Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Mùa Hè Tươi Đẹp - Cesare Pavese

Cesare Pavese (1908 - 1950) Nhà văn và Dịch giả rất quan trọng của nền văn học Ý trong thế kỷ XX Là tác giả Ý đoạt được nhiều giải thưởng văn học rất giá trị: 1938 tác phẩm “Người bạn” đoạt giải Salento, 1949 “Mùa hè tươi đẹp” đoạt giải Strega, tập truyện “Ánh trăng và đống lửa” được đánh giá là tác phẩm rất hay. Nhưng mặc dù đạt đỉnh cao trong văn học sự thất vọng về cuộc đời và tình yêu luôn mang cho ông cảm giác trống rỗng và cô đơn. Mệt nhọc, hao mòn, dù vẫn cực kỳ minh mẫn ngày 27 tháng 5 năm 1950 ông đã uống cả một tuýp thuốc ngủ để tự vẫn trong một căn phòng khách sạn tại thành phố Torino. Trên trang nhất của tập sách “Đối thoại với Leucò” đặt trên bàn đọc sách ban đêm, ông chỉ để lại vài hàng ngắn ngủi: “Tôi tha tội cho tất cả và xin tất cả tha thứ cho tôi. Nhưng xin các bạn đừng ngồi lê đôi mách và tán chuyện nhiều”. Năm ấy ông chỉ vừa 42 tuổi. *** ĐÁNH MẤT THƠ NGÂY, KHÁM PHÁ CẢM GIÁC VÀ CÁM DỖ Tác phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp” nằm trong luồng văn học biểu tượng. Mùa hè diễn tả ở đây là một khoảng thời gian đầy màu sắc, được đồng nhất với ảo tưởng là sẽ có một cuộc đời khác đầy những điều mới mẻ, tình yêu, đam mê, cùng với những mặt tích cực mà nó tượng trưng. Nhưng sau đó là mùa thu rồi mùa đông, là cái chết của niềm hy vọng và sự đầu hàng của nhân vật chính trước sự thật phũ phàng nhưng không thể tránh khỏi của mình. Itala Elena Pucillo Trương (TS Ngôn ngữ và Văn học nước ngoài) *** Cesare Pavese - cuộc đời và tác phẩm Chọn tiểu thuyết “Mùa hè tươi đẹp” của tác giả Cesare Pavese để dịch sang tiếng Việt trước hết do giá trị văn học(1) của tác phẩm và sau đó là tầm quan trọng của tác giả trong nền văn học Ý trong thế kỷ XX. Viết từ năm 1949, bối cảnh là lối sống của lớp trẻ tại miền Bắc Ý sau thế chiến II, nhưng tính đương thời (contemporaneita) của tiểu thuyết vẫn còn đậm nét. Thấp thoáng đâu đây một cuộc sống gần với hoàn cảnh xã hội Việt Nam trong thời hội nhập: Cùng với tăng trưởng kinh tế là lối sống buông thả, khởi đầu cho sự đánh mất những giá trị đạo đức. Tính hiện thực và khả năng khai thác tâm lý nhân vật cũng được tác giả thể hiện qua cách viết và sử dụng ngôn ngữ khác lạ, đến nay vẫn còn giữ nguyên phong cách hiện đại. * Đến với các tác phẩm của Cesare Pavese chúng ta sẽ liên tục khám phá: Ngoài tiểu thuyết người đọc còn gặp nhiều bản dịch của các tác giả Anh, Mỹ và trong cùng thể loại cũng luôn có rất nhiều sự khác biệt. Sự khác biệt này đã được tác giả tái tạo, bắt đầu từ văn phong đa dạng, lối xếp đặt các bối cảnh liên quan đến cách sử dụng ngôn ngữ phong phú... để người đọc khỏi nhàm chán rồi dẫn họ nhận thức về những quan điểm khác bằng sự tế nhị và nhạy cảm của mình. Ngoài ra, có lẽ không phải là một sự tình cờ mà một trong những tác phẩm cuối cùng của ông lại là một tập thơ mang tựa đề “Cái chết sẽ đến, nó có đôi mắt của em”, như một dự báo cho việc tự sát, một thông điệp mà cũng là lời từ biệt... đã làm tác giả lừng danh, và trở thành một trong những tác giả Ý được đọc nhiều nhất trong thế kỷ XX. Trong những trang viết cũng như qua thư từ, rất nhiều lần Pavese nói về ước muốn được nổi tiếng, không chỉ riêng mình mà còn cho nơi ông ra đời, một ngôi làng chỉ có những túp nhà nho nhỏ và sình lầy.  Ông đã viết như thế này: “Quê tôi chỉ có những túp nhà nho nhỏ và bùn lầy, nhưng nó nằm kề con đường liên tỉnh mà khi còn bé tôi hay chơi đùa. Xin nhắc lại, tôi là một kẻ có nhiều tham vọng, tôi muốn đi khắp thế giới, đặt chân đến những miền đất thật xa rồi quay lưng và nói với người hiện diện: “Các bạn chưa bao giờ nghe nói đến một ngôi làng chỉ có bốn mái nhà phải không? Đây, tôi đã đến đây từ đó”. Ngôi làng nhỏ đó có tên là Santo Stefano Belbo, thuộc vùng Langhe của tỉnh Cuneo, nơi Pavese đã chào đời vào ngày 9/9/1908. Nhưng ông đã sớm rời gia đình để sinh sống ở thành phố Torino, và trong lòng chưa bao giờ khuây khỏa nỗi nhớ quê xưa. Cha chết khi ông còn rất nhỏ và sự mất mát này đã ảnh hưởng rất nhiều đến tính cách của cậu bé, vốn nhút nhát nhưng cộc cằn và khép kín, tuy yêu sách vở và thiên nhiên nhưng luôn tìm cách cô lập mình với người khác. Sau khi chồng mất, với bản tính lạnh lùng và cẩn trọng, mẹ ông đã giáo dục con như một người cha khô khan và nghiêm khắc chứ không như một người mẹ ngọt ngào và trìu mến. Khi sống và tiếp cận với thực tại điên cuồng của một thành phố kỹ nghệ lớn và đầy sương mù như Torino, Pavese càng biểu hiện tất cả những bất an sâu sắc về sự hiện sinh, những ám ảnh tâm lý và bắt đầu đi tìm kiếm sự chân thực. Như tất cả những chàng trai trẻ, Pavese cũng mang trong lòng đầy mâu thuẫn và nhiều xung đột, với một sự nhạy cảm thái quá. Do vậy ông hành động theo ý nghĩa tiêu cực và tự làm hao mòn những xác tín mà cuộc đời mình đã gánh chịu. Trong các bức thư của mình, ông thường nhắc đến một thói tật vô lý, muốn tự sát, báo trước cho số phận bi thảm của mình. Có lẽ chính vì nỗi bất an đó mà ông phải đi tìm một biện pháp khắc phục bằng cách thực hiện các thành tựu nghệ thuật, nhất là qua các tác phẩm văn học, giống như kẻ “Đi tìm thời gian đánh mất” của Marcel Proust. Thiếu khả năng đối phó với cuộc sống, ông đã gặp vô vàn khó khăn trong quan hệ giữa người và người: Sống, đối với Pavese đã trở thành một “nghề” cần phải học trong đau đớn và trong tình huống đó, nghệ thuật với ông đã trở thành một sự cần thiết nhằm thay thế sự sống. “Tôi đã học viết nhưng chưa học sống” nên viết lách đã trở thành biện pháp duy nhất, khả năng duy nhất để ông biết mình đang sống và cảm thấy mình hạnh phúc dù chỉ trong chốc lát. Pavese viết: “Chỉ khi viết tôi mới là người bình thường, quân bình và bình an”. Đối với văn học trong thế kỷ XX tính xác thực của thi ca được xác định bởi tầm nhìn phiền muộn của con người, được nuôi dưỡng trong số phận đầy âu lo. Tính xác thực và cái chết với ông như đã trở thành đồng nghĩa, vì sống là “Chuẩn bị cho cái chết”. Cùng với nhu cầu tuyệt vọng về tình yêu, khởi nguồn từ sự cô đơn và ý muốn vượt thoát sự cô độc, tự mâu thuẫn giữa những lời tuyên bố đầy kiêu hãnh về mình và ý thức về sự thiếu khả năng vui sống, Pavese đã chọn văn học như một giải pháp nhằm giải quyết các xung đột nội tâm. Tuy vậy trong các tác phẩm của ông cũng có vài lần ghi lại hạnh phúc trong đời mình, đó là các buổi thảo luận trong các quán ăn với công nhân, với những người bán hàng rong, những con người vô danh và tầm thường, nhưng về sau tất cả đều trở thành nhân vật trong tiểu thuyết của ông. Ông luôn có cảm giác là mình còn trẻ, được tái sinh và trong những năm cuối cùng của đại học, bởi trong đời tư của ông có sự tham gia của một người mà sau này trở thành trung tâm của linh hồn ông: “người đàn bà có giọng khàn khàn”. Cesare Pavese như bị biến đổi hoàn toàn: Trong suốt thời gian đó lúc nào ông cũng có cảm giác là người đàn bà ấy ở bên cạnh mình, ông bỗng trở nên tử tế, nhân bản, trìu mến, cởi mở với mọi người. Người đàn bà đó đã mang đến cho ông sự say đắm của tuổi thơ, khuôn mặt của nàng “như một đám mây”, nhưng đó là một áng mây ngọt ngào bay giữa trời xanh lơ lửng trên những ngọn đồi của quê ông. Năm 1930, lúc chỉ vừa 22 tuổi, ông tốt nghiệp đại học với luận án về sự lý giải thi ca của Walt Whitman và bắt đầu cộng tác với tạp chí “Văn hóa”. Ông dạy học vào buổi tối ở các trường tư thục, nhưng đồng thời cũng dịch rất nhiều tác phẩm văn học của Anh và Mỹ và nổi danh rất sớm. Dường