Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Mắt Bão - Phan Hồn Nhiên

'Mắt bão' là tập truyện dài mới nhất của nhà văn Phan Hồn Nhiên. Tập sách nói về những thăng trầm trên con đường sự nghiệp và cuộc sống của 5 người trẻ tuổi.  > www.vinabook.com tặng độc giả 10 cuốn sách. Trong vòng xoáy ấy, cuốn theo cùng những cặn bã, rác rưởi của xã hội là những tâm hồn đẹp, những người tốt và cả những tâm hồn yếu đuối mong manh... Đó là một Thái Vinh đáng thương hơn đáng giận, cô gái con nhà giàu, đã chọn cho mình cách sống buông thả. Sinh trưởng trong một gia đình mà món tiền 100 triệu đồng chi ra nhẹ bỗng như không, vì cũng chỉ bằng tiền thay vài cái kính chiếu hậu xe hơi, cô gái non nớt này sớm sành sỏi hàng hiệu, chốn ăn chơi nhưng lại mang tâm hồn lạnh vì thiếu tình thương, thiếu hơi ấm của gia đình. Đó là một chàng Vĩnh, bề ngoài có vẻ đĩnh đạc, hạnh phúc nhưng bên trong là sự ruỗng mục và hoang hoải dần của tuổi trẻ mất phương hướng trong đời. Đó cũng có thể là Hữu, xuất thân nghèo khó và đi lên bằng cách đạp đổ đối thủ bằng mọi thủ đoạn, miễn sao thu phần lợi về mình. Cuốn sách dồn nén rất nhiều vấn đề xã hội, về những góc khuất, mặt trái của cuộc sống sôi động ở thành phố lớn: Từ chuyện chụp ảnh nude, đến quan hệ đồng tính, rồi những đấu đá tranh chấp, giành giật chỗ đứng, vị trí trong xã hội. Sách cũng đề cập đến giá trị của chữ hạnh phúc và ý nghĩa của tuổi trẻ, hai thứ mà dù tiền có nhiều đến đâu cũng khó có thể đạt được.   Cảnh mở đầu và kết thúc truyện Mắt bão đều là ở phi trường, nơi đón nhận những cuộc trở về và chuyến ra đi, nơi những chiếc máy bay cất cánh đến mọi miền đất trên thế giới, nơi những người trẻ Việt Nam đầy hoài bão luôn mang khát vọng được vươn ra, bay xa, chiếm lĩnh tri thức và cuộc sống theo cách của họ. Dù toàn truyện Mắt bão nhuốm màu xám và nặng nề tựa như "cơn bão" cuộc đời đang dồn tụ trên đầu những người trẻ, vẫn còn le lói một đốm sáng là nhân vật Hải, chàng sinh viên tự tin, kiên định, luôn đi lên bằng chính năng lực và trái tim của mình. "Gần hai năm trôi qua kể từ cuộc gặp gỡ lạ lùng. Thời gian tựa cơn lốc xoáy, cuốn theo bao người vào tâm những trận bão khắc nghiệt. Để khi sống sót, nhoài lên từ những đợt sóng lớn, tất cả đều phải thay đổi...", dòng suy nghĩ của Hải ở cuối truyện cũng chính là nỗi day dứt mà bất cứ người trẻ nào khi muốn trụ vững giữa cuộc sống sôi động, đều từng một lần trăn trở. Phan Hồn Nhiên chưa gọi cuốn sách của mình là "tiểu thuyết" mà chỉ dừng ở mức "truyện dài". Chút e dè này vô tình khiến chị chưa đưa ra được những hướng giải quyết hợp lý cho quá nhiều nút thắt mà chị đã tung ra trên trang viết. Vì thế, còn đôi chỗ trong sách có thể làm độc giả không thỏa mãn. Nhưng dù sao, đây là một trong số ít tác phẩm đã mang đến cho văn học trong nước cái nhìn gần gũi về một lớp người trẻ của xã hội Việt Nam đương đại. *** Một cách chậm rãi, Hải bắt đầu chấp nhận ý tưởng anh có thể là một ứng viên tranh cử chức chủ tịch Hội. Với uy tín và khả năng thuyết phục đặc biệt, Vĩnh khiến cho văn phòng khoa lẫn bên Đoàn trường đồng ý với sự thay đổi. Tất cả đều thừa nhận Hải là một lựa chọn mới hoàn toàn hợp lý, một cú hích ẩn giấu bất ngờ. Mối quan hệ lỏng lẻo lâu nay giữa hai người bạn, với mục đích chung mới này, đã được gia cố, gắn kết trở lại. Những khoảng thời gian trống sau các buổi học, họ tranh thủ cùng nhau đi đến một số công ty lớn, trực tiếp trao đổi với phòng nhân sự về nguồn việc làm cho sinh viên. Thật sự, mọi việc dễ dàng hơn Hải và Vĩnh hình dung. Hầu hết các doanh nghiệp đều có nhu cầu kiếm tìm nguồn sinh viên cho các vị trí thử việc, đào tạo để sử dụng được ngay sau khi những sinh viên này có bằng tốt nghiệp, trở thành nhân viên chính thức hoạt động hiệu quả. Nhu cầu lớn đến mức chỉ sau ba ngày đi gặp gỡ và đặt vấn đề, họ đã kiếm được bảy đơn đặt hàng tuyển dụng cho gần năm mươi vị trí hấp dẫn. Tại một công ty nước giải khát, nơi có nhu cầu tuyển dụng mười sinh viên tập sự, chuẩn bị cho các vị trí tại một số chi nhánh của họ ở tỉnh sau này, trước câu hỏi của Vĩnh vì