Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tình Yêu Và Tuổi Trẻ

Tình yêu và tuổi trẻ (nguyên tác tiếng Pháp: Fermina Márquez) là câu chuyện xảy ra dưới một mái trường trung học trong một bầu không khí đầy thơ và mộng. Một nữ sinh Nam Mỹ, quý phái và thánh thiện, bị quyến rũ và phải lòng trước hai cậu thiếu niên. Một cậu đã sành sỏi, già dặn trong sự chinh phục và một cậu có tâm hồn đầy phức tạp và đầy thao thức, bị xâu xé giữa những khát vọng sâu thẳm và âm u nhất. Câu chuyện của tuổi học trò, của thời niên thiếu. Có lẽ không phải tình cờ mà Valery Larbaud đã chọn những tâm hồn niên thiếu làm nhân vật chính cho tác phẩm. Bởi ai còn lạ gì, đó là lứa tuổi nhiều phép lạ nhất của đời người. Với Tình yêu và tuổi trẻ, Larbaud không mô tả, không phân tích, không kể; trái lại, ông gợi lên một thế giới, ông làm sống lại cái thế giới đó không phải dưới mắt mà ngay trong tâm hồn người đọc, cũng như chính ông, ông không tìm kiếm những chất liệu làm nên cái thế giới đó từ bên ngoài mà ở chính nơi ông. Tình yêu và tuổi trẻ chính là câu chuyện của mỗi người trong chúng ta, là cuộc “phiêu lưu” kỳ diệu của tâm hồn niên thiếu mãi mãi còn là tâm hồn bạn của mỗi người trong chúng ta. Cuốn truyện được viết bằng ngôi thứ nhất. Và khi xếp quyển sách lại, dường như người đọc không còn nhớ rõ hay phân biệt lúc nào ngôi thứ nhất đó là “tôi” và lúc nào nó là “chúng tôi”; và có lẽ sau khi kết thúc câu chuyện kể, chính tác giả cũng không còn phân biệt được điều đó. Hơn thế nữa, cái “tôi” của tác giả cũng chính là cái “tôi” của người đọc. Và cái “chúng tôi” đã trở thành cái “chúng ta”. Bởi từ lúc nào (từ lúc nào? Có phải từ dòng chữ thứ nhất khi “ánh phản chiếu từ khung cửa kính của phòng khách chợt lướt qua trên sân cát” báo hiệu sự xuất hiện rực rỡ của người con gái có tên là Fermina?) người ta đã không còn đóng vai khán giả nữa, người đọc đã thực sự bước vào sân khấu muôn đời của lứa tuổi thần tiên. Bạn đã có mặt trong ngôi trường trung học đó, đang ngồi trong lớp học, hoặc đứng cười khúc khích bên hàng rào sim, hoặc đang sánh bước bên nàng Fermina kiều diễm: bạn là Santos, bạn là Léniot, bạn là Camille Moûlier, bạn là tất cả mọi người, bạn là từng người một. Bạn chuyện trò, nói năng, mơ ước, khát vọng... Lớp học kia là lớp học của bạn. Những tâm hồn bạn kia lànhững tâm hồn bạn của chính bạn. Và lời kể kia không còn là lời kể của người kể chuyện mà của chính người nghe chuyện. Kỳ lạ thay, người đọc không ngừng viết và viết lại câu chuyện. Hãy cảm ơn Valery Larbaud đã cho ta cái cơ hội đó, cảm ơn ông đã đưa chúng ta trở về lớp học ngày nào, ngồi vào chỗ ngồi của chính mình. “Không có gì thay đổi, thêm một ít bụi trên các bàn học, chỉ có thế.” Chỉ có thế. Mỗi người đều nhận ra điều đó, một sự thật vô cùng đơn giản nhưng cũng vô cùng khốc liệt. Bởi lớp bụi mỏng kia đã đủ vùi lấp một đoạn đời, một thế giới. Đó là cái gì còn lại khi thời gian đã vỗ cánh bay xa và cùng bay xa theo nó cả một lứa tuổi vàng. Ta vẫn ngồi đó, trong lớp học cũ, nơi bàn học