như những năm tháng trung và đại học đã giúp cho chàng trai cô độc tìm được những gắn bó bạn bè: điều này giúp anh hiền hơn trong các cuộc bút chiến và phẫn nộ trong văn học. Năm 1931, chỉ vài tháng sau khi tốt nghiệp thì mẹ mất: vì chưa có dịp tỏ bày lòng ngưỡng mộ và chứng minh tình thương cùng sự trìu mến của mình với mẹ, niềm ân hận đó đã tạo nên một đường rãnh sâu sắc và cay đắng trong tâm hồn tác giả. Còn lại một mình, ông chuyển về sống với cô em Maria, và ở lại bên cô cho đến lúc chết. Cũng trong năm 1931 bản dịch đầu tiên của ông “Ngài Wrenn của chúng ta” của tác giả Sinclair Lewis được in ở thành phố Frenze. Việc dịch thuật có một tầm quan trọng không chỉ với cuộc đời tác giả mà còn cho nền văn học Ý nữa, vì nó đã mở ra một cánh cửa cho một thời kỳ mới của tiểu thuyết Ý. Với những bản dịch của mình, ông đã giúp người đọc biết được các chiều kích vô cùng lớn lao của lòng khao khát tự do, cùng với ý nghĩa bi thảm, xem cuộc đời là vô ích và đến cả động tác cuối cùng của cuộc đời, tự tử. Năm 1933, khi nhà xuất bản Einaudi được thành lập và vì tình bạn với Giulio Einaudi, Pavese tham gia các dự án của nhà xuất bản với sự nồng nhiệt: có lẽ đây là những năm tháng tốt đẹp nhất của tác giả cùng với một “người đàn bà có giọng nói khàn khàn”, một trí thức tốt nghiệp ngành toán và tham gia tích cực trong phong trào chống phát xít. Vì liên can đến người đàn bà này, ngày 15 tháng 5 năm 1935 ông bị bắt vì tình nghi chống phát xít, bị xử tù 3 năm và giam giữ ở Brancaleone Calabro thuộc miền Nam nước Ý. Ba năm nhưng về sau được giảm xuống ít hơn một năm nhờ đơn ân xá, ông được thả vào tháng 3 năm 1936, nhưng sự trả tự do này oái ăm thay lại trùng hợp với sự thất vọng cay đắng của đời ông: Người đàn bà mà ông hết lòng bảo vệ đến nỗi bị tù đày vì không chịu khai danh tánh đã bỏ ông để lập gia đình với một người đàn ông khác. Kinh nghiệm tù đày đớn đau (sau là chủ đề của một quyển tiểu thuyết đầu tay của ông, “Nhà tù”) cùng với sự thất vọng về tình yêu đã quất ông những ngọn roi tàn nhẫn và đẩy ông ngã vào một cơn khủng hoảng trầm kha, mãi nhiều năm về sau vẫn còn ràng buộc vào cám dỗ đau đớn và luôn xuất hiện ý muốn tự sát. Ông tự khép mình vào sự cô độc, có lẽ còn tồi tệ hơn cả quãng đời thơ ấu. Sau khi chiến tranh thế giới lần II chấm dứt, ông ghi danh vào đảng cộng sản Ý nhưng sự tham gia của ông chỉ thuần văn học: Ông viết những bài báo và tiểu luận chủ yếu về đạo đức - dân sự, ông tiếp nối công việc ấn loát, tổ chức lại nhà xuất bản Einaudi, ông quan tâm đến truyền thuyết và nhân chủng học, thiết lập những lý thuyết về huyền thoại, và hoàn thành tác phẩm “Đối thoại với Leucò”. Về sau, khi chuyển đến La Mã làm việc ông có quen với một nữ diễn viên trẻ, Constance Dowling, khởi đầu cho một tình yêu mới. Có lẽ cô diễn viên trẻ đẹp và “khuôn mặt có nhiều đốm tàn nhang” này mới đầu đã thực sự yêu người đàn ông nổi tiếng, thông minh nhưng cũng dễ xúc cảm, quan hệ này đã hâm nóng tình yêu cho tác giả, nhưng về sau cô cũng bỏ ông để trở về Mỹ. Trong đau đớn tột cùng, Pavese đã sáng tác và in thành một tập thơ nhan đề: “Cái chết sẽ đến, nó có đôi mắt của em...” Sau lần thất tình này, cộng thêm sự khủng hoảng chính trị và tôn giáo đã làm Cesare Pavese thất vọng và hoảng hốt, nó xâm chiếm tâm hồn ông mặc dù lúc này ông đạt đỉnh thành công văn học (1938 tác phẩm “Người bạn” đoạt giải Salento, 1949 “Mùa hè tươi đẹp” đoạt giải Strega, tập truyện “Ánh trăng và đống lửa” được đánh giá là tác phẩm rất hay) đến nỗi sự cô đơn và cảm giác trống rỗng làm ông không biết phản ứng ra sao. Mệt nhọc, hao mòn, dù vẫn cực kỳ minh mẫn, ông đã uống cả một tuýp thuốc ngủ để tự vẫn trong một căn phòng khách sạn Roma tại thành phố Torino. Đó là ngày 27 tháng 5 năm 1950, để lại vỏn vẹn chỉ vài hàng ngắn ngủi trên trang nhất của tập sách “Đối thoại với Leucò” đặt trên bàn đọc sách ban đêm: “Tôi tha tội cho tất cả và xin tất cả tha thứ cho tôi. Nhưng xin các bạn đừng ngồi lê đôi mách và tán chuyện nhiều”. Năm ấy ông chỉ vừa 42 tuổi. * Tác Phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp” Tác phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp” nằm trong dòng văn học biểu tượng. Mùa hè diễn tả ở đây là một khoảng thời gian đầy màu sắc, được đồng nhất với ảo tưởng là sẽ có một cuộc đời khác đầy những điều mới mẻ, tình yêu, đam mê, cùng với những mặt tích cực mà nó tượng trưng. Nhưng sau đó là mùa thu rồi mùa đông, là cái chết của niềm hy vọng và sự đầu hàng của nhân vật chính trước sự thật phũ phàng nhưng không thể tránh khỏi của mình. Câu chuyện kể về Ginia, một cô gái mồ côi chỉ vừa 16 tuổi, từ miền quê chuyển về sinh sống trong thành phố Torino cùng với anh là Severino. Ginia là một cô gái ngọt ngào nhưng không may mắn. Sự thơ ngây và trong sáng của cô hoàn toàn không đáng nhận một số phận bi đát và một sự sỉ nhục tồi tệ trong thành phố Torino xám xịt. Mới đầu cô bị thành phố làm cho lóa mắt vì nhịp sống của nó hoàn toàn khác với miền quê mà cô từng biết. Cô mong muốn yêu và được yêu. Rất nhiều cô gái vào tuổi dậy thì, trong các thành phố có màu sắc hiện đại, đến với tình yêu thật phiến diện, được thúc đẩy bởi tò mò nhiều hơn là tình yêu. Họ đánh mất tiết trinh rất dễ dàng và mãi về sau họ mới nhận ra giá trị những gì mà mình đã mất. Và như thế tác phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp” không chỉ là một câu chuyện kể đơn giản mà còn là một cảnh báo cho các cô gái trẻ, ngây thơ và dễ dãi. Ngay chính Pavese cũng đã định nghĩa rằng tác phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp” là chuyện kể về sự bảo vệ tiết trinh. Tựa đề ban đầu của tác phẩm chính là “Chiếc màn”, nhắc lại cảnh Ginia nhận ra mình bị lừa dối, bị gạt gẫm và chế nhạo... vì khi chiếc màn dùng để chia xưởng vẽ làm hai, mở ra, Ginia mở mắt và bỗng hiểu ra tất cả. Ê chề và tuyệt vọng, nhưng Ginia hoàn toàn không có khả năng thích ứng với trò chơi tàn ác của cuộc đời, trong đoạn kết Ginia đã nói với bạn: “Thôi mày hãy dẫn tao đi”. Tiểu thuyết “Mùa Hè Tươi Đẹp” tuy có cốt truyện gắn liền với cuộc sống rất đời thường nhưng chứa đựng nội dung sâu sắc: Nó tượng trưng cho xung đột giữa sự ngây thơ (Ginia) và sự hư hỏng, thoái hóa (Guido và Amelia). Đánh mất sự hồn nhiên của một cô gái chính là bước chuyển biến từ trạng thái hạnh phúc, rất tự nhiên của tuổi dậy thì đến một trạng thái khác, sự trưởng thành. Amelia là một nhân vật tiêu cực nhưng rất cần thiết để hoàn thành bước ngoặc này. Qua cô, Pavese đã tượng trưng cho cái chết như ông đã nhìn thấy: Tham vọng, độc ác, nhưng đồng thời cũng rất cám dỗ và mời mọc, đến nỗi nó được ủy thác để dìu dắt một cuộc đời hồn nhiên và chẳng có chút liên quan nào. Amelia, tàn ác mà quyến rũ, cuối cùng đã lôi cô vào một thế giới chưa từng quen biết. Văn phong Thời gian kể truyện ngắn hơn câu chuyện, bởi vì tác giả tóm tắt nhiều ngày trong một câu ngắn, với một nhịp điệu vừa - nhanh. Tác phẩm này được giới phê bình xem như thuộc trường phái “tự nhiên” của Cesare Pavese, nó liên hệ đến ảnh hưởng của môi trường và hiện thực lên đời sống nhân vật. Trong tác phẩm của Pavese văn phong hòa lẫn với tình huống thông qua sự xếp đặt con chữ, thả trôi theo nhịp điệu cảm xúc sống động trong tâm cảnh. Nhân vật phản ảnh tất cả những gì mình nghĩ, chuyển tải lên trang giấy bằng một cú pháp thiết yếu cấu tạo bởi những câu nói rất bình dân được nhặt nhạnh từ đời sống thường nhật, từ những lối ngắt câu trong các đoạn và từ cách dùng câu đẳng lập(2). Cách viết của Pavese trong tác phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp” có thể bị ngộ nhận là nghèo nàn, nhưng đó là sự nghèo nàn biểu kiến. Bởi nó tương xứng với trình độ văn hóa của nhân vật và ngôn ngữ đời thường của họ. Chính nhân vật đã kể lại câu chuyện và đó mới thực là văn phong của tác phẩm. Itala Elena Pucillo Trương (TS Ngôn ngữ và Văn học nước ngoài) __________ 1.  