sao không trực tiếp xuống trường đặt mối liên hệ hoặc thông qua các văn phòng môi giới việc làm vốn không thiếu trong thành phố, trưởng phòng nhân sự nhún vai, thẳng thắn: "Chúng tôi đã thử, nhưng không hiệu quả. Những dịch vụ làm việc trước đó với tôi đều không hết lòng. Nối kết nhân lực là một việc làm khá tế nhị. Không phải chỉ đếm đủ số người, nộp đủ các bộ hồ sơ là xong. Điều mà giới nhân sự như chúng tôi cần ở nhà môi giới như các bạn là sự tư vấn, tìm kiếm chính xác ứng viên cho khách hàng, làm dịch vụ nhân lực đúng nghĩa. Người ta nói quá nhiều về việc cung và cầu nguồn nhân lực sinh viên không gặp nhau. Nhưng để tháo gỡ nó như thế nào, thì tôi chưa thấy ai thật sự có giải pháp tốt!". Hải gật đầu: "Về việc này, ông có thể tin vào chúng tôi. Đúng năm ngày nữa, ông sẽ có trên bàn các bộ hồ sơ tốt nhất của chúng tôi!". Trên đường về, cả hai im lặng, đuổi theo những suy nghĩ miên man. Dù có tài phán đoán đến đâu, thì thực tế vẫn luôn biết cách khiến người ta phải ngỡ ngàng. Vĩnh chợt hỏi: - Cậu nghĩ gì về những điều ông trưởng phòng nhân sự mới nói hồi nãy? Thoáng chút đắn đo, Hải trả lời bằng câu hỏi: - Có phải ý cậu là Hội của khoa và trường có tiềm năng làm được rất nhiều cho sinh viên. Nhưng tiềm năng đó chưa được khai thác hết? - Đúng vậy! Tớ nghĩ, sinh viên trường mình, nhất là sinh viên năm cuối, nỗi lo lớn nhất chính là tìm việc sau khi tốt nghiệp. Than thở vậy thôi, nhưng trước sau gì, ai cũng kiếm được một công việc nào đó. Triển vọng có, bèo nhèo cũng có. Đủ hết! - Vĩnh phân tích - Không hiếm sinh viên tụi mình ra trường có khả năng, nhưng thiếu cầu nối, phải nhận làm đủ loại việc dưới năng lực. Vấn đề ta suy nghĩ ở đây không phải là thất nghiệp hay có việc làm. Ta nên thử hỏi, hiện nay, sinh viên Quản trị tốt nghiệp có tìm được việc làm xứng đáng hay không. Triển vọng được đào tạo, thăng tiến mới là yếu tố quan trọng, Hải ạ. - Ừ, tớ hiểu rồi. Nhưng nói thiệt, sinh viên tụi mình ít ai nhìn xa vậy lắm. Trước mắt ai cũng chỉ mong ra trường, có việc, kiếm tiền phụ giúp gia đình. Sau đó, vài năm đi làm có kinh nghiệm, rồi tính tiếp. - Đành vậy. Nhưng tất cả những gì tụi mình vừa trao đổi, có gợi cho cậu một ý tưởng nào không? - Vĩnh nheo mắt, cười. Lâu lâu, họ lại thử tài nhau kiểu này. - Có! - Ngay tức khắc, Hải đọc ra ngầm ý của bạn - Đây là một gợi ý tuyệt vời để chúng ta lập ra một công ty tư vấn, một công ty săn đầu người đúng nghĩa, phải vậy không? - Chính xác. Cậu hãy ghi nhớ ý tưởng này. Cứ xem việc ở Hội cũng là một bước thực tập cho công ty của chúng ta trong tương lai. Sau khi cậu đi học ở Sing về, tớ cũng lấy xong bằng MBA, tụi mình sẽ cùng triển khai các dự án lớn. - Nghe thấy "tương lai" quá! - Hải bật cười. - Ừ, có vẻ hơi viển vông. Nhưng tụi mình là bạn. Không chỉ bây giờ... Câu nói của Vĩnh để lại trong Hải cảm giác xúc động sâu xa. Một tương lai chung đồng nghĩa họ sẽ là những người bên nhau, gắn bó lâu dài. Cuối cùng thì họ đã tìm thấy lại tình bạn. Nhưng ở một tầng ý nghĩa mới mẻ. Cả hai tiếp tục những cuộc truyện trò. Trong bất cứ chủ đề là gì, họ càng ngày càng nhận ra những tương hợp, về cách nhìn nhận cuộc sống, về lựa chọn tương lai, về ý thức danh dự... Vĩnh hiểu biết rộng. Trước một sự kiện, anh thường xuyên đưa ra những phân tích sâu sắc bao nhiêu thì ngược lại, Hải là người suy xét việc đó từ góc nhìn thực tế, khả thi nhất. Ở khía cạnh nào đó, họ nể phục nhau, ở chỗ không bao giờ nhường bước trước cản trở, càng không dành chỗ cho sự xuất hiện của thái độ thụ động, yếm thế hay buồn bã chua chát. Mỗi khi người này tìm ra một giải pháp, người kia sẽ biết cách triển khai nó, để giải pháp đó được thực hiện một cách hoàn hảo. Đúng như Vĩnh dự đoán, việc Hải thay thế anh ra tranh cử chức chủ tịch đã trở thành một sự kiện gây chấn động sinh viên khoa Quản trị. Trong mắt đám đông, ấn tượng về Hải quá mờ nhạt. Một số người đã đến chúc mừng Hữu, xem như cậu ta thắng cuộc sớm. Nhưng với những người thông thạo hơn, họ dự đoán nếu có sự chống lưng của một cựu chủ tịch giàu kinh nghiệm như Vĩnh, gió có thể