên[3]. Trong thực tiễn, người ta không coi họ là một lớp người riêng, vả lại, họ cũng không muốn như vậy; có sách, báo, sân khấu, những buổi truyền hình và truyền thanh dành cho trẻ em và thiêu niên: còn đối với người già thì không[4]. Trên tất cả những bình diện này, người ta đồng hóa họ với lớp người lớn tuổi trẻ hơn. Nhưng khi quyết định quy chế kinh tế của họ, hình như người ta cho là họ thuộc một lớp người xa lạ: họ không có những nhu cầu cũng như những tình cảm giống như những người khác, nếu chỉ cần ban cho họ một chút bố thí khốn khổ là cảm thấy hết nợ đối với họ. Các nhà kinh tế học, các nhà làm luật tin vào cái ảo ảnh thuận tiện ấy khi phàn nàn cái gánh nặng những người không hoạt động gây nên cho những người hoạt động: như thể những người này không phải là những người không hoạt động trong tương lai và không bảo đảm chính ngày mai của mình trong lúc xây dựng việc nhận lấy trách nhiệm đối với những người có tuổi. Còn các nhà hoạt động công đoàn thì không nhầm lẫn: khi đưa ra những đòi hòi, bao giờ họ cũng coi trọng vấn đề hưu trí. Những người già không tạo nên một lực lượng kinh tế nào thì không có cách gì để đòi hỏi quyền lợi của mình: lợi ích của những kẻ bóc lột, là tiêu diệt tình đoàn kết giữa người lao động và người không sản xuất, sao cho không một ai bênh vực những người này. Những huyền thoại và lời sáo rỗng theo tư duy tư sản tìm cách chỉ ra một con người khác trong người già. “Chính với những thiếu niên sống khá nhiều năm mà cuộc đời tạo nên lớp người già” - Proust từng nhận định như vậy - họ giữ lại những nết tốt và những tật xấu của con người trong họ. Điều đó, dư luận không muốn biết tới. Nếu biểu thị những ham muốn, những tình cảm, những đòi hỏi giống như những người trẻ tuổi, thì người già làm người ta công phẫn; ở họ, tình yêu nam nữ, lòng ghen tuông hình như là bỉ ổi hay lố bịch, còn tình dục thì đáng ghê tởm và bạo lực thì chẳng có nghĩa lý gì. Họ phải là tấm gương về mọi đức tính. Trước hết, người ta đòi hỏi ở họ sự thanh thản; người ta khẳng định họ có lòng thanh thản ấy, nên cho phép người ta không quan tâm tới nỗi bất hạnh của họ. Cái hình ảnh người ta tô vẽ về họ là hình ảnh một nhà Hiền triết trong ánh hào quang của một mái tóc bạc trắng, giàu kinh nghiệm và khả kính, vượt lên rất xa thân phận con người; nếu rời khỏi hình ảnh ấy, là họ rơi xuống phía dưới; cái hình ảnh đối lập với hình ảnh trên đây, là hình ảnh một lão già điên lẩm cẩm, lố lăng, bị trẻ em chế giễu. Dẫu sao, do đức độ hay do sự đê tiện của họ, họ ở ngoài nhân loại. Vì vậy, người ta có thể không ngại ngần khước từ đối với họ những gì tối thiểu được coi là cần thiết cho một cuộc sống con người. Người ta đẩy xa sự loại thải này tới mức làm cho nó quay trở lại chống chính bản thân mình; người ta sẽ không công nhận bản thân mình trong hình ảnh ông già mà chính mình là ông già đó. Proust nhận xét một cách xác đáng: “Trong mọi hiện thực, (tuổi già) có lẽ là hiện thực mà chúng ta giữ lại một khái niệm thuần túy trừu tượng lâu bền nhất trong đời”. Tất thảy mọi người đều khả tử: họ nghĩ tới điều đó. Nhiều người trong số họ trở thành người già: hầu như không một ai hình dung trước sự biến đổi ấy. Người ta không chờ đón, không dự kiến một cái gì khác ngoài tuổi già. Khi được hỏi về tương lai của họ, thanh niên, nhất là nữ thanh niên, cho đời mình kéo dài nhiều nhất đến tuổi 60. Một số cô gái bảo: “Em không chờ đến ngày ấy, em sẽ ra đi trước đó”. Và thậm chí, một vài cô nói: “Em sẽ tự sát trước ngày ấy”. Người trưởng thành hành động như thế không bao giờ phải trở thành người già. Thông thường, người lao động kinh hoàng khi điểm giờ nghỉ hưu: thời hạn nghỉ hưu vốn đã được ấn định trước, người đó biết thời