cũ. Tiếng bước đâu đây, tiếng cười đâu đó... Không, chỉ có mình ta thảng thốt kêu lên: Đâu mất cả rồi, những tâm hồn bạn trìu mến ngày nào, họ đã đi về đâu, ai còn, ai mất giữa dòng đời đầy bất trắc, tang thương? “nhiều người đã chết, cậu ơi, nhiều người đã chết!” Nhiều người đã chết, như Léniot, người học sinh xuất sắc với tâm hồn tối tăm, đày ải, như bao người khác “đã chết cho tổ quốc”... Và những ai còn sống, họ trôi dạt về đâu? Còn Fermina Márquez, nàng tiên đã từng ngự giữa “triều đình tình ái” ngày nào, nàng hiện sống ra sao dưới vòm trời Colombie xa lắc? Hãy tưởng tượng rằng nàng hạnh phúc. Vâng, hãy tưởng tượng... Quyển sách xếp lại, dường như ta vẫn ngồi đó trong lớp học cũ, nơi bàn học cũ. Mãi mãi ngồi đó. Ngậm ngùi... ------------------------- Trong suốt nửa đầu thế kỷ XX, Valery Larbaud là một khuôn mặt sáng ngời trên văn đàn Pháp, bên cạnh những André Gide, Jean Cocteau, Léon Paul Fargue... với những công trình sáng tác (thơ, kịch, tiểu thuyết), phê bình cũng như dịch thuật, tất cả tạo cho ông một địa vị vững chắc và nhất là đã gây một ảnh hưởng lớn lao trên nền văn chương Pháp hiện đại. Hãy nói về chuyện dịch thuật. Trong địa hạt này, Valery Larbaud là người đã giới thiệu cho độc giả Pháp những tác phẩm và tác giả ngoại quốc giá trị của Ý, Tây Ban Nha, Anh, Mỹ, v.v... Ông đã từng được xem là một lý thuyết gia về dịch thuật không chỉ nhờ ở kiến thức về ngữ học cho phép ông đọc được hầu hết các thứ tiếng quan trọng trên thế giới mà còn ở những phân tích sâu xa của ông về công việc mà ông gọi là “trường đức hạnh đẹp và cố định”. Trước cả Malraux, có lẽ ông là người đầu tiên giới thiệu William Faulkner cho độc giả Pháp qua bài tựa của quyển Tandis que J’agonise. Ông cũng là người đã từng cộng tác với James Joyce trong việc duyệt lại bản dịch tác phẩm lừng danh thế kỷ của tác giả trên là Ulysses. Hơn ai hết, trong thế hệ đương thời, có lẽ Valery Larbaud là nhà văn “châu Âu” của Pháp với nguồn cảm hứng luôn vượt khỏi biên giới quốc gia. Ông đúng là một công dân châu Âu, một mẫu người không biên giới. Với con người đã từng đi rất nhiều đó, dường như chỉ có một nền Cộng hòa mà ông luôn trung thành, đó là Cộng hòa của chữ nghĩa: “Xứ sở gần gũi với tôi nhất, đó chính là nghề nghiệp của tôi”… ------------------------- Huỳnh Phan Anh sinh năm 1940, tên thật là Huỳnh Thành Tâm, học triết ở Đà Lạt giai đoạn 1961-1964, dạy triết học ở Sài Gòn, ông tự nhận mình là nhà giáo “đi lạc vào văn học”. Trước năm 1975, ở Sài Gòn, Huỳnh Phan Anh cộng tác với bán nguyệt san Văn, tuần báo văn nghệ Văn học, Vấn đề, Khởi hành... Ông viết phê bình, nghiên cứu, dịch thuật, làm báo, viết văn, mảng nào cũng để lại những dấu ấn. Các tác phẩm phê bình của ông được nhiều người biết đến: Văn chương và kinh nghiệm hư vô, Đi tìm tác phẩm văn chương...; các dịch phẩm: Bãi hoang (J.R. Huguenin), Tình cuồng (Raymond Radiguet, dịch chung với Nguyễn Nhật Duật), Tình yêu và lý tưởng (Thomas Mann), Tình yêu và tuổi trẻ (Valery Larbaud), Thời gian của một tiếng thở dài (Anne Philipe), Hò hẹn trên đồi (Anne Philipe), Thế giới của Sophie (J. Gaarder), Lạc lối về (H. Boll), Tình yêu bên vực thẳm (E.M. Remarque), Cỏ (Claude Simon)... Từ năm 2002, ông định cư tại San Jose, Hoa Kỳ. *** Lời dịch giả Trong một bài viết nhan đề “Valery Larbaud hay vinh dự văn chương”[1], thi sĩ Saint-John Perse đã viết về nhà văn này: “Ông là người của ngôn ngữ, lúc nào cũng sùng kính bản chữ viết và tất cả những gì nó dành cho nhân vị con người, cho chính cuộc phiêu lưu của con người”. Trong suốt nửa đầu thế kỷ XX, Valery Larbaud là một khuôn mặt sáng ngời trên văn đàn Pháp, bên cạnh những André Gide, Jean Cocteau, Léon Paul Fargue… với những công trình sáng tác (thơ, kịch, tiểu thuyết), phê bình cũng như dịch thuật, tất cả tạo cho ông một địa vị vững chắc và nhất là đã gây một ảnh hưởng lớn lao trên nền văn chương Pháp hiện đại. Hãy nói về chuyện dịch thuật. Trong địa hạt này, Valery Larbaud là người đã giới thiệu cho độc giả Pháp những tác phẩm và tác giả ngoại quốc giá trị của Ý, Tây Ban Nha, Anh, Mỹ, v.v… Ông đã từng được xem là một lý thuyết gia về dịch thuật không chỉ nhờ ở kiến thức về ngữ học cho phép ông đọc được hầu hết các thứ tiếng quan trọng trên thế giới mà còn ở những phân tích sâu xa của ông về công việc mà ông gọi là “trường đức hạnh đẹp và cố định”. Trước cả Malraux, có lẽ ông là người đầu tiên giới thiệu William Faulkner cho độc giả Pháp qua bài tựa của quyển Tandis que J’agonise. Ông cũng là người đã từng cộng tác với James Joyce trong việc duyệt lại bản dịch tác phẩm lừng danh thế kỷ của tác giả trên là Ulysses.Hơn ai hết, trong thế hệ đương thời, có lẽ Valery Larbaud là nhà văn “châu Âu” của Pháp với nguồn cảm hứng luôn vượt khỏi biên giới quốc gia. Ông đúng là một công dân châu Âu, một mẫu người không biên giới. Với con người đã từng đi rất nhiều đó, dường như chỉ có một nền Cộng hòa mà ông luôn trung thành, đó là Cộng hòa của chữ nghĩa: “Xứ sở gần gũi với tôi nhất, đó chính là nghề nghiệp của tôi”. Liệu có cần nhắc nhở ra đây là Valery Larbaud rất giàu (ông thừa hưởng ngay khi còn trẻ, rất trẻ, một tài sản khổng lồ do cha ông để lại bởi việc khai thác suối nước nóng). Trọn đời ông thể hiện qua hai mối đam mê: đi và đọc, và phải chăng hai mối đam mê chung quy chỉ phát xuất từ một mối lo âu duy nhất: sự cảm thông. Ông viết: “Càng lúc tiếng bánh xe đang chạy càng hòa quyện vào tư tưởng tôi”. Câu nói thâu tóm khá đầy đủ tâm hồn nhà văn, hình ảnh của một du khách say mê và đau khổ, bởi không có chuyến tàu nào có thể mang hắn đi xa, đến tận nơi hắn muốn tới, bởi “tất cả chỉ là một đêm tối bao la”. Và khi tất cả mọi con tàu đều đã bất lực, người du khách kia chỉ còn biết kêu gọi tới chữ nghĩa kỳ diệu để thực hiện một chuyến đi khác không kém phần kỳ thú, chuyến đi vào chính vũ trụ của tâm hồn mình, người du khách không đi nữa, hắn im lìm ở một chỗ, hắn nhìn vào nội giới hắn, bắt đầu một cuộc phiêu lưu khác, cuộc phiêu lưu khởi sự từ một ước muốn. “Ước muốn trở về, nó đã có mặt. Người ta thức giấc sớm hơn, người