đổi chiều vào phút cuối. Tin đồn râm ran. "Thời gian quả là quá ít ỏi để anh Hải kịp làm được điều gì đó cho ra hồn. Mà trước tiên. anh ấy cần chịu khó đánh bóng hình ảnh giùm một cái. Anh Hải nhìn chân thật mộc mạc đó. Nhưng chủ tịch Hội của dân Quản trị tụi mình thì vậy đâu có đủ, phải khá hơn nữa chứ. Phải hoạt bát, văn minh và biết tạo thiện cảm. Một người nhanh nhẹn và nhiều kinh nghiệm như anh Hữu mới nên!" - Vỹ, cậu sinh viên năm dưới hoạt động trong ê- kíp của Hữu, mang kiến thức marketing ra phân tích. Sự phân rẽ trong cử tri không còn khó thấy. Một số bạn trước đây ủng hộ Vĩnh, nay cũng chuyển hướng, dành chú ý cho Hữu. Họ không thể hiểu nổi, một người bình thường như Hải thì có thể làm được gì. Ê- kíp của Hữu hoạt động thực sự hiệu quả. Giờ học ở giảng đường, các sinh viên thường nhận trên mặt bàn cây bút quà tặng kèm tờ rơi thông báo một buổi họp mặt lấy ý kiến đóng góp cho chủ tịch Hội tương lai. Chiêu này do Hữu đích thân đứng ra tổ chức. Vì lý do nào đó, một vài kẻ quá khích bắt đầu nhìn Hải dưới con mắt biếm họa. Có lần, bước vào lớp, Hải nhận ra không khí im lặng khó chịu. Mọi người lén nhìn anh. Hải ngoảnh lại phía sau. Trên tấm bảng, ai đó vẽ bằng phấn hình Vĩnh đang đưa cao một cánh tay làm động tác múa rối. Con rối trên tay Vĩnh có khuôn đầu vuông và mái tóc ngắn sát, đặc điểm không lẫn vào đâu được của riêng Hải. Vĩnh lưu ý Hải cần hết sức bình tĩnh trước các công kích hay nhận xét bất lợi. Một cách kín đáo, cả hai dán một loạt thông báo các công ty tuyển dụng nhân lực sinh viên. Bên dưới thông báo, yêu cầu nộp hồ sơ gửi về văn phòng khoa. "Tại sao không để tên cậu hay tớ để các bạn biết đến?" - Hải nóng ruột thắc mắc. Vĩnh điềm tĩnh: "Chúng ta sẽ chứng minh bằng hiệu quả công việc. Đó là cách thực hiện dự án Liên kết tài năng tốt nhất. Nếu gây ồn ào phô trương thanh thế vào lúc này, các bạn tưởng đây là trò quảng cáo của chúng ta không chừng. Lúc đó, ta cũng không hoàn thành lời hứa với bên mấy công ty đâu!". Ngay cả khâu xem xét lựa chọn, phân loại hồ sơ của từng ứng viên sao cho phù hợp hơn cả với nhà tuyển dụng, cũng tự tay Vĩnh và Hải thực hiện. Từ hơn một trăm bộ hồ sơ nhận về, họ lọc ra tám mươi ứng viên, gửi về các công ty đặt hàng. Sau hơn một tuần, không nằm ngoài dự đoán của Hải và Vĩnh, đúng năm mươi sinh viên giỏi nhất đã tìm được vị trí thực tập thích hợp. Đến lúc đó, câu hỏi "Ai là người thực hiện dự án kết nối hữu ích?" mới được đặt ra. Một cái nhìn hoàn toàn khác của đám đông hướng về Hải. Sự thiếu tin cậy dần dần lắng xuống và biến mất. Ấn tượng "việc làm tại công ty" mau chóng lấn át "mũ bảo hiểm miễn phí". Tuy nhiên, vẫn còn đó sự ngờ vực. Có thật là kế hoạch của Hải hay Vĩnh mới là người vạch ra và thực hiện? Câu hỏi treo lơ lửng trong các cuộc tụ tập của sinh viên. Tan buổi học chiều, Vĩnh và Hải cùng ra bãi giữ xe. Nét mặt Hải lầm lì. - Cậu có khó chịu vì các đồn thổi, đúng không? - Vĩnh hỏi thẳng. Hải gật: - Đương nhiên là có! Vĩnh lắc đầu: - Nếu khó chịu, là sập bẫy. Giai đoạn này, đừng nghe ai hết. Chỉ tin cậy vào chính mình! - Tớ hiểu! - Hải đồng ý, giọng quả quyết - Tớ đang nghĩ phải có thêm một hoạt động nào đó, có thể triển khai từ bây giờ cho đến hết năm. Quan trọng là mang lại lợi ích thiết thực cho sinh viên. Dù ê- kíp của ta có thắng hay không! - Nghe được đấy! - Vĩnh phụ Hải nhấc đuôi mấy chiếc xe máy ngổn ngang để lấy xe của Hải ra - Cậu có hướng gì chưa? - Hôm bữa tụi mình đọc hồ sơ của các bạn, cậu có để ý trình độ tiếng Anh của sinh viên khoa mình không cao lắm. Thua hẳn bên khoa Ngoại thương hay Du lịch. Nói thiệt, hồi đó, nếu cậu không phụ tớ tiền đi học lại tiếng Anh, tớ bây giờ cũng vẫn yếu kém. Cú hích ban đầu quan trọng lắm. Tớ nghĩ, chúng ta thử liên hệ với một số trung tâm ngoại ngữ, kiếm học bổng hoặc đề nghị chương trình giảm giá cho các bạn xem ra cũng ổn... - Hay đó! Sáng mai, tụi mình làm luôn! - Vĩnh thầm nghĩ chính tấm lòng nhân hậu khiến Hải luôn đồng cảm, nhìn ra những vấn đề của người khác. Xe Hải bị xì bánh sau. Vĩnh vội, phải phóng về công ty trước. Hải dắt xe sang đường, đến tiệm sửa xe vỉa hè. Anh mua một tờ báo, chăm chú đọc. Thình lình, mắt anh tối om. Hai bàn tay bịt mắt anh từ phía sau. Cố gắng vùng ra, anh quát lên: "Ai?". Tiếng nói líu ríu vang bên tai: "Anh không nhận ra Hikaru sao?". Hải ngoảnh phắt lại. Thái Vinh đứng sau lưng anh, nghiêng đầu, miệng cười. Nhưng dưới đáy hai con mắt viền đen, hắt lên tia sáng kỳ lạ, gợi cảm giác vô cùng u ám. ... Mời các bạn đón đọc Mắt Bão của tác giả Phan Hồn Nhiên.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ngày Cuối Tuần Định Mệnh - Henry Denker