hạn ấy, nhẽ ra họ phải chuẩn bị sẵn. Sự thật là sự hiểu biết ấy vẫn xa lạ đối với họ cho tới giây phút cuối cùng - trừ phi nó thực sự mang tính chất chính trị. Đến ngày đó, và khi đã bước tới gần, thông thường, người ta thích tuổi già hơn là cái chết. Tuy vậy, đứng cách xa, người ta xem xét cái chết sáng suốt hơn cả. Cái chết nằm trong phạm vi những khả năng trực tiếp của chúng ta, uy hiếp chúng ta ở mọi lứa tuổi; có lúc chúng ta suýt chết; thông thường, chúng ta sợ chết. Con người ta không trở nên già nua trong chốc lát; ở tuổi thanh niên hay lúc tráng niên, chúng ta không nghĩ là tuổi già tương lai đã tiềm ẩn trong con người mình như Thích Ca: tuổi già ấy cách xa chúng ta tới mức khoảng cách ấy lẫn lộn trước mắt mình với sự vĩnh hằng: tương lai đối với chúng ta như thể phi hiện thực. Vả lại, cái chết không là gì cả; người ta có thể cảm thấy một nỗi bàng hoàng siêu hình trước cái hư vô ấy, nhưng bằng một cách nào đó, nó làm người ta yên lòng, nó không đặt thành vấn đề. “Ta sẽ không còn nữa”. : ta giữ hình tích của mình trong sự tiêu vong ấy[5]. Ở tuổi 20, hay 40, tôi nghĩ mình già, tức là nghĩ mình là người khác. Trong mọi sự biến đổi, đều có một cái gì đó khủng khiếp. Ở tuổi ấu thơ, tôi bàng hoàng, và thậm chí kinh hoàng khi hiểu ra sẽ có ngày mình sẽ trở thành người lớn. Nhưng ý muốn mình vẫn là bản thân mình, thường được bù đắp ở buổi thiếu thời bởi những lợi thế của quy chế người trưởng thành. Còn tuổi già thì xuất hiện như một nỗi bất hạnh: ngay cả ở những người mà người ta cho là vẫn giữ được vẻ quắc thước, sự suy sụp về thể chất mà tuổi già kéo theo cũng vẫn lồ lộ trước mắt. Vì ở loài người, sự đổi thay do năm tháng là nổi bật nhất. Loài vật thì gầy đi, yếu đi, nhưng không biến đổi. Còn con người thì có. Người ta se lòng khi nhìn thấy bên cạnh một thiếu phụ trẻ, phảng phất trong gương hình ảnh chính mình những năm tháng sau này: tức là mẹ mình. Theo Lévi-Strauss, người Da đỏ Namblikwara chỉ có một từ để nói “trẻ và đẹp” và một từ để nói “già và xấu”. Trước hình ảnh người già gợi ý với chúng ta về tương lai của mình, chúng ta không tin; một tiếng nói nội tâm thầm thì một cách phi lý với chúng ta rằng điều đó sẽ không đến với mình: sẽ không còn là chúng ta nữa khi điều đó xảy tới. Trước khi nó ập xuống chúng ta, tuổi già là cái chỉ liên quan tới ngườl khác. Vì vậy, có thể hiểu vì sao xã hội có thể khiến chúng ta không coi người già là đồng loại của mình. Thôi, chúng ta đừng tự lừa dối mình nữa; ý nghĩa cuộc sống chúng ta nằm trong tương lai đang đón đợi mình; chúng ta không biết mình là ai, nếu không muốn biết mình sẽ là người thế nào: chúng ta hãy tự nhận biết mình ở ông lão kia, ở bà già nọ. Cần phải như vậy nếu chúng ta muốn đảm nhận thân phận con người của mình một cách trọn vẹn. Chỉ có như vậy, chúng ta mới không còn chấp nhận một cách thờ ơ nỗi bất hạnh của lứa tuổi cuối cùng, chúng ta sẽ cảm thấy mình ở trong cuộc: và quả chúng ta ở trong cuộc. Nỗi bất hạnh ấy tố cáo một cách vang dội chế độ bóc lột chúng ta đang sống. Người ta không thể tự mình thỏa mãn nhu cầu của mình, bao giờ cũng bị coi là một gánh nặng. Nhưng trong những tập thể có một sự bình đẳng nào đó - trong lòng một cộng đồng nông thôn, ở một số dân tộc nguyên thủy - người đứng tuổi, tuy không muốn biết, vẫn biết ngày mai thân phận của mình sẽ là thân phận mà ngày hôm nay người đó quy cho người già. Đấy là ý nghĩa truyện cổ tích của Grim, được thuật lại ở mọi miền thôn dã. Một gã nông dân bắt người cha già ăn riêng, trong một cái máng gỗ nhỏ; hắn bất chợt thấy đứa con trai đang ghép những miếng ván. Nó bảo ông bố: “Cho bố đấy, khi bố về già”. Thế là ông già lại ngồi vào bàn ăn cùng cả nhà. Trước lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt, các thành viên còn hoạt động trong tập thể sáng tạo nên những sự thỏa hiệp. Tình trạng cấp bách của nhu cầu buộc một số người nguyên thủy giết chết bố mẹ, dù về sau, có phải chịu một số phận như thế. Trong những trường hợp ít căng thẳng hơn, sự phòng xa và tình cảm gia đình chế ngự tính ích kỷ. Trong thế giới tư bản, lợi ích dài hơn không còn tác dụng: những kẻ có đặc quyền và quyết định số phận của đám đông không sợ phải nếm trải số phận ấy. Còn những tình cảm nhân văn chủ nghĩa thì không bao giờ can thiệp tới, mặc dù những lời huyênh hoang dối trá. Cơ sở của nền kinh tế là lợi nhuận; trên thực tiễn, toàn bộ nền văn minh phụ thuộc vào nó: người ta chỉ quan tâm tới tập thể người trong một doanh nghiệp trong chừng mực tập thể ấy có lợi. Sau đó, họ bị vứt bỏ. Tại một hội nghị gần đây, tiến sĩ Leach, nhà nhân chủng học ở Cambritgiơ tuyên bố: “Trong một thế giới đang chuyển động, trong đó máy móc có những cuộc đời rất ngắn ngủi, con người không nên phục vụ quá lâu. Tất cả những gì vượt qua 55 năm tuổi đều phải loại bỏ”[6]. Cái từ “đồ bỏ đi” nói đúng điều nó muốn nói. Người ta kể lể với chúng ta rằng nghỉ hưu là thời gian của tự do và giải trí; có những nhà thơ ca ngợi “lạc thú nghỉ ngơi”. Đó là những lời dối trá vô liêm sỉ. Xã hội áp đặt cho số đông người già mức sống khốn khổ tới mức từ ngữ “già nua và đói nghèo” trở thành hầu như một từ thừa (pléonasme); ngược lại, số đông người bần cùng là người già. Nhàn rỗi không mở ra cho người nghỉ hưu những khả năng mới; vào lúc cá nhân, đến phút cuối cùng, được giải thoát khỏi những sự ràng buộc, người ta tước đoạt của họ mọi phương tiện sử dụng quyền tự do. Họ buộc phải sống lay lắt trong cô đơn và phiền muộn, như một vật phế thải không hơn không kém. Khi trong mười lăm hay hai mươi năm cuối đời, một con người chỉ còn là một vật chẳng ai đoái hoài, thì đó là sự thất bại của nền văn minh chúng ta: sự thật hiển nhiên ấy khiến chúng ta nghẹn ngào nếu chúng ta coi người già là những con người từng có một cuộc sống con người phía sau họ, chứ không phải là những xác chết dật dờ. Những ai tố cáo cái chế độ đọa đày vốn là chế độ chúng ta, phải đưa điều điếm nhục ấy ra ánh sáng. Chính bằng cách tập trung nỗ lực của mình vào thân phận những người xấu số nhất, người ta có thể làm lay chuyển một xã hội. Để phá hủy hệ thống đẳng cấp, Gandhi tìm cách giải quyết thân phận tầng lớp Tiện dân (parias); nhằm tiêu hủy gia đình phong kiến, nước Trung Hoa cộng sản giải phóng phụ nữ. Đòi hỏi con người cứ phải là con người ở lứa tuổi cuối cùng của họ bao hàm một sự đảo lộn triệt dể. Không thể thu được kết quả ấy với một vài cải cách hạn hẹp không đụng chạm tới hệ thống: chính nạn bóc lột người lao động, chính quá trình phân hủy xã hội và sự khốn cùng của một nền văn hóa chỉ dành riêng cho tầng lớp quan lại, dẫn tới những cảnh già nua phi-nhân văn ấy. Chúng chỉ ra rằng cần làm lại tất cả, từ đầu. Chính vì vậy, vấn đề này bị nhấn chìm trong im lặng hết sức kỹ lưỡng; và chính vì vậy, cần phá tan sự im lặng ấy: tôi mong đợi độc giả giúp đỡ tôi trong công việc này.   Mời các bạn đón đọc Tuổi Già Tập 1 của tác giả Simone de Beauvoir.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tư Duy Để Thắng: Dám Thất Bại - Billi P.S. Lim