ta bắt đầu sắp xếp lại bàn viết. Đó không là công việc một ngày. Một lần người ta thay những ngòi viết đã rỉ sét. Một lần khác nữa người ta đi mua các món như những tờ giấy chậm, một cây bút chì mới (hiệu tốt của Mỹ), một cục gôm… Sau cùng, đến ngày người ta ngồi vào bàn làm việc. Lúc bấy giờ một niềm im lặng bát ngát, một niềm im lặng dịu dàng và thuần khiết dàn trải quanh ta. Ta đã tìm ra ‘lẽ sống’ của ta. Thế giới không thể xen vào công việc của ta, thế giới không có cái quyền đó; những gì nó làm, nó nghĩ, nó nói, tất cả không quan trọng lắm. Ta chìm đắm trong công việc của ta, bình yên với chính ta, với những người quanh ta, với thành phố trong đó ta đang sống…”. Quả thật, viết đối với Larbaud là một cuộc dấn thân toàn diện, là cuộc phiêu lưu trong trạng thái im lìm, là lẽ sống, là định mệnh chứ không chỉ là một “thiên đường giả tạo”. Larbaud hay là vinh dự văn chương: đối với ông, ngôn ngữ chính là quyền năng tối thượng, niềm tin của ông đặt trọn trong lời nói và chữ viết. Ông không thắc mắc về ý nghĩa cuộc đời, bởi tất cả ý nghĩa đời ông bao gồm trong việc viết và đọc. Với ông, chỉ có tác phẩm toàn diện, trong “thực chất và trong cốt tủy” của nó mới là điều đáng kể: không còn phân ly giữa văn chương và đời sống, giữa hình thức và nội dung: tác phẩm trở thành yếu tố kết hợp lý tưởng nhất nhờ ở quyền năng mầu nhiệm của ngôn ngữ. Có thể nói Larbaud là một trong số những nhà văn đã khơi mở cả một thế kỷ văn học của Pháp, ông đã thổi vào văn học Pháp một luồng sinh khí mới với tinh thần phóng khoáng và mới mẻ thể hiện qua một ngôn ngữ văn chương hàm súc và đầy rung động ngược lại hẳn với thứ lý luận của văn chương tượng trưng đã lỗi thời. Trong ý nghĩa đó, ta có thể nói rằng Fermina Márquez (Tình yêu và tuổi trẻ), một trong những tác phẩm điển hình nhất nếu không nói là kiệt tác của Valery Larbaud, là một phản ứng chống chọi truyền thống tiểu thuyết trước đó, trước năm 1911, năm ra đời của nó, hay đúng hơn là di sản văn chương của thế kỷ XIX, với những ý hướng và những xúc động mới mẻ. Nói theo nhà phê bình R.M. Albérès trong Histoire du Roman Moderne, Fermina Márquez thuộc dòng văn chương nhằm “quyến rũ hoặc làm thảng thốt người đọc, thay vì mô tả, giải thích, thông tri, và chỉ dẫn…”. Đó là câu chuyện xảy ra dưới một mái trường trung học trong một bầu không khí đầy thơ và mộng. Một nữ sinh Nam Mỹ, quý phái và thánh thiện, bị quyến rũ và phải lòng trước hai cậu thiếu niên. Một cậu đã sành sỏi, già dặn trong sự chinh phục và một cậu có tâm hồn đầy phức tạp và đầy thao thức, bị xâu xé giữa những khát vọng sâu thẳm và âm u nhất. Câu chuyện của tuổi học trò, của thời niên thiếu. Có lẽ không phải tình cờ mà Valery Larbaud đã chọn những tâm hồn niên thiếu làm nhân vật chính cho tác phẩm. Bởi ai còn lạ gì, đó là lứa tuổi nhiều phép lạ nhất của đời người. Với Fermina Márquez, Larbaud không mô tả, không phân tích, không kể; trái lại, ông gợi lên một thế giới, ông làm sống lại cái thế giới đó không phải dưới mắt mà ngay trong tâm hồn người