Một tiếng gọi khẩn thiết vang lên làm rung cả mấy bức tường của khoa Cấp cứu: - Cho xin bác sỹ Forrester! Có người bị trúng đạn! Khẩn cấp đấy! Ngay lúc ấy, hai hộ lý nhao vào phòng cấp cứu ở đầu hành lang. Trong một buồng dành làm chỗ khám, bác sỹ Kate đang khám cho một bệnh nhân. Cô ngẩng đầu và quay về phía một nữ y tá: - Tôi xong rồi đây. Cô đưa mẫu máu này đến khoa Xét nghiệm và báo cho tôi ngay khi có kết quả. Kate Forrester lao ra khỏi buồng và chạy dọc hành lang. Mái tóc vàng xổ ra bao quanh khuôn mặt không trang điểm và chiếc blu nhàu nát chứng tỏ cô đã nhiều giờ liền làm việc không ngơi tay ở phòng cấp cứu. Trong bệnh viện lớn này của New York, những đêm thứ bảy và chủ nhật luôn luôn là những đêm bận rộn vất vả, nhất là đêm nay lại càng bận, vì bác sỹ trực cùng với Kate bị một cơn cảm cúm quật ngã đã phải nằm liệt giường. Người được phân công đến giúp Kate thì giờ này vẫn chưa có mặt. Giống như nhiều bạn đồng nghiệp trẻ trong những trường hợp tương tự, Kate đành tự mình xoay xoả, cố gắng làm hết sức mình trong những điều kiện làm việc có nhiều khó khăn không ai có thể tin nổi. Khi Kate chạy ngang qua buồng C, một nữ y tá gọi giật giọng: - Bác sỹ Kate, khi nào chị rảnh tay một chút … Nhưng Kate không dừng lại mà chạy thẳng tới buồng cấp cứu, nơi có một cậu con trai mười bốn tuổi đang mất máu. Chẳng may cho cậu bé, lại tình cờ đứng giữa làn đạn của hai tay anh chị đang xung đột với nhau ở một phố không xa bệnh viện. Biết rằng bác sỹ Forrester cùng một lúc chỗ nào cũng có người gọi, nữ y tá Adélaide Cronin quay về buồng C để hỏi sơ qua một bệnh nhân nữ mới đến một số câu. Là một y tá giỏi đã có hơn mười sáu năm trong nghề, Cronin muốn nói chuyện riêng với bệnh nhân - một cô gái mười chín tuổi có bộ tóc nâu. Nhưng không hiểu sao, mẹ cô cứ nhăm nhăm ở bên cạnh, không chịu rời con nửa bước lấy cớ để trông nom cô. Sau khi đã cân nhắc, bà Cronin hỏi cô gái: - Xin cô cho biết cô bị đau ra sao? Lập tức bà mẹ cắt ngang: - Tôi muốn chị mời một bác sỹ đến đây ngay. Con tôi cần phải được hưởng những chăm sóc tốt nhất. - Tôi đã báo bác sỹ Forrester. - Không, tôi yêu cầu con tôi phải được bác sỹ trưởng trực tiếp khám. Tốn kém bao nhiêu, chúng tôi cũng có thể trả! Chị hiểu chứ? - Tôi e rằng vào giờ này, nhất lại là tối thứ bảy, ông ta sẽ không đến - bà Cronin phản bác lại - Và bây giờ - Bà quay ra nói với cô gái - cô hãy nói điều gì đã khiến cô phải tới đây? - Con tôi đau do những cơn nôn oẹ - Bà mẹ vội giải thích. Thông cảm những sợ hãi do quá lo cho con của bà mẹ, bà Cronin ngoảnh về phía bà ta với vẻ mặt ân cần, khoan dung. - Thưa bà … - Stuyvesant - Bà mẹ cô gái tiếp lời - Bà Claude Stuyvesant. Cái tên đủ nổi tiếng để bà Cronin nhận ra ngay lập tức. Tuy nhiên, hiểu rằng mình sẽ phải làm gì, bà vẫn không thay đổi thái độ. - Bà Stuyvesant, những lời khai này sẽ được đưa vào hồ sơ bệnh án của con bà. Cho nên chừng nào cô ấy còn nói được thì tốt hơn hết là bà cứ để cô ấy tự nói, bằng chính những lời của mình. Bởi như thế sẽ càng chính xác hơn thôi. Bác sỹ sẽ cần đến nó để tiến hành chẩn đoán, vì vậy tôi xin bà … - Mong bà thứ lỗi. Bà mẹ rời khỏi bàn khám, nơi con bà đang được đặt nằm. Tóc cô gái trẻ xoã ra bết vào trán đang rịn mồ hôi, hơi thở cô nhè nhẹ, từng hồi đứt khúc, người cô căng ra. Trong khi lẳng lặng ghi nhận những triệu chứng suy sụp cả thể chất lẫn tinh thần ấy, bà Cronin nắm tay cô bắt mạch và đo huyết áp. ... Mời các bạn đón đọc Ngày Cuối Tuần Định Mệnh của tác giả Henry Denker.