Tác phẩm đoạt giải thưởng Strega năm 1950. Giải thưởng STREGA là giải thưởng văn học quan trọng nhất của Italia. Được trao giải hằng năm cho tiểu thuyết hay tuyển tập truyện ngắn của các tác giả Ý. Giá trị hiện vật không nhiều nhưng giá trị tinh thần và giúp việc phổ biến tác phẩm rất lớn. Các tác giả Ý nhận được giải thưởng này có thể kể như: Cesare Pavese, Alberto Moravia, Mario Soldati, Giuseppe Tomasi di Lampedusa, Elsa Morante, Giorgio Bassani, Natalia Ginzburg, Primo Levi, Umberto Eco, Claudio Magris. Tuy nhiên cũng có những tác giả nổi tiếng sau đây lại không nhận được giải: Italo Calvino, Carlo Emilio Gadda, Leonardo Sciascia. 2. Paratassi, parataxis. Mời các bạn đón đọc Mùa Hè Tươi Đẹp của tác giả Cesare Pavese.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Chú Hãy Ngủ Với Tôi
Chú Hãy Ngủ Với Tôi của tác giả Võ Anh Thơ là tựa truyện ngôn tình, sắc, hài hước. Câu chuyện kể về cô là Đỗ Như, xuất thân là một thiên kim tiểu thư của dòng họ Đỗ, tròn hai mươi tuổi, lạnh lùng ngang bướng, không còn muốn sống vì mắc bệnh tim và bị người yêu bỏ rơi. Còn anh là Tôn Duy, một anh chàng nhân viên kế toán bình thường, năm nay ba mươi tuổi, hơi nóng tính và dễ cáu gắt, đã có vợ. Do số phận sắp đặt, “băng” với “lửa” tình cờ gặp nhau. Để rồi tiếp đến một bản hợp đồng tình nhân được tạo nên: một tuần một đêm, với tám điều khoản trong hợp đồng ngoại tình. *** BẢN HỢP ĐỒNG NGOẠI TÌNH BÊN A: Họ và tên: Đỗ Như Chiều cao: 1m58 Nhóm máu: O Số CMND: 0244 XX XXX Ngày tháng năm sinh: 03/01/1994 Địa chỉ: (bí mật) Nghề nghiệp: sinh viên ngành quản trị kinh doanh Điện thoại: 0977 XXX XXX Một vài điều về bản thân: Cô chủ của họ Đỗ, mẹ là giám đốc công ty mỹ phẩm Hoàng Hiệp. Lạnh lùng kiêu ngạo, ngang bướng và tinh ranh. Thích màu xám (màu trung hoà giữa "trắng sáng" & "đen tối"). Hay mỉm cười, tỏ ra ngây thơ khi muốn lợi dụng người khác để đạt mục đích... Bị bệnh tim. Thất tình vì bồ đá. BÊN B: Họ và tên: Tôn Duy Chiều cao: 1m8 Nhóm máu: B Số CMND: 0244 XX XXX Ngày tháng năm sinh: 19/04/1984 Địa chỉ: (bí mật) Nghề nghiệp: nhân viên kế toán Điện thoại: 0163 XXX XXX Một vài điều về bản thân: Chàng trai có vẻ ngoài bình thường, nóng tính hay cáu gắt nhưng đôi khi khá trầm. Thích những màu nhạt vì tạo cảm giác dễ chịu. Những khi bắt buộc ai làm điều gì thì tỏ ra mặt nghiêm. Hiện đang làm kế toán ở Hoàng Hiệp. Đã kết hôn. Gia đình có mẹ già bệnh, bốn em gái đi học. Nay Bên A và Bên B đồng ý lập Bản hợp đồng ngoại tình kéo dài hai tháng. Hai bên phải tuân thủ đúng tám điều khoản được đặt ra trong hợp đồng. Nếu một trong hai bên vi phạm thì... TỰ XỬ! Đây là hợp đồng tự lập không có hiệu nghiệm trước pháp luật. Ký tên, sao ra hai bảng để mỗi bên giữ một bảng và đều có giá trị như nhau. *** TÁM ĐIỀU KHOẢN TRONG BẢN HỢP ĐỒNG NGOẠI TÌNH 1. Tự nguyện trao thân. 2. Quan hệ đúng số lần quy định: một tuần một đêm. 3. Không được can thiệp vào cuộc sống riêng tư của đối phương. 4. Bên B không được có tình cảm với bên A. 5. Trong lúc quan hệ, cấm bên B hôn bên A. 6. Bên B phải luôn bảo vệ và làm vui lòng bên A. 7. Bên A tuyệt đối không được đuổi việc bên B. 8. Quyền kết thúc hợp đồng thuộc về bên A. ------ Thời đại ngày nay, giới trẻ song hành cùng sex. Có những con người vì quá cô đơn và lạc lối không biết tìm mình ở đâu đã tìm đến sex như một cách giải phóng những xúc cảm tồi tệ, kinh khủng trong chính bản thân. Nhưng đáng buồn, sex chỉ để lại cho họ nỗi đau chồng chất nỗi đau. Một con đường tăm tối không lối thoát. Liệu, sex có phải giải pháp hay giúp giới trẻ tìm đến hạnh phúc chân chính?... Tình yêu không phải chỉ có sỏi đá, cũng không phải chỉ có xác thịt. Đó là sự hoà nguyện giữa tâm hồn lẫn thể xác. Mời các bạn đón đọc Chú Hãy Ngủ Với Tôi của tác giả Võ Anh Thơ.
Án Tử Một Tình Yêu - The Death Of A Love
Thể loại: Tình cảm, tử tù + trại giam, đề tài xã hội, cuộc sống, nhân sinh Số chương: 19 chương full Nội dung: Một thiếu nữ mới hai mươi ba tuổi thế nhưng đã phải kết thúc cuộc đời tươi đẹp của mình, bước chân ngừng lại trong chốn lao tù... Vân Du đã giết hại hai mạng người, vừa vào Trại giam lại có định tự sát... Đồng Văn, một bác sĩ trẻ điều trị tâm lý cho tù nhân trong Trại giam, mang ác cảm đối với những tù nhân giết người. Và định mệnh đã sắp đặt cho hai con người mang nỗi đau trong quá khứ, bí mật không thể nói, được gặp gỡ nhau vào thứ ba hàng tuần, với tư cách bác sĩ điều trị tâm lý và bệnh nhân trong bộ áo tù nhân... Thông qua những dòng nhật ký trị liệu, họ - từ con người hứng chịu tổn thương - trở thành người chữa lành cho đối phương. "Yêu thương thật sự phải là thứ tình cảm có trách nhiệm." - ----------------------------- Đôi lời của tác giả: Tôi nhớ trước đây có tác giả nào đó đã nói thế này, trích lược thôi: "Con người thường gánh lấy nỗi đau do con người gây ra. Thế nhưng cũng nhờ con người mà những nỗi đau đó được xoa dịu...", có lẽ nó thích hợp với câu chuyện này. Đây không hề là câu chuyện tình lãng mạn, lâm li hay cao trào ngược luyến, mà chỉ là một tác phẩm rất thực, ý nghĩa nhất mà tôi viết từ trước đến nay. Một thứ tình lặng lẽ âm thầm giữa hai con người trong vai trò đặc biệt và cũng trong bối cảnh thật đặc biệt - Trại giam, nơi tối tăm lẫn tội lỗi. Là câu chuyện nước mắt của những phụ nữ trong buồng giam nữ số 5, của người mẹ trẻ vì cứu con mà giết người; của cô gái đôi mươi lầm lỡ; hay của người mẹ bụng mang dạ chửa bởi cái đói nghèo nên phạm tội... Khi hoàn thành tác phẩm, tôi cảm giác bản thân mình cũng đã trưởng thành hơn, cũng để hiểu: Làm người chưa bao giờ dễ dàng, phải dũng cảm đến dường nào để không phải làm tổn thương ai. Và rằng: Sống, chính là phải vượt lên trên những nỗi đau. Có lẽ đó cũng là nghĩa vụ của con người! "Án tử một tình yêu" hoàn thành vào năm 2017 nên thời gian trong truyện sẽ không phải năm 2019, và tôi cũng lấy mốc diễn ra câu chuyện là năm 2011 trước khi nhà nước ban hành luật tử hình bằng tiêm thuốc độc. *** Ngày... tháng... năm... Có một loài chim luôn hót vào đầu hạ, lúc sẩm tối, hoặc là sau cơn mưa hoặc vào các đêm trăng sáng. Tiếng hót lại nghe thê thiết, não nề. Nó khiến người ta nghĩ về nỗi mất mát, nhớ về những điều đã qua, thời gian và cả sự vô thường. Lần đầu tiên bước chân vào nơi lạnh lẽo âm u ấy, tôi đã không ngừng tự hỏi, lí do gì mình lại ở đây? Tôi đã gây ra tội lỗi gì để đến bước đường cùng này? Tôi phải chịu đựng sự giày vò, dằn vặt mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút. Chúng ám ảnh tôi trong những giấc ngủ chẳng tròn. Nước mắt không ngừng chảy mỗi đêm bằng cả ngàn ngày cộng lại, tôi chờ đợi đến lúc bản án tử được đề ra. Tôi sợ. Nhưng phải thanh thản đón nhận. Vì tôi, thật sự là kẻ có tội. Nhật kí tù nhân 3969. ***** Tháng 8 năm 2017. Buổi sớm đầu thu ở Trại giam nằm trên một con đường thuộc Sài Gòn, vang lên tiếng khua lịch kịch lạnh tanh từ ổ khóa gỉ sét, phá tan sự tĩnh lặng buồn bã ở nơi này. Bác sĩ Đồng Văn cầm theo chồng hồ sơ bệnh lí, khẽ lách mình đi qua khoảng trống vừa đủ giữa cửa hàng rào mục với bức tường ố vàng cao sững. Văn chậm rãi tiến vào bên trong khoảng sân