đọc, cũng như chính ông, ông không tìm kiếm những chất liệu làm nên cái thế giới đó từ bên ngoài mà ở chính nơi ông. Vâng, Fermina Márquez chính là câu chuyện của mỗi người trong chúng ta, là cuộc “phiêu lưu” kỳ diệu của tâm hồn niên thiếu mãi mãi còn là tâm hồn bạn của mỗi người trong chúng ta. Cuốn truyện được viết bằng ngôi thứ nhất. Và khi xếp quyển sách lại, dường như người đọc không còn nhớ rõ hay phân biệt lúc nào ngôi thứ nhất đó là “tôi” và lúc nào nó là “chúng tôi”; và có lẽ sau khi kết thúc câu chuyện kể, chính tác giả cũng không còn phân biệt được điều đó. Hơn thế nữa, cái “tôi” của tác giả cũng chính là cái “tôi” của người đọc. Và cái “chúng tôi” đã trở thành cái “chúng ta”. Bởi từ lúc nào (từ lúc nào? Có phải từ dòng chữ thứ nhất khi “ánh phản chiếu từ khung cửa kính của phòng khách chợt lướt qua trên sân cát” báo hiệu sự xuất hiện rực rỡ của người con gái có tên là Fermina?) người ta đã không còn đóng vai khán giả nữa, người đọc đã thực sự bước vào sân khấu muôn đời của lứa tuổi thần tiên. Bạn đã có mặt trong ngôi trường trung học đó, đang ngồi trong lớp học, hoặc đứng cười khúc khích bên hàng rào sim, hoặc đang sánh bước bên nàng Fermina kiều diễm: bạn là Santos, bạn là Léniot, bạn là Camille Moûtier, bạn là tất cả mọi người, bạn là từng người một. Bạn chuyện trò, nói năng, mơ ước, khát vọng… Lớp học kia là lớp học của bạn. Những tâm hồn bạn kia là những tâm hồn bạn của chính bạn. Và lời kể kia không còn là lời kể của người kể chuyện mà của chính người nghe chuyện. Kỳ lạ thay, người đọc không ngừng viết và viết lại câu chuyện. Hãy cảm ơn Valery Larbaud đã cho ta cái cơ hội đó, cảm ơn ông đã đưa chúng ta trở về lớp học ngày nào, ngồi vào chỗ ngồi của chính mình. “Không có gì thay đổi, thêm một ít bụi trên các bàn học, chỉ có thế.” Chỉ có thế. Mỗi người đều nhận ra điều đó, một sự thật vô cùng đơn giản nhưng cũng vô cùng khốc liệt. Bởi lớp bụi mỏng kia đã đủ vùi lấp một đoạn đời, một thế giới. Đó là cái gì còn lại khi thời gian đã vỗ cánh bay xa và cùng bay xa theo nó cả một lứa tuổi vàng. Ta vẫn ngồi đó, trong lớp học cũ, nơi bàn học cũ. Tiếng bước đâu đây, tiếng cười đâu đó… Không, chỉ có mình ta thảng thốt kêu lên: Đâu mất cả rồi, những tâm hồn bạn trìu mến ngày nào, họ đã đi về đâu, ai còn, ai mất giữa dòng đời đầy bất trắc, tang thương? “nhiều người đã chết, cậu ơi, nhiều người đã chết!” Nhiều người đã chết, như Léniot, người học sinh xuất sắc với tâm hồn tối tăm, đày ải, như bao người khác “đã chết cho tổ quốc”… Và những ai còn sống, họ trôi dạt về đâu? Còn Fermina Márquez, nàng tiên đã từng ngự giữa “triều đình tình ái” ngày nào, nàng hiện sống ra sao dưới vòm trời Colombie xa lắc? Hãy tưởng tượng rằng nàng hạnh phúc. Vâng, hãy tưởng tượng… Quyển sách xếp lại, dường như ta vẫn ngồi đó trong lớp học cũ, nơi bàn học cũ. Mãi mãi ngồi đó. Ngậm ngùi… Huỳnh Phan Anh Mời các bạn đón đọc Tình Yêu Và Tuổi Trẻ của tác giả & Huỳnh Phan Anh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Người Gia Sư