Pháo Đài Trắng
Pháo đài Trắng, cuốn tiểu thuyết mang lại tên tuổi cho Orhan Pamuk, là câu chuyện về một học giả trẻ tuổi người Ý. Bị cướp biển bắt ở giữa Venice và Naples, anh bị đem ra bán đấu giá ở chợ nô lệ Istanbul. Một nhà bác học Thổ Nhĩ Kỳ muốn học hỏi các tiến bộ khoa học và tri thức phương Tây đã mua anh về. Nhưng rồi họ khi họ bị ràng buộc bởi những tội lỗi và bí mật của nhau, khi mối quan hệ của họ trở nên ngày càng phức tạp, cả chủ nhân và nô lệ bỗng phát hiện ra rằng họ đều là thành viên của quân đội Hoàng gia, và rằng cả hai đều đang trong cuộc hành trình rồi cuối cùng sẽ dẫn họ tới Pháo đài Trắng.  *** Nhận định   “Một ngôi sao mới đang lên ở phương Đông—Orhan Pamuk. Pháo đài Trắng là một trong số rất ít những tiểu thuyết tạo ra được một thế giới hoàn chỉnh và độc lập bằng tài năng khác thường… Ông là một người kể chuyện tài hoa như Sê-hê-ra-zát vậy.” - New York Times “Lịch lãm và có sức nặng… Sẽ không ngoa chút nào nếu so sánh Pamuk với Kafka và Calvino; cũng nghiêm túc như thế, cũng duyên dáng, cũng tinh tế như vậy. Ta có mọi bằng chứng về điều đó” - Independent “Tiểu thuyết gia tiên phong của Thổ Nhĩ Kỳ và ở bất cứ đâu cũng là một trong những nhân vật thú vị nhất trong làng văn… Một người kể chuyện hàng đầu.” Times Literary Supplement “Pháo đài Trắng tuyệt vời không phải bởi nó đã tái hiện một thời đại, mà vì nó đã khám phá bí mật cá nhân con người và trên hết vì Pamuk đã gói gọn những suy tư đó trong một câu chuyện đơn giản đến nhường ấy.” - Guardian ‘Một cuốn sách kỳ lạ và tài tình về sự đau đớn trong quá trình tự khám phá bản thân. Và trong suốt thiên tiểu thuyết, người ta có thể chứng kiến sự pha trộn siêu việt của những gì Pamuk thực sự thấy bằng con mắt của một kẻ quá hướng về Tây phương trong khi bề ngoài lại quá thiên về Trung Đông. Trong khoảnh khắc, Đông- Tây đã gặp gỡ.” New York Times ‘Cuốn tiểu thuyết xuất sắc của Orhan Pamuk về những ảnh hưởng ngoại lai… đã đem đến cho chúng ta một cái nhìn điềm tĩnh và thành kiến một cách tao nhã vào kết quả của phát tán văn hóa. Tác phẩm phảng phất âm hưởng của Calvino, nhưng cách viết và thế giới quan của tác giả lại gần hơn với Kazuo Ishiguro.” - Independent *** Mùa Hè năm 1982, tôi tìm được tập bản thảo viết tay ấy dưới đáy một chiếc rương bụi bặm ở Gebze (một thành phố gần Istanbul, thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ), khi lục lọi hàng tuần theo thói quen trong đám "hồ sơ" lộn xộn của chính quyền thành phố, ngập đầy những sắc lệnh, chiếu chỉ, văn tự, biên bản tòa án và các báo cáo công vụ. Với tấm bìa trang nhã bằng thứ giấy vân cẩm thạch có những hoa văn mơ hồ, gợi nhớ về giấc mộng nào đó, được viết bằng nét chữ rõ ràng, dễ đọc, tập bản thảo ấy nổi bật hẳn lên giữa đám công văn giấy tờ bạc phếch và lập tức khiến tôi chú ý. Bàn tay ai đó, chắc là có chủ ý, muốn khêu gợi tính tò mò của tôi, đã viết trên trang thứ nhất cái tựa đề: "Con nuôi người thợ làm chăn". Tôi hài lòng đọc nhanh hết tập sách mà bên lề các trang giấy có những hình người đầu bé xíu vẽ bởi bàn tay con trẻ, mặc những bộ y phục đính chi chít cúc. Tập bản thảo khiến tôi rất thích thú, nhưng vì lười chép lại, nên lợi dụng sự tin cậy của người nhân viên, vốn rất trọng nể tôi và chẳng hề theo dõi, tôi giấu nó vào trong cặp, đơn giản là tôi đã đánh cắp quyển sách ấy trong đám giấy tờ mà ngay cả vị kaimakam (người đứng đầu một tỉnh hoặc một khu vực (tiếng Thổ) trẻ tuổi cũng không dám gọi là "hồ sơ lưu trữ". Thời gian đầu, tôi đọc đi đọc lại quyển sách nhiều lần mà không biết phải làm gì với nó. Sự hoài nghi của tôi đối với lịch sử vẫn còn chưa hết, nhưng tôi chú ý đến bản thảo không chỉ từ phương diện khoa học, văn hóa hoặc lịch sử, mà còn bởi rất thích lối hành văn của nó. Rồi điều đó khiến tôi phải nghĩ về tác giả của bản thảo. Khi tôi và các đồng sự buộc phải rời trường Đại học Tổng hợp, tôi quay về nghề cũ của ông tôi, vốn là một người từng xuất bản các bách khoa thư, và chính khi đó tôi đã nghĩ tới chuyện đưa một bài về tác giả tập bản thảo mà tôi tìm được vào cuốn bách khoa thư Những người nổi tiếng mà tôi phụ trách phần lịch sử. Tôi bắt đầu dành cho việc đó tất cả những giây phút rảnh rỗi, ngoại trừ thời gian làm bách khoa thư và nhậu nhẹt. Tôi tra cứu các nguồn tư liệu về giai đoạn ấy và thấy một số sự kiện được phản ánh trong sách không tương ứng với thực tế lịch sử. Chẳng hạn, trong thời gian năm năm Koprulu (Pasha Koprulu Mehmet (1575-1661): đại tể tướng dưới triều Mehmet IV) giữ chức tể tướng, đúng là ở Istanbul đã xảy ra một trận đại hỏa hoạn, điều đó cũng được phản ánh trong các tư liệu thành văn, nhưng trận