vắng vẻ sau khi cảm ơn bảo vệ. Dưới làn gió thu mát dịu, Văn vận áo khoác xanh sậm với những đường sọc xám. Hai mép áo ép sát vào mỗi khi anh co người lại, giấu bên trong bộ blouse trắng, thứ màu riêng biệt và xa lạ giữa không gian lạnh lẽo âm u ở Trại giam. Vài phút băng qua bãi đất trống, tốc độ đôi chân nhanh hơn, Văn sắp đến nhà của quản giáo khu giam nữ. Dừng lại ở bậc tam cấp xi măng cao nhất, Văn gõ cửa bằng âm thanh thật đều, đôi vai hơi chùng xuống cho vài giây chờ đợi. Chẳng quá lâu cửa mở nhanh, xuất hiện một phụ nữ trung niên khoác bộ áo cảnh phục màu xanh lá cây quen thuộc thể hiện cho công lí và thật thi pháp luật. Đó là chị Ngà, cán bộ quản giáo khu giam nữ tại đây. Nhác thấy gương mặt Văn đứng trước cửa lúc trời còn tờ mờ sáng, chị ngạc nhiên hỏi: - Bác sĩ Văn đến tìm chị sớm vậy? Văn chậm rãi đưa chồng hồ sơ bệnh lí cho chị Ngà, mỉm cười bảo đây là kết quả kiểm tra của các phạm nhân nữ hồi tuần trước. Chị Ngà khẽ lướt mắt qua từng hồ sơ xem còn sót ai không, rồi tự dưng chậc lưỡi: - Bác sĩ Văn nhọc công quá, để lát chị qua khu bệnh xá lấy cũng được mà. - Em sắp đến gặp Phó giám thị Dũng, tiện thể qua đây đưa chị luôn. - Bác sĩ gặp Phó giám thị có chuyện gì sao? - Cũng chỉ là báo cáo tình hình tâm lí của một phạm nhân nam bên khu II. Lát, em phải đi gặp một người, sợ là không kịp đến lúc Phó giám thị đi họp về. Sự tò mò trong đôi mắt quản giáo Ngà hiện lên rõ rệt. Văn chẳng che giấu gì, nói rằng chốc nữa anh sẽ đi gặp Hoàng Oanh. Tức thì đôi mắt chị Ngà sáng lên do mừng rỡ trước cuộc tái ngộ sắp diễn ra giữa những người xưa: - Thế à? Mèn ơi, cũng lâu lắm rồi đấy! Bé Oanh vẫn khỏe chứ? - Bé Oanh sống với chú Thạch rất tốt, năm nay nó sẽ vào trường trung học. - Tốt rồi, thế này thì Vân Du cũng yên lòng... Chưa kịp nói hết câu thì sự ngập ngừng tràn ra đầu lưỡi khiến âm thanh mắc lại cuống họng, quản giáo Ngà phát hiện mình vừa nhắc lại cái tên không nên nhắc trước mặt Văn. Chị càng tự trách hơn khi thấy nỗi buồn xuất hiện trong mắt anh. Đối diện, như hiểu sự im lặng đột ngột đó, Văn cất tiếng: - Em cũng nghĩ vậy. Hẳn, Vân Du rất vui khi con gái có cuộc sống tốt. Dẫu khỏa lấp bằng nụ cười nhẹ nhàng thanh thản nhưng nỗi buồn sâu thẳm vẫn ngự trị trong đáy mắt tối đen do đứng ngược chiều sáng, Văn không thể che giấu được quản giáo Ngà. Người phụ nữ này chợt hiểu, có lẽ sau ngần ấy năm chàng bác sĩ trẻ thuở xưa chưa một lần thôi đau. Lẽ nào, có những yêu thương trải qua nhiều năm cách biệt chẳng hề vơi bớt mà ngày càng sâu đậm? Chị Ngà liền hỏi sang lí do Hoàng Oanh đến gặp Văn là gì. Chàng bác sĩ ba mươi ba tuổi trả lời với giọng đều đều: - Em cần đưa lại cho bé Oanh cuốn nhật kí của Vân Du, năm nay con bé đã mười hai tuổi rồi. Đó là lời hứa của em... Tiếng chuông điện thoại thình lình vang lên. Giấu tiếng thở dài đặc trưng, quản giáo Ngà đến bên bàn, nhấc máy nghe. Văn nhìn chị quay lại với nét mặt biểu hiện ý nghĩa rằng chị sẽ phải rời khỏi đây bây giờ. - Có rắc rối ở dãy nhà khu giam nữ, chị phải qua đó xem sao. Bác sĩ gặp bé Oanh thì gửi lời hỏi thăm của chị nhé. Dặn dò xong câu cuối cùng, quản giáo Ngà liền đi như chạy về phía dãy nhà khu giam nữ. Còn lại một mình, Văn bước chậm rãi xuống từng bậc tam cấp, thả bộ ra khoảng sân vắng vẻ. Nắng sớm lấp liếm sắp chảy tràn lên chân, Văn đảo mắt nhìn quanh. Không phải tò mò quan sát, mà chỉ để nhớ. Một thời gian dài, Văn ít khi đến đây. Mỗi lần có việc, quản giáo Ngà sẽ đến bệnh xá tìm anh. Văn nhìn cảnh vật hiện tại, cứ ngỡ khung cảnh sáu năm trước đang tái hiện. Vẫn lớp cỏ úa bên dưới bị giẫm đạp không mọc lên nổi. Vẫn bóng cây cao uể oải cho một cái vươn mình trong nắng sớm. Vẫn là những luống rau, bụi hoa do các phạm nhân nữ thay nhau trồng vào giờ lao động. Cuối cùng, vẫn bốn bức tường vàng ố bao bọc xung quanh, phía trên là dãy hàng rào kẽm sắc bén từng làm chùn chân nhiều kẻ liều lĩnh muốn bỏ trốn. Chỉ một bức tường, bên kia và bên này, ấy vậy tạo nên hai thế giới khác xa nhau. Tự do và tù đày. Chỉ một giây phút lầm lỡ thôi, ai đó sẽ mãi mãi bỏ lại sau lưng bầu trời rộng lớn xanh ngát, bỏ lại tháng ngày sống trọn vẹn kiếp người để bước chân vào đây. Trại giam, nơi không biết đã đón nhận bao nhiêu kẻ tội lỗi, dường như mất hẳn bốn mùa xuân hạ thu đông. Tồn tại duy nhất ở đây là ngày sang đêm, chờ đợi quyện với nước mắt. Đằng sau chấn song sắt đen, mỗi người mang trong mình câu chuyện riêng, bi kịch riêng mà chẳng ai giống ai. Gió nổi. Những đám mây bị đánh tan ra trôi lãng đãng vô tư lự, trả lại cho bầu trời vùng trong xanh yên ả, sắc màu đó mang đến sự an nhiên lạ lùng. Một cánh bướm màu xanh dương thẫm hiển hiện dưới đáy mắt Văn, bay chấp chới qua hàng rào kẽm trên bức tường. Con vật mê chơi bay lạc vào chốn tù đày u ám. Sự phát hiện thú vị làm chàng trai trẻ tiếp tục nhìn theo đôi cánh rực rỡ kia rung rinh trong gió. Con bướm đậu lên khóm hoa nghiêng ngả bên dưới, vui đùa là bản năng của loài phù du. Gió thổi mạnh hơn, mang theo những chiếc lá trên cành cây trụi lơ. Gió vô tình hất nhẹ con bướm xanh vướng vào cành hoa. Nó mắc kẹt, giãy cánh mãi. Cái nhìn của Văn đong đầy phân vân giữa việc giúp đỡ hay để con bướm tự thoát ra. Nhưng Văn sẽ không thể biết được kết quả của hai điều đó khi một bàn tay mềm mại luồn qua khóm hoa, nhẹ nhàng tháo đôi cánh xinh đẹp ra khỏi sự mắc kẹt. Con vật mang ơn, bay là là xung quanh người đó. Một cô bé mười sáu tuổi. Cho em tự do, không phải tù đày Quên đi năm tháng hao gầy thương anh Em ở bên này một bức tường ranh Đêm ngày trông ngóng mong manh chờ người... Cô bé cất tiếng hát, giọng trong trẻo bay vút. Tưởng chừng như thứ thanh âm réo rắt không bị xiềng xích đó vượt qua bức tường chết chóc lạnh lẽo, qua hàng rào kẽm giam cầm đến với bầu trời cao. Không gì bó buộc được cô. Văn đứng chết lặng, sững sờ đến mức không rõ hình ảnh đang thấy là thật hay mơ, là người hay chỉ là ảo ảnh nhóm lên từ nỗi thương nhớ tràn trề. Cô bé đứng gần bụi hoa mặc chiếc váy trắng dài qua đầu gối, gương mặt nghiêng nhẹ bừng sáng, mái tóc ngắn mềm mại phủ ót cùng một đôi vai mỏng manh. - Vân Du... Sau tiếng gọi thân thương phát ra từ bờ môi Văn, cô bé với chiếc váy trắng tung xòe đã quay qua nhìn với đôi mắt phẳng lặng tựa bờ hồ thu. Cô hơi nghiêng đầu, nở nụ cưởi êm đềm với anh. Điều ấy khiến Văn càng thêm choáng ngợp trong niềm hân hoan đường đột này. Với sự xúc động mãnh liệt, Văn đã không biết đôi chân mình đang tiến lại gần. Vân Du vẫn đứng yên, sự im lặng toát lên người cô tạo thành một lớp vỏ bọc đơn độc giống hệt năm xưa. Tại thời khắc này, Văn khao khát muốn ôm trọn lấy Du, cảm nhận hơi ấm da thịt lan tỏa vào nhau, điều mà khi Du còn sống anh không bao giờ được làm. Thế nhưng đôi tay xụi lơ, Văn mất hết sức lực để nhấc lên, để ôm cô... ***** Cuối tháng 3 năm 2011. Đêm mưa sáu năm trước thật khác với đêm mưa của những năm sau đó. Nó dữ dội, ướt át, vần vũ. Tiếng mưa nghe hệt âm thanh gào thét ai oán từ đất trời. Số phận có lẽ biết được một bi kịch thảm thiết sắp xảy đến nên để cơn mưa này là một điềm báo trước. Chẳng ai nhận ra giọng hét kinh hoàng của người phụ nữ len lỏi qua màn mưa buốt giá, tê tái. Thứ âm thanh ám ảnh phát ra từ bệnh viện đa khoa. Ngay cửa phòng bệnh, dáng cô hộ lí ngồi sững bất động, hoàn toàn lả đi như mất hết sự sống, riêng đôi mắt vẫn mở trừng trừng phản chiếu nỗi bàng hoàng và hai bàn tay bấu chặt vào thành cửa đến nỗi tươm máu. Những người xung quanh từ y tá, bệnh nhân cho đến người thăm bệnh, ngạc nhiên khi thấy cô