Chúng ta thường nghe cũng như đọc nhiều về gương thành công, về những vĩ nhân. Chúng ta thường không thích nói về thất bại, như thể chúng ta đã được lập trình để tránh thất bại... Lẽ nào thất bại chẳng có chút giá trị nào sao? Quyển sách này đề cập đến một mặt khác của thành công. Đó là một phương diện chúng ta cần thật sự học hỏi. Đối với những ai đã từng cố gắng và đã từng thất bại, quyển sách này đứng về phía bạn. Dám thất bại, bạn sẽ thành công sau này... So với những người thất bại, những người thành công thật sự đã thất bại nhiều lần hơn, chỉ đơn giản là vì họ đã cố gắng nhiều lần hơn! ***   Tôi sinh năm 1950 trong một đại gia đình có 14 đứa con. Cha tôi bán hàng thịt, còn mẹ tôi là một người nội trợ bình thường. Tôi sinh ra trong tầng lớp thấp kém của xã hội, giữa những người nói năng rất thô lỗ và cộc cằn, nơi mà hằng ngày mọi người cứ luôn miệng chửi thề và nói những từ khó nghe. Trong bối cảnh đó, chúng tôi đã trải qua tuổi thơ khó khăn của mình, không ngày nào về nhà mà cha không chửi rủa, đánh mẹ tôi hay một đứa trong chúng tôi. Chúng tôi luôn phải ăn những mẩu xương và thịt heo thừa mà cha tôi bán không hết trong ngày. Không biết có phải vì đó là cách buôn bán của ông hay vì chúng tôi chỉ là những kẻ ăn bám mà ông đối xử bất công với chúng tôi khi ông dành toàn phần thịt ngon nhất cho khách hang và để cho chúng tôi toàn những mẩu vụn không ai thèm mua. Cha tôi lớn lên với ý nghĩ rằng cách dạy con tốt nhất trong mọi trường hợp là phải thật “nghiêm khắc” và “cứng rắn”. Một lần, ông kể với chúng tôi rằng suốt thời thơ ấu của mình, không ngày nào ông không bị mẹ nuôi cốc vào đầu (cha tôi vốn là con nuôi); vì vậy cho đến tận bây giờ, ông vẫn tin rằng ông khấm khá hơn, thông minh hơn các anh em nuôi và cả các anh chị em ruột của mình là nhờ những cái cốc đầu ấy.  Tôi còn nhớ một lần nọ, cha đánh chị cả tôi mạnh tay đến nỗi chị không thể chịu đựng được nữa nên phải báo cảnh sát. Chắc hẳn các bạn cũng đoán ra được tình huống lúc đó tồi tệ đến mức nào vì chúng tôi sợ cha đến nỗi không dám nói với bất cứ ai về việc cha đánh đập mình, nói gì đến việc báo cảnh sát. Một lần khác mà tôi còn nhớ là lúc tôi bị đánh và bị đốt áo sơ mi vì không chuẩn bị sẵn sàng đi học khi xe đến đón dù hôm đó xe đến sớm hơn thường lệ. Ngược lại, mẹ tôi là người phụ nữ dịu dàng và giản dị nhất mà ai cũng phải mơ ước. Dù bị ông bà và cha tôi đánh đập và la mắng, mẹ vẫn cứ nhẫn nhục và phục tùng họ. Lần nọ, mẹ kể với tôi rằng chi tôi chỉ “âu yếm” bà trong ba ngày đầu tiên sau lễ cưới. Tôi không hình dung nổi làm thế nào 14 anh em ra đời được! Còn một việc nữa, đó là trừ nhà ra, nơi duy nhất tôi có thể đến là trường học. Vì thế, tôi luôn mong được đến trường, tuy nhiên đó cũng là nơi tôi vừa yêu vừa ghét. Đó là vì suốt thời gian học tiểu học, tôi gặp phải một ông thầy thích nhéo hơn là dạy học. Mỗi khi chúng tôi không trả lời được câu hỏi, ông bắt chúng tôi đứng lên ghế, rồi tới cạnh bên, thọc tay vào túi quần sooc của chúng tôi và….. nhéo! Nhà thì giống như ngọn lửa, còn trường học giống “ cái chảo nóng”. Một thứ nữa cũng là một phần của tuổi thơ chúng tôi, đó là “kết phe”. Mỗi ngày sau khi tan học, tôi chẳng còn muốn về nhà, mà lại la cà đó đây với lũ bạn, đùa giỡn và đánh bạc….. Thậm chí, chúng tôi thành lập một đội bóng rổ mang tên “ FORTISS”; về sau, chúng tôi đã lấy tên này đặt cho công ty của mình. Đó là toàn cảnh những ngày thơ ấu của tôi. Tôi sinh ra giữa hai thái cực. Phải nói rằng tuổi thơ của tất cả anh chị em tôi bị ảnh hưởng và tôi không dám đoan chắc điều này không để lại dấu vết gì trong cuộc đời chúng tôi sau này. Nhiều người trong chúng ta cũng gặp phải điều tương tự trong cuộc sống. Cuộc sống có thể đã quá tệ bạc với ta. Thậm chí ta có thể nói nó quá bất công và tự hỏi mình tại sao lại thế. Trong cuộc tìm kiếm câu trả lời cho điều này, một số người bị rối loạn về mặt tinh thần và tâm lý, và nhiều người vẫn còn hết sức sợ hãi. Một số khác bị ảnh hưởng nặng nề đến nỗi họ bị “nhấm chìm” và mãi mãi không bao giờ đứng lên được nữa.   Mời các bạn đón đọc Tư Duy Để Thắng: Dám Thất Bại của tác giả Billi P.S. Lim.