dịch hạch được bản thảo đề cập đến, mà lại lây lan rộng đến mức tưởng chừng như đáng được ghi vào lịch sử, thì trong các văn bản ấy lại chẳng có lời nào nhắc đến. Tên tuổi nhiều vị đại thần được nêu không đúng, hoặc nhầm lẫn, một số vị bị thay tên đổi họ. Họ tên của các vị đại sư chiêm tinh không tương ứng vởi tên họ ghi trong Biên niên sử vủa triều đình, nhưng tôi không chú tâm lắm vào những chi tiết này, vì cho rằng đây là chủ ý của tác giả. Mặt khác, phần lớn các sự kiện lịch sử nêu trong bản thảo đều được khẳng định, có một số sự kiện còn trùng hợp khá chi tiết, chẳng hạn như vụ ám sát đại sư chiêm tinh Huseyn Etendi, diễn ra trong chuyến đi săn thỏ của hoàng đế Mehmet IV (Mehmet IV (1642-1693): vị sultan thứ 19 của đế quốc Ottoman (1299- 1923), tức Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, trị vì trong quãng thời gian 1648-1687), tại khu rừng gần cung điện Mirahor, điều đó cũng được sử gia Naimai ((1655-1716): nhà sử học Ottoman) nhắc đến. Tôi cho rằng tác giả bản thảo hẳn là một người mơ mộng và ham đọc sách, khi làm việc đã sử dụng các tư liệu tương ứng, đã đọc vô số sách vở và sau đó đưa một số chi tiết vào các ghi chép của mình. Những trước tác của Evlyia Chelebi mà tác giả có nhắc đến, rõ ràng là chỉ được ông ta đọc lướt, nhưng qua bản thảo thì chẳng rõ hai người có quen biết nhau hay không. Tôi vẫn không mất hy vọng tìm ra dấu vết của tác giả, nhưng các truy cứu trong những thư viện Istanbul đã khiến cho niềm hy vọng đó tan thành mây khói. Tôi không kiếm được một tài liệu hay quyển sách nào đã hiến tặng hoàng đế Mehmet IV trong khoảng thời gian từ năm 1652 đến năm 1680, cả ở thư viện trong cung điện Topkapi (cung điện hoàng gia ở Istanbul - thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ, nay là Viện Bảo tàng) cũng như các thư viện khác mà tôi đồ rằng chúng có thể đã được chuyển đến. Tài liệu duy nhất mà tôi đã gặp được trong các thư viện ấy là công trình của "nhà thư pháp thuận tay trái", được nhắc đến trong bản thảo. Tôi cố gắng theo dõi số phận của những công trình ấy, gửi vô số thư từ đến các trường đại học tổng hợp Ittaly, nhưng chỉ nhận được những hồi âm bực mình, còn những mưu toan tìm kiếm trong các nghĩa địa Gebze, Jennethisar và Uskudar con người đã viết nên cuốn sách mà không lưu lại tên họ mình đều chẳng mang lại kết quả mong muốn. Tôi chấm dứt các cuộc tìm kiếm và ngồi viết một bài cho bách khoa thư, dựa trên nội dung của bản thảo. Đunrg như tôi đoán trước, bài viết không được chấp nhận, không phải vì nó thiếu cơ sở khoa học, mà bởi người tôi đề cập đến là một nhân vật khuyết danh. Có thể chính vì thế mà mối quan tâm của tôi đối với quyển sách lại càng lớn hơn. Thậm chí tôi còn muốn thôi việc, mặc dù tôi rất yêu công việc và các đồng nghiệp của mình. Có thời, gặp ai tôi cũng nói về quyển sách, như thể không phải tôi phát hiện được, mà chính tôi đã viết ra nó. Để khêu gợi chú ý, tôi nói về ý nghĩa biểu trưng của quyển sách đó, nói rằng nó giống với hiện thực ngày nay, rằng càng đọc quyển sách ấy tôi càng hiểu thêm thời đại bây giờ. Sau những lời như vậy, đám thanh niên, chủ yếu là những người quan tâm đến chính trị, các mối quan hệ Đông-Tây và nền dân chủ đã chú ý đến quyển sách đó, nhưng chẳng bao lâu sau những người trẻ tuổi ấy, cũng như bạn bè tôi, đã quên lãng nó. Một ông giáo sư, bạn của tôi, đã đọc xong cuốn sách vì tôi chèo kéo, khi mang trả có nói rằng những câu chuyện như thế đầy rẫy trong các bản thảo chồng chất tại những ngôi nhà gỗ cũ kĩ trên các ngõ phố Istanbul. Cư dân của những ngôi nhà đó, nếu coi sách là Thánh thư Koran, thì sẽ cất nó lên nóc tủ, còn không, họ sẽ xé rời từng tờ ra để nhóm bếp lò. Và thế là, đọc đi đọc lại bản thảo hết lần này đến lần khác, được khích lệ bởi một cô gái đeo kính, điếu thuốc không lúc nào rời môi, tôi quyết định đem nó đi xuất bản. Độc giả sẽ thấy rằng khi dịch ra tiếng Thổ hiện đại, tôi đã không hề chú trọng đến phong cách, tôi cứ đọc vài câu trong nguyên bản để trên bàn, sau đó tôi đi sang một phòng khác, đến bên chiếc bàn khác, nơi tờ giấy trắng đang đợi, tôi ngồi xuống ghế và cố gắng diễn đạt nội dung vừa đọc bằng ngôn ngữ thời nay. Nhan đề quyển sách không do tôi đặt ra, mà là của nhà xuất bản đã đồng ý in nó, Chắc có người sẽ hỏi tôi, có ý nghĩa gì đặc biệt trong những lời đề từ in ở trang nhất hay không. Tôi cho rằng, thói quen tìm kiếm một mối liên hệ nào đó trong tất cả mọi thứ là căn bệnh của thời đại chúng ta. Và chính bởi cũng ngả theo căn bệnh chung ấy, tôi đã cho xuất bản câu chuyện này.   FARUK DARVINOGL Mời các bạn đón đọc Pháo Đài Trắng của tác giả Orhan Pamuk.