hộ lí chẳng hiểu vì sao lại thét lên thất thanh rồi ngồi bệt dưới đất như bị đột qụy. Trước đó, ai nấy đều giật mình vì nghe tiếng la của những người trong phòng bệnh, họ chạy ra ngoài đầy sợ hãi. Tất cả liền chạy đến. Và khi đưa mắt nhìn vào phòng, lập tức họ đồng loạt mang những hành động không khác cô hộ lí ban nãy. Sững sờ. Hãi hùng. Thậm chí, có người yếu bóng vía đến nỗi ngất lịm. Ở giữa căn phòng trắng lạnh lẽo, được mô tả bằng mùi thuốc sát trùng nồng nặc và mấy dụng cụ y tế kim loại khô khốc, bóng dáng cô gái trẻ đứng nghiêng người toát lên hơi nồng tanh tưởi của máu. Dung dịch đậm đà mùi sắt đó vấy bẩn quần áo cô mặc, lên gương mặt từ mang tai xuống cằm, lên cả những sợi tóc ngắn lòa xòa hơi rối. Nơi nhuốm máu nhiều nhất, là bàn tay phải cô đang cầm kéo. Mũi kéo sắc lẹm, chết chóc. Dưới đất có hai thân thể nằm bất động. Mọi cử động trên người cô gái trẻ đều đứng yên, giống hệt bị hóa đá. Duy nhất một thứ nơi cô đang chuyển động, nhen nhúm sự nhận thức hiếm hoi. Đôi mắt. Với cái nhìn sâu, tăm tối như đáy hồ nhưng vẫn le lói chút hoang mang. Như kiểu, khung cảnh man rợ bày ra trước mặt lúc này không phải do cô cố ý gây nên. Dù vài phút trước thôi, chính cô đã đâm mạnh chiếc kéo vào hai cơ thể ấm nóng, kết thúc mạng sống của họ. Buông kéo. Cô xoay người thật chậm, chẳng khác gì khúc cây gãy bị đau, ánh mắt vô hồn sâu hun hút vô tình lướt qua mấy chục gương mặt xa lạ xuất hiện ngay cửa phòng, giờ đây chỉ còn những nét nhăn nhúm hãi hùng. Nhưng không có ý dọa họ, cũng không có ý thể hiện bản thân là kẻ cuồng sát, cô đang tìm kiếm một bóng hình nhỏ bé mà nãy giờ mình đã để vụt mất khỏi tầm mắt. Cái nhìn đau đáu mong mỏi khiến người ta nghĩ, thứ mà kẻ sát nhân đó đang tìm hẳn vô cùng quan trọng, biết đâu đấy là phần tốt đẹp duy nhất còn sót lại trong trái tim tội lỗi. Vài phút sau, bờ môi trắng bệch nứt nẻ chợt mấp máy, nụ cười nhẹ nhõm lướt qua khi cô thấy trong góc tường đứa con gái nhỏ đang ngồi co người, trông giống lưng tôm. Mái đầu của nó tựa lên hai đầu gối, đôi mắt tròn nhìn khung cảnh máu đổ người chết mà không chút sợ hãi, chỉ ngơ ngác. Bóng đổ từ chiếc tủ cao ngay bên cạnh chảy tràn trên thân hình và nhấn chìm nó vào màn tối. Mau chóng, con bé nghe tiếng ai gọi tên mình, bằng hơi thở mệt mỏi: - Hoàng Oanh, lại đây với mẹ. Bé Oanh ngước nhìn cô gái đứng trước mặt với cơ thể mềm ngặt nhưng vẫn cố đứng vững, như chống chọi lại bất hạnh do số phận đè xuống. Từ nãy đến giờ, nó thắc mắc không hiểu cô gái vừa giận dữ vừa đâm kéo vào hai người kia để rồi sau đó bị nhuốm máu trên quần áo ấy, có phải mẹ Du? Vì khi nghe tiếng la đau đớn của bà ngoại kế thì nó bỗng sợ. Tuổi còn nhỏ không cho phép nó nhận thức được ý nghĩa hành động mà mẹ gây ra cho bà. Nhưng giờ nghe tiếng gọi quen thuộc đó, bé Oanh chắc mẩm mẹ Du đây rồi. - Mẹ Du ơi! Vân Du đón con gái vào lòng, không bận tâm nó sẽ khó chịu với mùi tanh đeo bám trên người mình. Du vùi mặt vào mái tóc thơm ngát của con vì muốn lưu giữ mùi thơm êm đềm này thật lâu bởi hiểu rõ, lát nữa thôi cô phải rời xa Oanh. Một thời gian dài, hay cũng có thể suốt đời Du sẽ mãi mãi không gặp lại con được nữa. Không lâu sau, công an được gọi đến. Họ giải tán đám đông hiếu kỳ rồi ập vào căn phòng nơi diễn ra cuộc sát hại. Dáng vẻ ai nấy đều thận trọng dè dặt vì họ nghe người gọi điện nói với giọng đứt quãng về "một tên sát nhân cuồng loạn". Khung cảnh khiến người ta muốn choáng ngất vì mọi thứ đều nhuốm máu, bên dưới hai xác người nằm im lìm, cơ thể ngập trong dung dịch màu đỏ. Nhưng khi nhóm công an lia mắt sang tên giết người thì gương mặt họ được vẽ lên bởi sự ngạc nhiên, là một cô gái ngoài đôi mươi đang ôm đứa trẻ tầm sáu tuổi. Cả hai có vẻ quyến luyến không rời. Trông cứ như thể đây là cuộc đoàn viên mỹ mãn, và nó thật đối lập với không gian chết chóc ghê rợn. Nhóm công an đứng tần ngần vài giây, thình lình nghe tiếng giục gấp gáp của ai đó trong đám đông đang hồi hộp quan sát sự việc: - Con nhỏ tóc ngắn giết người đó! Gì mà ác dữ vậy trời! Công an mau bắt nó nhanh đi, kẻo nó điên lên giết luôn đứa trẻ, tội nghiệp! Hai người công an bước đến kéo xốc Du đứng dậy, để hai tay cô ra phía sau. Hai người khác đẩy bé Oanh lùi ra. Không hề kháng cự, Du đứng yên như khúc gỗ, mặc công an tra còng số tám lạnh ngắt vào tay mình. Khi người ta cảm nhận rõ rằng mọi thứ kể từ giờ đã kết thúc thì hành động kháng cự chẳng còn ý nghĩa nữa. Du đờ đẫn, mất luôn cảm giác đau dù bị những bàn tay thô cứng bấu siết vào người mình. Về phía bé Oanh, nó ngó cảnh mẹ mình tự dưng bị ba bốn người đàn ông xa lạ dẫn đi, vẻ mặt ngẩn ngơ. Ngay chính nó cũng đang bị kìm giữ. Bé Oanh bỗng liên tưởng đến mấy câu chuyện cổ tích mẹ Du hay kể, về việc kẻ xấu xa thường bắt những đứa trẻ nhỏ đi mất. Tức thì, nó gào khóc giãy giụa: - Bỏ ra! Bỏ ra đồ xấu xa! Mẹ Du, cứu con! Mẹ Du ơi! Nghe bé Oanh vừa khóc vừa gọi, bấy giờ Du mới sực tỉnh, hồn trở lại xác kéo theo sự tỉnh táo quay về. Lập tức đưa mắt nhìn con gái, Du thảng thốt: - Oanh! Oanh à! Chờ mẹ nhé! Nhận thấy nữ tội phạm có ý muốn chạy đến chỗ đứa bé gái, hai người công an bên cạnh giữ chặt Du hơn, đồng thời kéo cô ra khỏi phòng. Đám đông đứng xem dần tản ra tránh đường cho công an áp tải tội phạm ra ngoài xe. Vài âm thanh bàn tán trỗi dậy khe khẽ như tiếng vỗ cánh vo ve của lũ ruồi muỗi bay khắp không gian bốc mùi tử khí nơi đây. Họ đang tự hỏi nguyên do gì khiến cô gái trẻ măng này xuống tay giết chết hai mạng người. ***** Tiếng chuông điện thoại đổ vang nghe đứt quãng, giữa căn phòng tĩnh mịch chìm trong bóng tối, cùng lúc bên ngoài sấm rền vang não nề. Chuông kêu dai dẳng khô khốc làm bật tung một giấc ngủ mơ màng chỉ vừa thiếp đi khoảng vài phút. Mí mắt cục cựa kèm theo âm thanh trở mình uể oải, Đồng Văn xoay người nằm ngay ngắn trên giường, nén chặt giấc ngủ mà khó khăn lắm mới đến với mình, trong từng nhịp thở đều đều. Văn mở mắt chớp chớp vài cái cho quen với bóng tối, lòng tự nhủ chẳng rõ chủ nhân cuộc gọi là quản giáo Ngà bên khu giam nữ hay quản giáo Thái bên khu giam nam. Văn nhanh chóng ngồi dậy, đôi mắt vừa mới mở đang cố tìm kiếm trong bóng tối đen kịt chiếc điện thoại bàn với từng hồi chuông réo rắt. Đưa tay chụp lấy, anh bắt máy. Giọng của quản giáo Thái đầy thúc giục bên kia, bảo rằng có một phạm nhân tinh thần không ổn định nên Văn hãy qua khu phòng giam. Văn đứng dậy, vớ lấy áo khoác dày màu xám, bước ra khỏi phòng bệnh xá. Bên ngoài mưa giăng lối mịt mùng khiến đêm tối càng thêm tối đen như mực. Không tiếng động nào tồn tại giữa chuỗi âm thanh va đập của hàng ngàn giọt nước lạnh giá buông xuống đất. Mưa trong Trại giam thường lạnh lẽo, rét mướt hơn bên ngoài rất nhiều. Màn mưa dữ dội cũng không làm Văn bận tâm khi cầm dù chạy băng qua khoảng sân rộng ngập nước lênh láng. Dọc theo dãy hàng rào ngăn cách, bóng đèn neon vàng vọt trên cao hắt ra thứ ánh sáng leo lét, trở thành ngọn hải đăng giữa đêm mưa bão. Mặc mưa đổ xuống chiếc dù dữ dội như cú đánh của người lực lưỡng, Văn tiếp tục lội nước mưa ngập gần đến nửa ống quần, bằng những bước hối hả đến phân trại số II. Cùng thời điểm đó, người công an ấn mạnh Vân Du ngồi xuống ghế. Họ đang tiến hành làm giấy cho phạm nhân nhập trại. Lúc họ ngồi trên xe áp tải, mưa rất lớn và bây giờ vẫn chưa thuyên giảm, tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái tôn của căn phòng không quá rộng nhưng yên ắng đến ngột ngạt này. Mời các bạn đón đọc Án Tử Một Tình Yêu - The Death Of A Love của tác giả Võ Anh Thơ.