Thay Thái Độ Đổi Cuộc Đời - Keith D. Harrell
Sách Nói Thay Thái Độ Đổi Cuộc Đời   Thái độ quyết định thành công của bạn Bất cứ ai trong chúng ta cũng khao khát có được một cuộc sống đầy cảm hứng, hạnh phúc và thành công. Tuy nhiên, để đạt được những gì bạn thật sự mong ước, tất cả đều phải xuất phát từ việc nhận ra sự quan trọng và tìm được cho mình một thái độ sống thông minh và tích cực nhất. Một thái độ sống tích cực sẽ giúp bạn luôn lạc quan, yêu đời, tự tin để nhẹ nhàng lướt qua mọi gian nan, thử thách trong cuộc sống. Ngược lại, một thái độ sống tiêu cực sẽ đóng chặt bạn vào những suy nghĩ, cách nhìn phiến diện, vị kỷ, tự ti, đau khổ và dễ dàng dẫn đến thất bại, bất hạnh. Thái độ của bạn ảnh hưởng tới mọi khía cạnh trong cuộc sống và quyết định kết quả của mọi việc bạn làm. Chúng ta ai cũng ít nhất một đôi lần mắc phải những sai lầm, gặp thất bại, hay ở một trạng thái tinh thần chán nản tồi tệ - nhưng không vì thế mà chúng ta mãi bị ám ảnh, day dứt mà không bao giờ dám tin mình sẽ khác đi hay không dám làm một điều gì cả. Chính thái độ sống của chúng ta sau những va vấp ấy sẽ quyết định: Liệu chúng ta có cho phép mình trượt dài trên những thất bại triền miên hay sự va vấp ấy sẽ chính là một cơ hội, một bài học, một trải nghiệm quý báu để chúng ta vươn lên, vững vàng và hoàn thiện mình hơn? Attitude is Everything for Success - cuốn sách nổi tiếng và được bạn đọc trên thế giới đánh giá cao với lượng phát hành hàng triệu bản của tác giả Keith D. Harrell - sẽ mang lại cho bạn những lời khuyên bổ ích, thiết thực, qua những câu chuyện sống động, những ví dụ minh họa có thật, những cảm nhận nội tâm rất sâu sắc được thể hiện với một bố cục rõ ràng và lời văn bình dị, trong sáng. Đây là kết quả mà Keith D. Harrell đúc kết được sau hơn 20 năm tâm huyết làm công việc thuyết trình, nói chuyện và tư vấn cho hàng trăm ngàn người trong các doanh nghiệp, tổ chức. Cuốn sách này chứa đựng 30 vấn đề then chốt mà những người muốn thành đạt luôn quan tâm và vận dụng một cách thật sự hữu ích trong cuộc sống của họ. Bất cứ khi nào bạn nhận thấy mình đang đuối sức, thiếu niềm tin hay mất phương hướng trong cuộc sống thì cuốn sách này sẽ rất cần thiết đối với bạn. Từng trang sách sẽ là lời giải đáp, là nguồn cảm hứng và động viên tinh thần lớn lao của bạn - những công cụ bằng lời hiệu quả nhất. Hơn thế nữa, nếu mỗi ngày bạn đều hướng mình đến những lời lẽ tự khích lệ, động viên thì thái độ sống của bạn cũng dần dần được cải thiện theo hướng tích cực. Những điều này sẽ trở thành nguồn động lực giúp bạn có một cuộc sống hạnh phúc, thành công với những tư duy, những ý tưởng mới mẻ, thể hiện qua từng suy nghĩ, từng hành động cũng như những ứng xử của bạn. Đây là một cuốn sách mà bạn sẽ muốn và cần nên đọc đi đọc lại nhiều lần. Khi bạn nói những ngôn từ tích cực, tin rằng mình sẽ làm được, và hành động với một quyết tâm cao để vươn tới những điều mình hằng mong ước, bạn sẽ khám phá ra một điều: thái độ là tất cả, là chìa khóa mở rộng mọi cánh cửa của thành công và cuộc sống hạnh phúc trong bạn!   Mời các bạn đón đọc Thay Thái Độ Đổi Cuộc Đời của tác giả Keith D. Harrell.