Lịch sử đích thực chứa đựng những bài học tựa như những kho báu, mặc dù, trong một số trường hợp, kho báu không dễ phát hiện, và khi được tìm ra lại chẳng đáng kể về số lượng, đã cạn kiệt, phần cốt lõi đã teo tóp và hầu như chẳng bõ công cạy cục tìm tòi. Điều đó có đúng với lịch sử của tôi hay không, tôi không giỏi đánh giá cho lắm. Đôi khi tôi nghĩ có thể câu chuyện của mình có ích cho ai đó, có thể đem lại sự thú vị cho người khác, nhưng người đời có sự đánh giá của riêng mình. Được ít người biết đến, sau nhiều năm trôi qua, và với việc sử dụng một vài cái tên giả, tôi không sợ mạo hiểm, và tôi sẽ tiết lộ với các bạn những gì tôi thậm chí không tâm sự với ngay cả người bạn thân nhất của mình. Cha tôi là một mục sư ở miền Bắc nước Anh, người đáng được tất cả những ai biết đến kính nể. Thời trai trẻ, ông sống khá thoải mái bằng thu nhập từ công việc của mình và chút sản nghiệp riêng. Mẹ tôi, người phụ nữ kết hôn với ông bất chấp sự phản đối của gia đình, là con gái của một địa chủ, và là một người ngoan đạo. Chẳng ích gì khi nói với bà rằng nếu trở thành vợ của một mục sư thì bà sẽ phải từ bỏ cỗ xe ngựa, cô hầu phòng, và tất cả những thứ xa xỉ, thanh nhã của sự giàu sang, điều mà đối với bà ít quan trọng hơn nhiều so với những thứ thiết yếu trong cuộc sống. Một cỗ xe ngựa và một cô người hầu tiện lợi thật đấy, nhưng, ơn Trời, bà có đôi chân để tự bước đi, có đôi tay để tự làm được những việc cần thiết của cá nhân. Một ngôi nhà đẹp và những mẫu đất không phải là những thứ chẳng đáng giá một xu, nhưng bà thích sống dưới mái nhà tranh cùng với Richard Grey hơn là sống trong một cung điện với bất cứ người đàn ông nào khác trên đời này. Biết rằng tranh cãi, phản đối chẳng ích gì, cha của bà sau một thời gian dài, đã nói với đôi uyên ương rằng nếu thích thì họ cứ việc lấy nhau, nhưng, nếu như vậy, thì con gái của ông sẽ không được hưởng một mẩu của nả nào từ gia đình. Ông cụ hy vọng tuyên bố đó có thể dập tắt ngọn lửa tình yêu nồng nàn trong trái tim đôi trẻ, nhưng ông đã nhầm. Cha tôi biết quá rõ rằng giá trị vượt trội không dễ nhận thấy của mẹ tôi chính là kho báu ở trong con người bà và nếu bà ưng thuận về xây đắp tổ ấm của ông thì ông sẽ hân hoan đón nhận bà với bất cứ điều kiện nào. Trong khi đó, mẹ tôi thích lao động bằng đôi bàn tay của mình hơn là phải chia tay người đàn ông mà bà đã đem lòng yêu, người mà bà tình nguyện đem lại hạnh phúc, khi mà cả trái tim và tâm hồn của hai người đã hòa làm một. Vậy là tài sản thừa kế của bà đã làm căng cái ví của người chị gái khôn ngoan hơn, người đã kết hôn với một vị quan thái thú, còn bà đi chôn vùi bản thân trong ngôi nhà đơn sơ của vị mục sư giữa những ngọn đồi trong sự ngạc nhiên và thương hại của tất cả những người quen biết. Bất chấp tất cả những chuyện đã xảy ra, dù tính cách mạnh mẽ của mẹ tôi và những ý thích nhất thời của cha tôi, tôi tin rằng bạn tìm khắp cả nước Anh này cũng chẳng thể tìm nổi một đôi vợ chồng nào hạnh phúc hơn cha mẹ tôi. ... Mời các bạn đón đọc Người Gia Sư của tác giả Anne Brontë.