Cuộc Sống Ở Trước Mặt
Bà Rosa, một bà già Do Thái từng bị bắt đến Auschwitz và từng tự vệ (thuật ngữ chú bé Momo mười tuổi – nhân vật tôi – sử dụng chỉ gái điếm) ở phố Blondel, Paris, đã mở một “quán trọ không gia đình dành cho những đứa trẻ sinh ngoài giá thú”, hay nói cách khác là một quán trọ bất hợp pháp nơi các bà các cô làm nghề tự vệ bỏ rơi con cái mình. Cậu bé người Ả rập Momo kể lại cuộc sống của mình ở nhà bà Rosa và tình yêu của cậu dành cho người mẹ duy nhất còn ở lại với mình ấy, một bà già cổ lỗ, to béo, xấu xí và đáng kính mà cậu yêu bằng cả trái tim. Và cậu sẽ ở bên bà cho đến những ngày cuối đời bà. Mọi thứ đã định sẵn để tạo nên một tình yêu không-thể-có: giữa chú bé Momo và Madame Rosa có hơn nửa thế kỷ tuổi tác và gần một tạ cân nặng, Momo thì nhìn về phía trước cuộc đời còn Madame Rosa chỉ ngoái về quá khứ; thêm vào đó, Momo là người Ả-rập còn Madame Rosa là người Do Thái. Thế nhưng bạn sẽ nhận ra đây là một câu chuyện tình đẹp như mọi điều không thể khác, một trong những gì kỳ diệu mà chỉ văn chương mới biết cách tạo ra. Nói đúng hơn, chỉ văn chương của một số rất ít nhà văn mới có thể tạo ra. Émile Ajar, tức Romain Gary, ở giai đoạn sáng tạo thứ hai của cuộc đời mình, đã viết nên một kiệt tác nữa không hề thua kém Lời hứa lúc bình minh (1960). Mười năm sau câu chuyện tình yêu giữa hai mẹ con nhà Romain, là câu chuyện về cậu bé Momo với một lời hứa khác khi đứng trước mặt cuộc đời.  Cuộc sống ở trước mặt nhận giải Goncourt năm 1975, đồng thời làm dấy lên một vụ bê bối chưa từng có trong lịch sử giải thưởng danh giá nhất nước Pháp. Bộ phim cùng tên (1977) của đạo diễn Moshé Mizrahi đã đoạt giải Oscar cho phim nước ngoài hay nhất năm 1978, và nữ diễn viên nổi tiếng Simone Signoret trong vai Madame Rosa đã nhận giải César cho diễn xuất năm 1978. *** Cuộc sống, nó không phải là thứ dành cho tất cả mọi người. Momo đã rút ra kết luận như thế. Nhưng cuộc sống vẫn dành cho cậu, vẫn dí trước mặt cậu cái bản mặt thê thảm của nó, mà dù muốn, dù không cậu cũng phải đối diện, phải nếm trải bằng tất cả các giác quan. Vì Momo vẫn phải sống. Những khi tôi cảm thấy đời mình ngập tràn bế tắc, tôi hay nghĩ về Momo, cậu bé Ả Rập lớn lên trong vòng tay một người đàn bà Do Thái đã giải nghệ làm gái đứng đường, về những gì mà cuộc sống dành cho cậu, để thấy rằng, mình thật là may mắn vì không có những gì mà Momo và Madame Rosa của cậu có, những thứ đủ sức biến cuộc đời họ thành vũng lầy nhớp nháp mắc míu và đớn đau, như nỗi ám ảnh không bao giờ rũ bỏ nổi. Trong vũng lầy của cuộc sống, một tình yêu bám rễ như một lý do níu kéo sự tha thiết với cuộc đời. Tình yêu kỳ lạ không thể gọi tên, không giống như tình ruột rà máu mủ, không thuần túy là mối tình giữa đàn ông và đàn bà, dù ở đây ta cũng có một người đàn ông – Momo, mười tuổi (thật ra là đã mười bốn) và một người đàn bà – Madame Rosa, gần bảy mươi. Thứ tình yêu rung động như cổ tích, có thể biến một bà già bủng beo nặng gần một tạ trở thành người phụ nữ đẹp dịu dàng trong trái tim Momo. Người đàn bà Do Thái mang nhiều vết thương và sự ám ảnh, nhiều phong ba vùi dập của cuộc đời. Madame Rosa đã cưu mang một đứa bé mồ côi như Momo, vì miếng cơm manh áo, nhưng rồi đã giữ cậu lại bên mình như một đốm lửa nhỏ sưởi ấm trái tim đơn độc giữa biển đời thê lương của mình. Người đàn bà đã ôm ấp cậu, vỗ về an ủi và chùi đít cho Momo trong những ngày tháng bơ vơ từ thuở còn thơ cho đến ngày cậu lớn. Tình yêu giữa họ lớn hơn cả tình mẫu tử thông thường, nó đến từ hai trái tim thèm khát tình yêu tới thắt lòng thắt ruột và đơn côi tới rạn nứt cả trái tim. Cuộc sống không cho Momo tình thương và lòng tin, chỉ cho cậu duy nhất một người đàn bà nặng gần một tạ để neo cậu lại với cuộc sống, người đàn bà mà nguy cơ rời bỏ cậu ra đi càng ngày càng gần kề. – – “Ông Hamil ơi, người ta có thể sống mà không có tình yêu được không?” – – “Có.” Momo bật khóc. Cậu biết rằng mình sẽ vẫn phải sống ngay cả khi tình yêu duy nhất của đời mình ra đi. Dù Momo có đổ hàng tấn nước hoa lên người Madame Rosa, nhưng cuối cùng bà vẫn bỏ cậu mà đi bằng cái mùi của tử thi đã hoại. Và bởi thế, cuộc sống này có vị gì đâu. Nó vẫn thản nhiên đi qua bằng gương mặt đanh đanh vô cảm của nó, cùng những đớn đau đã chai sạn trong tâm hồn già cỗi của một đứa bé lên mười – à không, mười bốn chứ. Cuộc sống, dù nó có cứa biết bao nhiêu vết lên Momo, nó vẫn luôn ở trước mặt cậu, nó chẳng thể ở đâu đó khác, nó còn biết ở đâu nữa bây giờ? Romain Gary luôn khiến tôi cười, mặc dù biết là bi kịch lắm rồi đấy. Ông khiến tôi lạc quan với chút dí dỏm của mình, dù cười đấy mà ruột thắt biết bao nhiêu bận. Nhưng cái cách ông kiên trì cười vào nỗi thống khổ nó khẳng định rằng rồi ông sẽ thắng, kiểu gì rồi ông cũng sẽ thắng. Không biết đây có phải là một liệu pháp tinh thần không, nhưng biết đâu khi ta cười, thì thế gian sẽ cười đáp lại. Biết đâu cuộc sống đen thủi đen thui của Momo sẽ sang sủa lên, dẫu là tôi cũng chẳng biết đào bới niềm hy vọng ấy ở đâu cho đến dòng chữ cuối. Nhưng ôi dào, rồi thì đời sẽ qua. Thật ra thì những gì mà Momo và Madame Rosa của cậu có, nó chẳng thể nào tệ hơn được nữa. Bạn có khóc khi đọc cuốn này không? Tôi không khóc. Nhưng đau đớn. Không phải ai cũng khiến người ta đau đớn thế khi mặt mũi tỉnh queo. Bởi thế tôi tin là Gary là một trong những cây bút thiên tài. Tiếc là ông chẳng còn trên đời nữa.   Kafka Bookstore *** Kết thúc cuốn tiểu thuyết Cuộc sống ở trước mặt, mặc dù cậu bé Momo đã đổ bao nhiêu nước hoa lên xác Madame Rosa, thì người chết vẫn không thể tỏa hương được mà buộc lòng phải tỏa ra mùi xác chết. Nếu không thế thì người ta chắc vẫn chưa phát hiện ra Madame và Momo vẫn có thể còn được ở bên cạnh bà. Nằm bên cạnh Madame nồng nặc mùi tử khí trộn lẫn với mùi bao nhiêu chai nước hoa mà Momo đã dốc lên đấy, Momo hãy còn nhận xét rằng cuộc sống có mùi vị gì đâu. Cái nhận xét ấy ngậm ngùi như chính tên tác phẩm: Cuộc sống ở trước mặt. Cuộc sống có ở trước mặt không khi ở những trang cuối cùng của tiểu thuyết, hai nhân vật chính, người thì chết rã, người thì, cái cậu bé mười tuổi à không mười bốn tuổi đấy, biết sẽ lang thang ở cái xó xỉnh nào của Paris, rồi có đến lúc cậu phải “tự thân vận động” như mẹ cậu đã từng không? (“Tự thân vận động” là một trong những “thuật ngữ” của Momo, trong truyện này có nghĩa là… Nếu biết mẹ cậu là gái đĩ, có lẽ không cần giải thích gì hơn.) Với cái kết đó, cuộc sống chắc chắn không ở trước mặt, còn ở đâu thì tôi không biết. Có khi nó chẳng ở đâu cả. Lại dẫn lời Momo: “Cuộc sống, nó không phải là thứ dành cho tất cả mọi người”. Và nữa, làm gì có sự công bằng trên thế giới này, khi mà “có những người có tất cả mọi thứ, từ xấu xí, già nua, đến nghèo khó, bệnh tật [như Madame Rosa] trong khi có những người chẳng có gì.” Những ngày tôi đọc Cuộc sống ở trước mặt là những ngày bận rộn. Thời gian trước đây, một tuần tôi đọc trung bình ba bốn cuốn sách các loại, còn thời gian này tôi thường đọc nhiều quyển