Phút Nhìn Lại Mình - Spencer Johnson
Sách Nói Phút Nhìn Lại Mình   “Trong cuộc sống có những lúc cần hướng vềphía trước, suy nghĩ và chuyển động nhanh,có những lúc cần tĩnh lặng, nhìn lại và điều chỉnh. Mọi thành công trong công việc và hạnh phúctrong cuộc sống đều bắt đầu từ nguồn sáng nội tâm.” -- Khuyết danh Phút Nhìn Lại Mình của tác giả Spencer Johnson là một câu chuyện thực tế, hữu ích và sâu sắc về cách nhìn lại, tự điều chỉnh mình để vượt qua những khó khăn, trở ngại và đạt được thành công và hạnh phúc thực sự trong cuộc sống. Giữa dòng đời hối hả, bộn bề, một chàng trai – nhân vật chính của câu chuyện – bên cạnh những vất vả, tổn thương tinh thần - đã có những lúc tưởng chừng đuối sức vì công việc và áp lực cuộc sống. Chính anh đã cảm nhận mình còn thiếu một điều gì đó rất quan trọng và bắt đầu cuộc tìm kiếm sự tĩnh lặng, phút nhìn lại mình, để thanh thản, để trở về với chính mình, để đạt được thành công trong công việc và đặc biệt là tìm được hạnh phúc với người thân yêu, bạn bè, gia đình, với mọi người và quan trọng hơn hết – là hạnh phúc với chính mình. Chàng trai khám phá ra con đường dẫn đến hạnh phúc, thành công – không ở đâu xa hay khó nắm bắt được như trước đây anh từng nghĩ – mà  đơn giản là chỉ với một khoảng thời gian rất ngắn – một phút nhìn lại mình, dành riêng cho mình. “Đó là điều quan trọng của cuộc sống mà đôi khi bạn đã quên đi hay vô tình không nhận ra…” *** Rời mái trường bước vào cuộc sống,một chàng trai,sau những khó khăn,thử thách dần trưởng thành với những mục đích đã đạt được.Anh làm việc không mệt mỏi và điều có ý nghĩa là anh đã tìm được niềm vui trong công việc.Công việc thực sự có một sức hút với anh.Cũng nhờ thế, anh đã đạt được không ít thành quả khiến cho những nguời xung quanh rất thán phục Nhưng đến một ngày, anh cảm thấy quá căng thẳng,bởi hầu như công việc ở công ty anh cứ liên tục tiếp diễn,không có điểm dừng.Bất kì vấn đề nào anh cũng muốn quan tâm đến bằng tất cả nhiệt huyết,song có những điều xảy ra không theo ý muốn của anh.Những hiểu lầm dẫn đến bất hoà với đồng nghiệp,những lần xung đột quan điểm với người yêu-khiến tình cảm rạn nứt dẫn đến cuộc chia tay mới đây…đã khiến anh thực sự mất phương hướng.Tình yêu đổ vỡ-anh mất đi nguồn động viên lớn nhất của mình. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến anh,trong suy nghĩ riêng cũng như trong công việc. Chàng trai không thể lí giải được điều gì đang xảy đến với mình.Nhiều đêm không ngủ,mọi nghĩ suy trăn trở trong anh chỉ xoay quanh câu hỏi:”Tại sao?”.Tại sao có những sự việc anh chắc chắn nó sẽ diễn biến như thế,nhưng cuối cùng không thể làm anh hài lòng?.Sự tự tin trong anh không mất đi,nhưng anh không tìm ra đâu là hướng đi đúng.Anh cảm thấy hình như mình còn thiếu một điều gì đó-một điều rất quan trọng. Những khi ngồi lại một mình,trong anh lại xuất hiện những suy nghĩ mâu thuẫn.Anh chợt thấy mình là một người xa lạ-một người mà chính anh cũng không thích-nhưng cái tôi của anh đã ngăn cản không cho anh nhìn rõ và thừa nhận điều đó.Những mâu thuẫn nội tại cùng với các sự cố không thể khắc phục được trong cuộc sống đã khiến anh trở nên trầm lặng hẳn.Tuy nhiên, trong thâm tâm,anh biết đó chỉ là một sự “tự vệ” tạm thời,chứ không phải là bản chất thật luôn hướng ngoại,tích cực của mình. Nhưng dần dần,anh nhận ra vấn đề đã trở nên nghiêm trọng hơn anh tưởng:sự sáng tạo và năng động vốn có trong anh đã giảm đi rất nhiều.Từ lúc nào không hay,anh đã mắc phải chứng trầm cảm-hậu quả của những đêm dài không ngủ,trăn trở nghĩ suy.Anh không biết phải khắc phục,tự điều chỉnh như thế nào hoặc phải bắt đầu lại từ đâu?. “Mình đang thật sự cần điều gì đây?-Anh trăn trở-Liệu mình có đòi hỏi quá nhiều không,khi vừa muốn được thành công,lại cũng vừa muốn tìm kiếm sự bình yên và hạnh phúc trong tâm hồn?Không biết có ai đó cùng lúc đạt được cả hai điều này không?Nếu có thì người đó quả thật may mắn vì có được một cuộc sống trọn vẹn như vậy!”