Tỉnh Mộng
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Tỉnh Mộng của tác giả Hồ Biểu Chánh. Bà phủ Tiên góa chồng chỉ có một gái là Yến Tuyết xinh đep và đoan trang. Yến Tuyết có người anh con dì là Trường Xuân, trước làm thông ngôn, tham giàu lấy người vợ xấu xí, rồi xin thôi việc ra làm hội đồng địa hạt. Yến Tuyết ngây thơ bị Trường Xuân dùng những lời ong bướm gợi tình, nên thất tiết và mang thai. Sợ chuyện đổ bể thì mang tai tiếng và có hại trong việc tranh chức cai tổng, Trường Xuân muớn Kỳ Tâm làm nôm (là người nhận một số tiền đền bù để làm chồng một cô gái chửa hoang ). Kỳ Tâm vốn là con một ông cả giàu có lớn, vì gia đình suy sụp phải bỏ học, lại bị vị hôn thê phụ bạc nên chán ngán nhâm tình. Chàng nhận làm nôm để giúp mẹ con bà phủ khỏi mang tiếng xấu và để có dịp hiểu đời thêm, chớ không nhận tiền. Kỳ Tâm bằng lòng nhận điều kiện của Yến Tuyết là chỉ đóng vai chồng hờ và điều kiện của Trường Xuân là phải ra khỏi gia đình bà Phủ bất cứ lúc nào khi có yêu cầu. Chàng chỉ đòi hỏi một điều là được biết chuyện tình giữa Trường Xuân và Yến Tuyết. Trường Xuân tưởng nhờ người nôm tạm để về sau còn đi lại với Yến Tuyết, không ngờ từ khi thất thân với Trường Xuân, nàng khinh bỉ chàng và luôn luôn lánh mặt. Kết quả ra sao mời bạn đọc tiếp... Tỉnh mộng *** Tóm tắt Tỉnh Mộng là một tiểu thuyết hiện thực của nhà văn Hồ Biểu Chánh, được xuất bản năm 1937. Tác phẩm kể về cuộc đời và tình yêu của ba nhân vật chính là Yến Tuyết, Kỳ Tâm và Trường Xuân. Yến Tuyết là một cô gái xinh đẹp và đoan trang, nhưng lại ngây thơ và thiếu hiểu biết. Cô bị Trường Xuân, người anh con dì của mình, dụ dỗ và thất tiết. Trường Xuân là một người đàn ông tham lam và ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến bản thân. Anh ta đã lợi dụng sự ngây thơ của Yến Tuyết để thỏa mãn dục vọng của mình. Kỳ Tâm là một chàng trai có học thức và phẩm hạnh. Anh ta nhận làm nôm cho Yến Tuyết để giúp cô thoát khỏi tai tiếng. Kỳ Tâm yêu Yến Tuyết ngay từ lần đầu tiên gặp gỡ, nhưng anh ta biết rằng tình yêu của mình là vô vọng. Cuối cùng, Trường Xuân đã bị bà Phủ đuổi ra khỏi nhà. Yến Tuyết đã sinh con cho Kỳ Tâm, nhưng cô vẫn không thể quên được Trường Xuân. Kỳ Tâm đã trở thành người chồng hiền lành và yêu thương Yến Tuyết hết mực. Anh ta đã giúp Yến Tuyết vượt qua nỗi đau tinh thần và tìm lại hạnh phúc. Cảm nhận Tỉnh Mộng là một tiểu thuyết có giá trị nhân văn sâu sắc. Tác phẩm đã phản ánh chân thực cuộc sống của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam. Tác phẩm cũng ca ngợi tình yêu chân thành, thủy chung, và tinh thần đấu tranh cho hạnh phúc của con người. Tác phẩm được viết bằng ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, nhưng vẫn mang đậm chất Nam Bộ. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật của Hồ Biểu Chánh cũng rất thành công. Đánh giá Tỉnh Mộng là một tiểu thuyết đáng đọc của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Tác phẩm đã để lại trong lòng độc giả nhiều ấn tượng sâu sắc về cuộc đời và số phận của những con người trong xã hội phong kiến Việt Nam. Một số điểm hạn chế của tác phẩm Cốt truyện khá đơn giản, chưa có nhiều điểm nhấn. Kết thúc truyện có phần hơi dễ đoán. Tuy nhiên, những hạn chế này không làm giảm đi giá trị của tác phẩm. Tỉnh Mộng vẫn là một tiểu thuyết xuất sắc của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Mời các bạn mượn đọc sách Tỉnh Mộng của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Hai Khối Tình