cùng một lúc và hầu như cuốn nào cũng chừng vài chục trang là bỏ dở. Thế mà, mỗi ngày vài chục trang, tôi không bỏ Cuộc sống ở trước mặt để nhảy sang những cuốn khác. Cuốn tiểu thuyết này không có một cốt chuyện hấp dẫn hay những tình tiết giật gân, nó chỉ có một thứ mà rất nhiều cuốn khác, đặc biệt là những cuốn best-seller không có: văn chương đích thực. Đọc Cuộc sống ở trước mặt, bên cạnh tận hưởng hạnh phúc của việc thưởng thức một thứ văn chương hảo hạng, ta còn có thể hạnh phúc khi nhận ra rằng mình không phải có những thứ mà Madame Rosa của Momo có. *** CUỘC SỐNG Ở TRƯỚC MẶT Có lẽ trên đời này không có mối tình nào đẹp hơn mối tình của Momo 14 tuổi và Madame Rosa nặng một tạ đang gần đất xa trời. Ta có thể gọi nó là một mối tình bất chấp hiểu lầm bởi thật ra, đó là một tình yêu đã vượt qua khỏi mọi định nghĩa về giới tính nay tuổi tác. Nó là tình yêu của một người dành cho một người, hai con người đã tìm thấy niềm an ủi nơi nhau, để bên nhau chống lại mọi sự tàn nhẫn của cuộc đời. Cuộc sống ở trước mặt như một lời khẳng định với Momo rằng, cậu không còn một lựa chọn nào khác là bước tới. Mặc cho sau lưng là tuổi thơ đầy tủi hổ của một đứa con gái điếm bị bỏ rơi, mặc cho cuối cùng, cả người phụ nữ cậu yêu thương nhất trên đời cũng không thể đi cùng cậu nữa. Ta vẫn phải đối diện với cuộc đời tả tơi của mình một cách bình tĩnh kệ cha cõi lòng nát như tương. Romain Gary đã vậy còn biết cách chặn tất cả nước mắt nước mũi người đọc bằng cách kể chuyện dí dỏm tưng tửng của mình, chặn nó để nó tích tụ lại thành một khối nước mắt khổng lồ sẽ rơi một lần vào cái ngày Momo đổ tất cả nước hoa lên thi thể Madame Rosa nhưng bà vẫn mãi mãi bỏ cậu đi. Chỉ còn Momo cùng cuộc sống ở trước mặt đanh thép bảo rằng cậu phải sống. Momo liệu có sống? Tôi không biết nữa. Nhưng Romain Gary đã không chọn sự sống vào những ngày không còn mẹ trên đời, như ta đọc trong Lời hứa lúc bình minh và cả tiểu sử của ông nữa. Mỗi người đều cần một lẽ sống để có thể sống. Cuộc sống ở trước mặt thật đấy, nhưng ta vẫn còn một lựa chọn nữa ngoài bước tiếp, là dừng lại mãi mãi. Mời các bạn đón đọc Cuộc Sống Ở Trước Mặt của tác giả Romain Gary.
Tôi Của Mùa Hè Năm Ấy
“Đôi lúc, anh khao khát đến điên cuồng một lần được quay trở lại những năm tháng ấy, những năm tháng chúng ta gần cạnh bên nhau, anh sẽ nói với em rằng anh đã thương lắm, ngay từ giây phút đầu…” Je Hee, anh chàng lớp trưởng điển trai năm nào mang theo thứ tình cảm đẹp đẽ của những tháng năm học trò đến tận 10 năm trời đằng đẵng. 10 năm trời ôm những giấc mộng dở dang về một cô nàng lớp phó Jae Lee xinh đẹp, học giỏi. 10 năm trời nuôi trong mình bao mộng tưởng và cả những nuối tiếc. Chân thành đó, kể hết làm sao? Và rồi, định mệnh đã để cho họ gặp lại nhau. Tình cờ như cái cách trái tim cậu bé lớp trường năm nào rung động vì cô nàng lớp phó luôn đối đầu, khó chịu với mình. Tình yêu luôn là một câu chuyện khó đoán định. Ai bên ai, không chỉ vì sự cố gắng, sự yêu thích của bản thân, vì lòng người mà quyết định được. Đôi lúc, tất cả đều phải nhờ vào duyên số, vào ông trời. Nhưng đường chỉ tay nằm trong lòng bàn tay, nếu ta không thể tự quyết định thì cũng có thể dùng sự chân thành và kiên định của mình để thay đổi. 10 năm, một tình yêu, một con người, có lẽ là quá đủ để cảm hóa cuộc đời, cảm hóa định mệnh. “Chúng ta đã may mắn được gặp lại nhau, nhưng anh biết phải làm sao để nói hết tâm tư này?” Liệu trong cơ hội cuối cùng này, Je Hee có thể thổ lộ hết mọi tình cảm chất chứa trong lòng cùng người con gái mà anh thương thầm suốt bao nhiêu năm? Chuyện tình cảm có suôn sẻ như những gì anh thường nghĩ? Những sóng gió, hờn ghen và cả đố kị, nhưng rồi tình yêu sẽ vượt lên tất cả. Có chắc là như vậy? Cùng đón đọc Tôi của mùa hè năm ấy – cuốn sách dịu ngọt như cơn mưa mát lành giữa ngày hè oi ả. Tuổi trẻ là những năm tháng ướt mưa, nhưng ai cũng luôn muốn quay trở lại là mình những năm tháng ấy để nói nốt những việc chưa kịp nói, làm nốt những việc chưa kịp làm! *** Bạn của mùa hè những năm tháng trung học là một người như thế nào? Chàng trai/ cô gái năm ấy bạn từng thầm thương trộm nhớ giờ ra sao? Cuốn tiểu thuyết Tôi của mùa hè năm ấy  - Choi Soo Huyn là câu chuyện về một thời như thế. Họ là lớp trưởng và lớp phó thời trung học, mà đoán chắc là đã từng có một tình cảm không đơn giản chỉ là tình bạn đơn thuần. Gần chục năm sau họ mới tình cờ gặp lại, và mùa hè của khoảng mười năm trước ấy bỗng lại trở về. Một thời trung học đáng nhớ Cô của mùa hè năm ấy, đã từng ước sẽ trở thành cô sinh viên của Đại Học Thú Y, từng mong có thể cùng cậu ấy bước qua những năm tháng thanh xuân tươi đẹp. Nhưng cuối cùng cô đã phải bỏ lại tất cả, để “chạy trốn” hoàn cảnh. Cô ấy có hối hận không? Thực ra thì một lúc nào đó, cô có suy nghĩ đến chuyện hối hận. Hối hận vì đã không nói ra sự thật với cậu ấy, hối hận vì đã để cậu ấy phải khổ sở tìm mình trong khoảng thời gian dài như vậy. Nhưng nếu không “chạy trốn” thì cô không thể biết rằng, cậu ấy thích cô nhiều đến vậy, một người có vẻ lạnh lùng như cậu lại có thể vì cô mà thay đổi bản thân mình đến thế. Cô – Lee Jae Lee, lớp phó của lớp 3 năm 3 một trường trung học. Cậu – Yoon Je Hee, lớp trưởng. Vì có tên phát âm gần giống nhau, nên rất nhiều lần gọi một người mà cả hai người lên tiếng. Khác với vẻ ái ngại của cô, cậu tỏ vẻ hơi bực tức và khó chịu. Je Hee lạnh lùng còn Jae Lee thì dịu dàng, từ tốn. Đối với công việc chung của lớp, nếu không phải là cô luôn chủ động làm thì cậu cũng chẳng bao giờ quan tâm vì cậu ấy thực ra không muốn nhận nhiệm vụ này, vì có thành tích tốt nhất nên thầy cô đã ủy thác trách nhiệm này cho cậu. May mà có cô nên công việc của lớp mới được hoàn thành. Nhờ có những lần bất đắc dĩ phải cùng làm việc với nhau, Je Hee đã cảm nắng cô lớp phó xinh đẹp dịu dàng này từ lúc nào không hay. Cậu đã chịu đứng lên bục giảng thông báo nhiệm vụ cho cả lớp, chịu cùng cô đi nộp bài kiểm tra cho thầy thay vì lạnh lùng bỏ mặc những phong trào chung như trước. Hai người chia sẻ nhiều hơn về việc thi trường nào, thích cái gì và sau này sẽ muốn trở thành ai. Vì biết Jae Lee học chưa tốt môn toán, Je Hee còn chủ động đề xuất sẽ kèm cô học bài sau giờ tan học. Vậy là cứ khi các bạn tan học về nhà, hai vị lớp trưởng lớp phó của lớp ấy lại ngồi lại học bài và giải đề. Những năm tháng ấy, những ngày chỉ biết đến sách vở và bạn bè, vẫn luôn là một phần ký ức vô cùng đẹp của tất cả mọi người. Chỉ cần nhắc nhẹ một câu chuyện thuở ấy, là cả một seri dài tập bộ phim học đường những năm tháng ấy được chiếu lại. Thân thương và vẹn nguyên như chưa từng trưởng thành và thay đổi. Với Jae Lee, với những ai coi đó là tập cuối cùng trong con đường học tập của mình, thì đoạn ký ức đó không những đẹp đẽ mà còn vô cùng thiêng liêng. Cô đã bỏ dở ước mơ của mình để đi làm phụ giúp gia đình. Ước mơ được làm sinh viên Đại học, được ngồi trên giảng đường, được mặc chiếc áo cử nhân và lên bục nhận bằng. Tất cả, với cô sao mà xa