. “Mình phải sớm thoát khỏi tình trạng này –Anh tự nhủ-Nếu kéo dài,hậu quả sẽ khó lường trước.Phải có ai đó thật từng trải mới có cách lí giải những mâu thuẫn trong cuộc sống-như những gì mình đang gặp-mới có thể giúp được mình”.Anh bỗng thấy phấn chấn khi tiếp tục theo đuổi dòng suy nghĩ: “Liệu có ai đó làm được như vậy không?Và làm sao biết được người đó ở đâu?Mà nếu gặp được thì không biết họ có sẵn lòng chia sẻ những bí quyết quý báu đó với một người lạ như mình không?” Bất chợt anh nhớ đến một người mà trong một lần tình cờ đã giúp một người bạn của anh giải quyết một tình huông khó xử khiến anh nhớ mãi.Về sau,anh mới biết được ông là một bác sĩ,hình như là bác sĩ tâm lí.Thỉnh thoảng,anh cũng có trò chuyện cùng ông.Sự hiểu biết,vốn sống phong phú và phong thái trẻ trung của ông khiến anh thầm cảm phục.Ngoài công việc chính, ông còn giảng dạy ở nhiều nơi và đôi khi cũng dành thời gian tham gia các trận đá bóng với sinh viên của mình.Anh từng nghe mọi người nói rất nhiều về ông. Ông trầm tĩnh,sâu sắc,hiểu biết nhiều về cuộc sống và có óc hài hước. Đó thật sự là một người đáng tin cậy.Thế nên, ông luôn luôn được mọi người quý trọng.Dường như, ông đang nắm giữ trong tay mọi điều tuyệt vời nhất của cuộc sống:có những mối quan hệ tốt đẹp,một gia đình hạnh phúc và một công việc ý nghĩa. ... Mời các bạn đón đọc Phút Nhìn Lại Mình của tác giả Spencer Johnson.
Những Bí Quyết Trong Giao Tiếp - Larry King
Sách Nói Những Bí Quyết trong Giao Tiếp   HENRY KISSINGER "Ngôn ngữ truyền đạt của Larry King quả thật là không ai sánh bằng. Nguyên tắc cốt yếu của ông ấy là biết lắng nghe, biết chia sẻ và không bao giờ đánh mất sự hài hước. Đây là một bài học quý cho tất cả chúng ta". TOMMY LASORDA "Quả thật cuốn sách này thật thú vị với những lời nhận xét xác đáng và bổ ích". GEORGE BURNS "Tôi bị choáng trước cuốn sách mới của Larry. Tôi phải thốt lên rằng tôi rất thích nó. Và dĩ nhiên, Larry đâu có ép tôi phải nói điều này!". DAN RATHER "Cuốn sách đã cho tôi những lời khuyên thực tiễn nhất và thông minh nhất. Xin cảm ơn Larry King, nhà hùng biện đại tài". LARRY KING *** 45 NĂM GẮN BÓ VỚI NGHỀ PHÁT THANH VIÊN Năm 2003 là năm thứ 46 của Larry King trong nghề phát thanh viên. Ông được nhận danh hiệu: "Người dẫn chương trình ấn tượng nhất" nước Mỹ và được tạp chí TIME bình chọn là "Chuyên gia micro" số một. Biệt tài của Larry Kinh là cực kỳ khéo léo trong việc khai thác thông tin từ người đối thoại và dẫn dắt vấn đề. Phong cách của ông lịch thiệp và vô tư nhưng lại đưa ra được những câu hỏi bất ngờ, hấp dẫn nhất trong cuộc nói chuyện. Larry King tên thật là Lawrence Harvey Ziegler, sinh ngày 19-11-1933 tại Brooklyn, New York trong một gia đình người Nga di cư với bố và mẹ là Eddie và Jennie. Trước khi xuất hiện trước khán giả quốc tế, King là một phát thanh viên được yêu thích ở Miami, khi phụ trách những chương trình phỏng vấn trên làn sóng phát thanh WIOD-Radio và trên kênh truyền hình WTVJ-TV. Hàng triệu thính giả của Mutual Radio đã quen thuộc với giọng nói của King qua chương trình "The Larry King Show" từ năm 1978-1994. Larry King thực sự nổi tiếng khi đảm nhiệm cương vị người phụ trách chương trình trò chuyện "Larry King Live" trên đài CNN. Ra đời tháng 6-1985, với nội dung là những cuộc phỏng vấn các nhân vật nổi tiếng, các cuộc thảo luận chính trị-xã hội, đây là một trong những chương trình truyền hình được đánh giá cao nhất đến nay. Chương trình được truyền hình trực tiếp vào 21 giờ tối, có sự tham gia của các khán giả trên thế giới qua mạng điện thoại. Tháng 6-1994, "Larry King Live" trở thành chương trình đầu tiên được truyền hình trực tiếp trên CNN và phát thanh trên làn sóng radio Mutual/Westwood. King