Nỗi Sợ - Stefan Zweig
Iren người phụ nữ đã có gia đình hạnh phúc, người chồng làm luật sư, hai đứa con, là quý bà giàu có, có mối quan hệ ngoại tình với chàng nghệ sĩ dương cầm, không vì thiếu tình cảm, tình dục mà là tò mò, được sự ngưỡng mộ từ người tình, làm người phụ nữ được tôn thờ, được yêu, đánh giá mình qua tình cảm của người khác. Chồng nàng là luật sư Frizt, người đam mê tâm lý học tội phạm, phát hiện ra vợ mình ngoại tình, F đã nhờ một người đàn bà giả làm vợ của chàng nghệ sĩ dương cầm, tống tiền Iren, với mong muốn vợ mình nhận ra tự quay lại với anh và con. Tâm lý sợ hãi, nỗi sợ bị phát hiện, sợ bị phơi bày lỗi lầm trước người thân, ám ảnh trong giấc mơ, sợ đi ra đường gặp người đàn bà tồng tiền, đẩy thần kinh Iren căng thẳng lên mức tột đỉnh, toàn thân đau nhức, sự ám thị về khuôn mặt, dáng người và hành động của chồng. “Nỗi lo sợ còn tồi tệ hơn sự trừng phạt, bởi vì sự trừng phạt là cái gì đích xác, dù nặng hay nhẹ vẫn tốt hơn sự căng thẳng ghê gớm của trạng thái lo sợ những gì chưa biết sẽ xảy đến” Frizt nói. Cuối cùng trong trạng thái căng thẳng tột cùng, Iren đã nghĩ đến giải pháp cuối cùng để thoát khỏi là tự tử. Frizt đã kịp ngăn nàng, và thú nhận sự thật anh đã thuê người đàn bà kia. Truyện có tình tiết gay cấn, miêu tả tâm trạng, trạng thái nhân vật có vẻ không giống thực lắm, hơi quá, nhưng mang lại cho người đọc tính hồi hộp, lôi cuốn.  *** Stéfan Zweig (28 tháng 11, 1881 - 22 tháng 2, 1942) là một nhà văn, nhà báo, nhà viết kịch và nhà viết tiểu sử người Áo nổi tiếng trên thế giới. Ông sinh ra trong một gia đình khá giả gốc Do Thái ở thành phố Viên, Áo. Không tìm thấy động lực rõ ràng, ông bỏ học sớm. Việc học của ông chỉ bắt đầu khi ông đi qua nhiều nước ở châu Âu và kết giao với nhiều nhân vật quan trọng vào thời đại của ông. Ông có nhiều chuyến đi đến Ấn Độ, châu Phi, Bắc và Trung Mỹ, cũng như Nga. Trong Thế chiến thứ nhất, vì lý do sức khỏe yếu, ông không phải ra mặt trận mà được làm thủ thư, phụ trách quản lý tư liệu chiến tranh. Nhưng chỉ đến khi sống một thời gian ngắn gần trận tuyến, ông mới nhận ra sự điên rồ của chiến tranh, và từ đó trở thành người cổ vũ mạnh mẽ cho hoà bình. Là một nhà văn có sức làm việc mạnh, ông đã viết nhiều tập tiểu sử (như quyển Ba bậc thầy bàn về Honoré de Balzac, Charles Dickens và Fyodor Dostoyevsky, xuất bản năm 1920), thêm truyện dài và truyện ngắn. Ông được ca ngợi là có óc phân tích tâm lý độc đáo, và có tài chắt lọc bỏ ra những tiểu tiết khiến cho những tập tiểu sử của ông đọc hấp dẫn như tiểu thuyết. Đến thập niên 1930 ông là một tác giả có tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất. Tháng 2 năm 1942 , trong thời gian lễ hội ở Rio de Janeiro (Brasil), vì tâm trạng cô đơn và mệt mỏi, Stéfan Zweig và vợ Lotte cùng nhau tự tử. Lẽ ra hai người không nên gặp nhau mới phải. Zweig xuất thân từ một gia đình tư sản giàu có thành Vienna. Còn Frederika thuộc thành phần viên chức quý tộc. Họ làm gì có điểm chung mà đụng đầu với nhau, ngoài niềm say mê văn học. Đời một người đàn ông có thể gặp rất nhiều phụ nữ phải lòng và yêu mình. Thế nhưng, ít khi chúng ta được gặp nhiều hơn một người phụ nữ thực sự là phúc lộc trời cho, dịu dàng, vị tha, dẫu rất đắng lòng nhưng cuối cùng luôn luôn tha thứ cho ta về những lầm lỗi trăng hoa... Tối mùa thu ấy ở London cơn mưa thu lạnh lẽo và tầm tã. Frederika như người mộng du đi trên phố, hai tay ôm trước ngực cái ô xếp tròn. Chị cứ thế lang thang, không rõ mục đích và phương hướng... Bỗng nhiên có một cặp khách qua đường đi ngang rồi vượt lên trước chị. Hai người trò chuyện với nhau rất to. Họ than phiền về chuyện chiến tranh. Họ nguyền rủa Hitler đã khiến họ phải lìa xứ. Mời các bạn đón đọc Nỗi Sợ của tác giả Stefan Zweig.
Mười Hai Chiếc Ghế - Ilya Ilf & E. Petrov
Mười hai chiếc ghế" của hai nhà văn Liên Xô I.Ilf và E.Petrov là một kiệt tác của nền văn học Liên Xô thuộc thể loại tiểu thuyết trào phúng, được xếp vào hàng các tác phẩm kinh điển khi các tác giả còn sống. Lấy bối cảnh năm 1927, bộ truyện kể lại một phi vụ làm ăn đầy kịch tính giữa I. Vorobyaninov , một cựu quí tộc của chế độ Sa hoàng và O.Bender, một tay lừa đảo có hạng.  Tác phẩm được viết bởi ILF, Ilia Arnoldovich (1897 – 1937) cùng với PETROV, Evgeny Petrovich (1903 – 1942) là hai nhà văn trào phúng người Odessa. Valentin Petrovich Kataev ( tiểu thuyết gia và nhà soạn kịch Nga và Liên Xô) được biết tới là người đã đề xuất ý tưởng tiểu thuyết "Mười hai chiếc ghế" cho em trai Yevgeni Petrov và Ilya Ilf. Đổi lại, Kataev yêu cầu tất cả các ấn bản và bản dịch tiểu thuyết này đều cần phải đề là tặng ông. Sức tưởng tượng, sự rung cảm và sức sáng tạo không ngừng của Kataev đã khiến ông trở thành một trong những nhà văn Xô Viết xuất sắc nhất. Sau "12 chiếc ghế" Ilf và Petrov còn viết tiểu thuyết "Con bê vàng" (Золотой телёнок). "Con bê vàng" là phần II (tiếp theo) của "12 chiếc ghế". Ostap Bender