xôi quá. Tuổi hai mươi đầy sóng gió Mười tám, đôi mươi, khi các bạn hân hoan bước vào cuộc sống sinh viên, thì cô lớp phó Jae Lee ngày nào bắt đầu xa gia đình và đi làm. Cô được nhận làm nhân viên kinh doanh của một công ty may đồng phục. Mới tốt nghiệp cấp ba, chưa có nhiều mối quan hệ trong xã hội, chưa có kinh nghiệm trong mọi việc nhưng nếu muốn trở thành nhân viên chính thức, cô cần bán được một số lượng nhất định ban đầu. Vậy là cô đánh liều tìm đến thầy chủ nhiệm, dù sao thầy cũng là người lớn duy nhất biết hoàn cảnh gia đình cô và hiểu tại sao cô lại chọn con đường này. Người thầy đã từng ép cô phải giữ chức lớp phó, đã từng cho cô mượn rất nhiều sách về đọc, bây giờ tóc cũng đã ngả màu. May thay, thầy xem xong mẫu, liền không ngần ngại đặt hàng cô để may đồng phục cho lớp. Cái vỗ vai của thầy, chính là niềm an ủi lớn nhất của cô lớp phó năm nào. Nhưng mỗi lần gặp thầy, thầy đều nhắc đến Je Hee, làm trái tìm bé bỏng của cô tưởng ngủ yên lại được dịp thổn thức. Thầy bảo rằng lớp trưởng cũng thỉnh thoảng đến gặp thầy, dù không nói nhưng thầy biết là cậu ấy đến để nghe ngóng tin tức về cô. Je Hee bây giờ đã trở thành sinh viên Y khoa, chẳng mấy sẽ trở thành một bác sĩ, nhưng cậu ấy chắc hẳn vẫn rất nhớ cô lớp phó dễ thương ngày nào. Nếu có dịp, hãy gặp lại nhau, thầy nhắn nhủ và đưa cho cô tờ giấy ghi địa chỉ và số điện thoại của lớp trưởng. Jae Lee cũng từng nghĩ sẽ gặp lại Je Hee, nhưng cô lại không đủ can đảm. Cô tự ti với những gì mình đang có, mà thực ra thì cô chẳng có gì cả. Một nhân viên kinh doanh bình thường, sống trong một căn nhà trọ nhỏ hẹp, ngày ngày lo cơm áo gạo tiền, năm tháng trôi qua chỉ mong kiếm thêm được ít tiền để gửi về cho mẹ. Vậy thì hà cớ gì phải gặp nhau. Cô muốn giữ những hình ảnh đẹp đẽ vui tươi nhất của mình trong trí nhớ của Je Hee, sẽ mãi là cô lớp phó của những năm cấp ba mà cậu ấy biết. Lý trí chẳng thắng nổi cảm xúc Jae Lee, trước khi cùng gia đình rời đi nơi khác đã làm một việc mà chính cô cũng không nghĩ là mình có thể làm. Cô lấy tiền của mẹ và cùng Je Hee đến công viên trò chơi. Lần đầu tiên, cũng là lần duy nhất, cô cho phép bản thân nói dối mẹ, chỉ để đổi lại một ký ức đẹp đẽ cùng cậu bạn lớp trưởng trước khi rời đi. Và đến bây giờ, khi nghĩ lại, cô vẫn cảm thấy đó là chuyện nên làm. Jae Lee, đã từng nhiều lần nhắc nhở bản thân mình hãy quên đi tình cảm dành cho người con trai đó, vậy mà sau cùng thật vẫn không làm được. Cô đã hơn một lần cầm mảnh giấy nhỏ ghi số điện thoại của Je Hee, đứng trước hộp điện thoại công cộng, nhưng rồi lại lầm lũi bước ra. Và cũng là Jae Lee, đã bước vào đến sân trường Đại học Y khoa, những mong gặp được lớp trưởng. Thế nhưng khi nhìn thấy cậu ấy từ xa lại vội vàng lùi bước. Và cả đến khi hai người tình cờ gặp lại, lý trí thì bảo rằng sẽ chẳng có gì hết nhưng trái tim thì lại không ngừng gợi nhắc những kỷ niệm năm nào. Về phía Je Hee, dù anh có tỏ ra lạnh lùng thế nào đi nữa, chỉ cần trước mặt là cô ấy, cậu sẽ không màng đến nguyên tắc của bản thân. Dù là công việc của lớp hay cùng cô đến nhà thầy chủ nhiệm, dạy cô học bài hay cùng cô đến công viên vui chơi, tất cả mọi việc đều không giống như những gì mọi người biết về cậu. Chỉ cần là Jae Lee, thì cho dù một hũ kẹo nhỏ cũng trở thành vật báu. Cậu sẵn sàng đối đầu và không tha cho ai động đến vật báu của mình dù đó có là em trai. Đó là lần duy nhất cậu đánh em mình, chỉ vì nó làm vỡ hũ kẹo Jae Lee đã tặng. Cậu mua máy nhắn tin và không ai biết đến sự hiện diện của chiếc máy đó ngoài Jae Lee. Những tin nhắn trong đó đương nhiên cũng chỉ gửi cho mình Jae Lee mà thôi. Vốn thông minh, xuất chúng, cậu dễ dàng có thể đỗ bất cứ trường đại học nào, nhưng cậu đã chọn Đại học Y khoa. Vì Jae Lee có lần bảo rằng, cô thích học Đại học Thú y, cô rất yêu động vật. Nhưng Je Hee thì dị ứng với lông động vật, nên cậu chỉ có thể chọn Đại học Y để được ở bên cạnh Đại Học Thú y. Cậu ấy, muốn trở thành một ngôi sao Bắc cực, luôn luôn đợi chờ cô ấy. Trong suốt những năm sinh viên, mỗi lần có đợt nhập học mới của Đại Học Thú y, cậu đều lặng lẽ đứng nhìn để tìm một hình bóng quen thuộc. Thậm chí, cũng từng bắt xe buýt đến một vài nơi có thông tin về gia đình Jae Lee nhưng đều vô ích. Cậu những lúc như thế, đã chẳng còn là Je Hee lạnh lùng, mà là một Je Hee vô cùng đáng thương. Bản thân cậu, cũng biết rằng cuộc tìm kiếm này có thể là vô vọng, tự hứa rằng sẽ để tình cảm này ngủ vùi nhưng năm lần bảy lượt đều không làm được. Hội ngộ tình cờ, duyên trời đã định Và sau bao tháng ngày tìm kiếm, Je Hee đã gặp lại Jae Lee. Cô vẫn còn vì tự ti mà trốn tránh nhưng cậu thì nhất quyết nắm lấy cơ hội này. Je Hee từng nhắn nhủ rằng “Vì em bảo anh đợi, nên anh vẫn đợi ở nơi này, vậy thì em có thể chỉ vì anh mà để trống một ngón tay áp út thôi nhé. Có được không?”.  Đó chính xác là những gì cả hai người mong đợi. Cuối cùng thì họ cũng đã gặp được nhau. Cùng nhau trò chuyện, cùng đi thăm thầy chủ nhiệm, cùng hòa chung không khí WordCup những năm 2002. Cô sợ rằng thứ tình cảm đẹp đẽ này, chỉ có thể kéo dài như một mùa Wordcup vài tháng nhưng Je Hee càng thể hiện quyết tâm có thể cùng cô đi đến hết cuộc đời. Sóng gió còn đến từ cả người mẹ của Je Hee, khi bà không đồng ý cô lấy con trai mình. Bà là một người tốt, nhưng có chút ích kỷ khi thấy con trai mình vì một cô gái có thể thay đổi đến thế này, bà sợ mình sẽ mất con. Vẫn là cô bé năm cấp ba ấy, khiến con trai bà không màng thời gian liên tục về nhà trễ, khiến nó xém chút nữa thì đánh em trai phải nhập viện, nên bà một mực cho rằng hai người họ không nên đến với nhau. Nhưng cuối cùng thì, sau khi thấy được cả những thay đổi tích cực của con trai, và nhừng lời nói hành động rất chừng mực, lễ phép của Jae Lee, bà đã dần chấp nhận. Bà tin con trai mình và tin rằng lựa chọn của con là đúng. Cánh cửa lễ đường rộng mở chào đón đôi bạn trẻ về chung một nhà. Jae Lee bắt đầu ôn tập lại để nuôi dưỡng ước mơ trở thành một cô sinh viên. Và một happing ending đã đến. Mùa hè với những mộng mơ Cuốn sách chính là một câu chuyện nhẹ nhàng, thú vị về tình yêu, tình đầu của đôi bạn cùng lớp. Ai đó nói rằng “Tình đẹp nhất khi tình dang dở”. Cũng có nhiều người bảo rằng “Tình yêu đẹp chỉ có trong cổ tích”.  Có thể họ đã có những va vấp không đáng nhớ trong chuyện tình cảm, nhưng đừng bao giờ đánh mất hy vọng. Hãy mơ mộng đi, hãy giữ niềm tin vào tình yêu đi. Vì tất cả chúng ta, rồi ai cũng sẽ có được một nửa của đời mình. Hãy thử đọc và cảm nhận cuốn sách, nó như một bộ phim Hàn quốc nhẹ nhàng, lãng mạn, giúp bạn quên đi những mệt nhọc đời thường. Đọc để thấy mình thời cấp ba, cũng từng một thời mộng mơ với tình yêu học trò trong trẻo. Đọc để thấy mình của mùa hè những năm tháng tuổi trẻ, với những ước mơ hoài bão về cuộc sống sinh viên đầy tò mò, hứa hẹn.Tôi của mùa hè năm ấy, bạn của mùa hè năm ấy, chúng ta của mùa hè năm ấy,.... Review chi tiết bởi: HiDi - Bookademy Mời các bạn đón đọc Tôi Của Mùa Hè Năm Ấy của tác giả Choi Soo Hyun.