đã thực hiện trên 40.000 cuộc phỏng vấn, được gặp gỡ và đối thoại với nhiều nhân vật tên tuổi, trong đó có các tổng thống Mỹ kể từ thời Richard Nixon. Năm 1993, cuộc thảo luận giữa Al Gore và Ross Perot trên chương trình của King đã lập kỷ lục chưa từng có trong lịch sử CNN: trên 16,3 triệu khán giả theo dõi, cao hơn cả số lượng khán giả xem phóng sự đầu tiên về chiến tranh vùng Vịnh. Tính đến nay "Larry King Live" là chương trình có tuổi thọ lâu nhất của CNN và thu hút đông đảo khán giả nhất. Năm 2000, King thực hiện thành công chương trình 37 ngày liên tục theo sát cuộc tuyển cử ở Florida, phỏng vấn 384 người. Những khách mời như là Geoge W. Bush, Laura Bush, Tipper Gore... Ngoài ra còn có ứng viên Đảng Cộng Hòa Dick Cheney và ứng viên Đảng Dân Chủ Joe Lieberman. Năm 2001, sau sự kiện khủng bố ngày 11/9, King đã phỏng vấn hơn 700 vị khách mời, bao gồm cả những nhà lãnh đạo thế giới và các chính trị gia tên tuổi. Chương trình "Larry King Live" luôn luôn hấp dẫn với danh sách khách mời sáng giá, phong phú và hấp dẫn: Yasser Arafat, Tom Cruise, Tony Blair, Marlon Brando, Jim Carrey, Bette Davis, Sammy Davis Jr., Mikhail Gorbachev, Tom Hanks, Bob Hope, Michael Jordan, Madonna, Paul McCartney, Al Pacino, Prince, Diana Ross, Pete Rose, Barbara Streisand, Sting, Elizabeth Taylor, Margaret Thatcher và Oprah Winfrey (người phụ nữ dẫn chương trình hay nhất nước Mỹ, nữ tỷ phú da màu đầu tiên-thống kê đầu năm 2003)... Được ví là "Muhammad Ali của những cuộc phỏng vấn", Larry King có một sự nghiệp lẫy lừng với vô số giải thưởng lớn: giải phóng viên ưu tú "Allen H. Neuharth", giải "Emmy", mười giải "Cabble ACE" cho người phỏng vấn giỏi nhất và chương trình truyền hình hay nhất. Năm 1993, King trở thành "Ông chủ chương trình trò chuyện của năm". Năm 1994, ông nhận giải "Scopus" do tổ chức American Friends của trường đại học Hebrew trao tặng. Năm 1996, Viện Hàn Lâm Hoa Kỳ trao tặng King giải thưởng"Golden Plate" cho những cống hiến của ông trong ngành công nghiệp truyền thông đại chúng. Năm 1997, Hollywood phong tặng cho King danh hiệu "Ngôi sao danh dự trên bầu trời nghệ thuật". Năm 2001, King nhận giải thưởng "Unity" cho những chuyên đề xã hội. Năm 2002, King nhận được hai giải thưởng "New York Festival" cho chương trình sau sự kiện khủng bố 11/9 và chương trình phỏng vấn ca sĩ cựu thành viên nhóm Beatles Paul McCartney (ảnh bìa 4). Ông nhận được Học vị danh dự của trường đại học George Washington, học viện New England, đại học Brooklyn và Học viện Pratt, được mời đến phát biểu trong lễ phát bằng tốt nghiệp của đại học Y khoa Columbia... Larry King không đứng ngoài hoạt động từ thiện và công tác xã hội. Ông đã thành lập Quỹ từ thiện Larry King để hỗ trợ và giúp đỡ viện phí cho những bệnh nhân tim mạch. Ông tham gia nhiều hoạt động của Tổ chức tim mạch Hoa Kỳ và Tổ chức bảo vệ trẻ em. Năm 2002, King vừa thiết lập học bổng trị giá 1 triệu dollar cho những sinh viên ngành truyền thông có hoàn cảnh khó khăn ở đại học George Washington. Ngoài đời, Larry King kết hôn với diễn viên kiêm ca sĩ Shawn Southwick. Ông là bố của các con Andy, Larry Jr., Chaia, Chance và Cannon và đã có ba cháu ngoại. TRUNG NGHĨA *** Larry King (1933) là người dẫn chương trình phát thanh và truyền hình kỳ cựu trong ngành truyền thông Mỹ. Với sự nghiệp bền bỉ từ năm 1957 đến nay, ông đã giành được 2 giải Peabodys và 10 giải Cable ACE của các hiệp hội phát thanh và truyền hình Hoa Kỳ. Ông đặc biệt được biết đến với chương trình được phỏng vấn trực tiếp Larry King Live trên kênh CNN (Mỹ), thu hút hơn 1 triệu khán giả mỗi tối. Một số đầu sách bán chạy nhất của Larry King: Con đường mới dẫn vào Nhà Trắng Cha và Con Quyền năng lời nguyện cầu Nói lên sự thật Giao tiếp trong tương lai Mời các bạn đón đọc Những Bí Quyết Trong Giao Tiếp của tác giả Larry King.