không chết sau khi bị cắt cổ trong "12 chiếc ghế" và lại bắt đầu cuộc phiêu lưu mới của một kẻ du thủ du thực. Vẫn những mánh lừa đảo, cách kiếm tiền rất thông minh như trong phần I, Ostap Bender làm phần II cũng không kém phần thú vị và hấp dẫn. Nhận định: “Toàn bộ cuốn truyện toát ra sự phê phán rất thâm thúy, sắc bén, nhưng rất nhẹ nhàng, thú vị, đối với các thói hư tật xấu của con người.” -Dịch giả Lê Khánh Trường *** Ilya Ilf (Ilya Arnoldovich Feinsilberg, tiếng Nga: Илья Арнольдович Файнзильберг, 1987-1937) và Yevgeny Petrov (Yevgeniy Petrovich Kataev/Katayev, tiếng Nga: Евгений Петрович Катаев, 1903-1942) Là hai nhà văn và nhà báo Nga, được biết đến qua cuốn tiểu thuyết trào phúng, “Mười Hai Chiếc Ghế" (1928). Ilya Ilf và Petrov cũng xuất bản một số lượng lớn các câu chuyện và phác thảo dưới bút danh "Tolstoyevsky" trong Xô viết tạp chí và báo chí. Nền văn học danh tiếng của hai nhà văn phụ thuộc chủ yếu vào tác phẩm hợp tác của họ - những cuốn sách khác đã không đứng trước sự thử thách của thời gian. Ilya Ilf (bút danh của Ilya Arnoldovich Fainzilberg), sinh tại Odessa, con trai của một nhân viên ngân hàng. Sau khi tốt nghiệp từ một trường học kỹ thuật vào năm 1913, sau đó ông làm việc trong văn phòng một kiến trúc sư, một nhà máy hàng không và một nhà máy lựu đạn tay. Ông cũng góp phần đóng góp cho một tạp chí hài, tên là Sindektikon. Năm 1923, ông chuyển đến Moskva, nơi ông được nhận là một thủ thư và ông đã viết bài cho các tờ báo và tạp chí hài hước khác. Hai năm sau đó ông trở thành một nhà báo cho các tạp chí Gudok và Moriak. Trong chuyến thăm của ông ở Trung Á, ông đã chứng kiến cuộc đụng độ giữa hải quan cũ và hệ thống mới, mà đã trở thành một trong những chủ đề Trung tâm của “Mười Hai Chiếc Ghế". Sau khi họp bàn với Petrov, ông bắt đầu viết với những mảng hài hước cho tờ Pravda và các ấn phẩm khác. Nghiên cứu khoa học kéo dài gần chục năm. Ilya Ilf qua đời ngày 13 tháng 4 năm 1937 do bị bệnh lao, nơi ông đã ký hợp đồng trên hành trình của mình ở Hoa Kỳ. Yevgeny Petrov (bút danh của Yevgeny Petrovich Kataev) sinh tại Odessa, con trai của một giáo viên lịch sử. Ông tốt nghiệp năm 1920 từ một phòng tập thể dục cổ điển và bắt đầu sự nghiệp của mình như một nhà báo. Năm 1921 ông trở thành phóng viên báo tiếng Ukraina. Trước khi chuyển tới Moscow vào năm 1923, ông làm việc tại Cục điều tra hình sự Odessa. Petrov được bổ nhiệm làm phó tổng biên tập của tạp chí châm biếm Krasnyi perets và vào năm 1923, ông gia nhập đội ngũ nhân viên của tờ báo Gudok, một ấn phẩm cho các nhân viên đường sắt. Petrov đã không có tham vọng trở thành một nhà văn. Tuy nhiên, anh trai ông, nhà văn Valentin Kataev (1897-1986), khuyến khích ông soạn truyện ngắn, và một bộ sưu tập nhỏ đã được xuất bản vào năm 1924. Petrov kết hôn vào năm 1929. Từ năm 1932 ông đã góp phần vào tờ Pravda Krokodil. Năm 1925 Petrov đã trở nên quen với Ilya Ilf, người cũng làm việc cho Gudok. Cuốn sách đầu tiên của họ, “Mười Hai Chiếc Ghế" đã đạt được một thành công lớn. “Mười Hai Chiếc Ghế" xuất hiện trong thời gian tương đối tự do, khi kinh tế chính sách mới (NEPNEP) cho phép giới hạn doanh nghiệp tư nhân. Ý tưởng về những câu chuyện đã được đề xuất bởi Valentin Kataev. Ostap Bender - nhân vật chính đáp ứng trong cuộc phiêu lưu của mình là một kẻ cơ hội, quan chức, và kẻ lừa đảo và Sinbad thời kỳ NEP. Câu chuyện “Mười Hai Chiếc Ghế" đã lấy cảm hứng chuyển thể từ sân khấu và điện ảnh, không chỉ ở Liên Xô, nhưng cũng có ở Hoa Kỳ. Phiên bản phim của Mel Brooks từ năm 1970 đã nhận được nhiều sự đánh giá lẫn lộn của các nhà phê bình. Brooks là đạo diễn, viết kịch bản, tác giả của bài hát và tham gia trong một vai nhỏ. Mặc dù với tất cả các nỗ lực, sự hài hước của ông đã không mạnh như các nhà sản xuất (1968). 1933-1934 Ilf và Petrov viếng thăm Tây Âu. Họ đã gặp các nhà báo Nga nổi tiếng Ilya Ehrenburg ở Paris, và đã viết với ông một bộ phim hài, không tạo thành. Theo Ehrenburg, hài hước của Ilf là cay đắng; Petrov đã lạc quan, hài hước của mình là nhân đạo hơn và ông muốn tốt cho tất cả mọi người. Cái chết của Ilya Ilf là một sự khó khăn với Petrov, ông sau đó chỉ viết viễn tưởng. Tác phẩm của ông chủ yếu giới hạn là kịch bản phim và chỉnh sửa một bộ sưu tập của Ilf trong máy tính xách tay riêng (1937-1938). Năm 1940, ông gia nhập Đảng Cộng sản và trở thành biên tập viên của tạp chí Ogonyok. Vào năm 1941 Petrov viếng thăm Đức, nửa năm trước khi Đức Quốc xã tấn công Liên Xô, và nói: "Người Đức đang mệt mỏi của chiến tranh...". Trong thế chiến II Petrov đã phục vụ như là một phóng viên chiến tranh. Ông qua đời trong một máy bay rơi ở Sevastopol vào ngày 2 tháng 7 năm 1942. Báo cáo của Petrov từ trước đã được xuất bản dưới tiêu đề Frontovoi dnevnik (1942). ”Mười Hai Chiếc Ghế" được coi là một tôn giáo cổ điển và đã được tái bản nhiều lần.   Mời các bạn đón đọc Mười Hai Chiếc Ghế của tác giả Ilya Ilf & E. Petrov.