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Hai Khối Tình của tác giả Hồ Biểu Chánh. “Ái tình là ý nghĩa của sự sống. Ngày nay khối tình của em đã tan rã, thế thì em còn sống làm chi nữa, mà chị khuyên em phải sống.” “Sự sống còn nhiều mục đích khác cao thượng lắm, chớ nào phải sống đặng say sưa với ái tình mà thôi đâu.” “Em không có mục đích nào khác nữa.” “Em còn trẻ, em chưa lịch duyệt thế cuộc, nên em mới nói như vậy. Trong một ít nữa rồi em sẽ thấy sự sống có nhiều mục đích tốt đẹp nồng nàn hơn ái tình thập bội.” *** Cảm nhận Hai Khối Tình là một tiểu thuyết hiện thực của nhà văn Hồ Biểu Chánh, được xuất bản năm 1936. Tác phẩm kể về cuộc đời và tình yêu của hai nhân vật chính là cô Cúc và ông trạng sư Xương. Cô Cúc là một cô gái xinh đẹp, tài giỏi, có chí tiến thủ. Cô đã thi đậu bằng Thành chung, trở thành người phụ nữ đầu tiên trong gia đình đỗ đạt. Cô có ước mơ trở thành nhà văn, viết tiểu thuyết để đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ. Ông trạng sư Xương là một người đàn ông hào hoa, phong nhã, có học thức uyên bác. Ông rất quý mến cô Cúc, luôn giúp đỡ cô trong cuộc sống và học tập. Ông cũng là người có tư tưởng tiến bộ, ủng hộ quyền bình đẳng của phụ nữ. Tình yêu của cô Cúc và ông trạng sư Xương là một tình yêu đẹp, nhưng cũng gặp phải nhiều trắc trở. Vì những khác biệt về quan niệm sống và hoàn cảnh gia đình, họ đã phải chia tay nhau. Tiểu thuyết Hai Khối Tình đã phản ánh chân thực cuộc sống của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam. Tác phẩm cũng thể hiện tinh thần đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Đánh giá Hai Khối Tình là một tiểu thuyết có giá trị nhân văn sâu sắc. Tác phẩm đã phê phán xã hội phong kiến với những hủ tục lạc hậu, những bất công, áp bức đối với phụ nữ. Đồng thời, tác phẩm cũng ca ngợi tình yêu chân thành, thủy chung, và tinh thần đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ. Tác phẩm được viết bằng ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, nhưng vẫn mang đậm chất Nam Bộ. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật của Hồ Biểu Chánh cũng rất thành công. Tuy nhiên, tác phẩm cũng có một số hạn chế như: Cốt truyện khá đơn giản, chưa có nhiều điểm nhấn. Kết thúc truyện có phần hơi dễ đoán. Nhìn chung, Hai Khối Tình là một tiểu thuyết đáng đọc của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Mời các bạn mượn đọc sách Hai Khối Tình của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Ý Và Tình
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Ý Và Tình của tác giả Hồ Biểu Chánh. Triều, Xuân và Quan là 3 bạn thân cùng đang chuẩn bị thi bằng tú tài. Họ thân thiết với nhau đến độ ví mình là mai, lan, cúc, trước, ngặt vì chưa tìm được người thứ tư. Tuy là thâm giao nhưng mỗi người có một chí hướng: Triều quyết học cho mau xong để về quê lập gia đình và sống cuộc đời nông dân; Xuân mơ ước làm chuyện lớn nên quyết chi học cho tới nơi tới chốn, nhứt định không để vướng vít chuyện vợ con; Quan chỉ mong thi đậu rồi kiếm việc làm rồi lập gia đình. Xuân quen cô thợ may Quế, một cô gái tân học. Cô nhập vào nhóm bạn "mai, lan, cúc, trước" và thường gặp nhau để tranh luận. Ðến kỳ thi tú tài, Quan thi đậu và được bổ nhiệm làm quan, đúng như ý muốn. Trước và Xuân thi rớt. Trước về quê cưới vợ và lo canh tác ruộng của gia đình. Xuân quyết chi đi Tây học tiếp với hy vọng thành tài sẽ trở về giúp nước. Trong thời gian Xuân học ở Pháp thì Quế và Quan yêu nhau và lấy nhau, sống trong hạnh phúc. Sau khi học xong và lấy được bằng bác vật nông học Xuân về nước và tìm cách kêu gọi nông dân và chủ điền đoàn kết, học hỏi thêm kỹ thuật mới để tiến bộ, nhưng thất bại. Trong khi đó Xuân nhìn thấy hạnh phúc và thành công của bạn. Các bạn cố giúp để lôi Xuân về thực tế. Họ có thành công hay không, mời các bạn đọc tiếp....... Một kết thúc khá cảm động và lý thú mà Hồ Biểu Chánh đã xây dựng thành công trong chuyện „Ý và tình". *** Tóm tắt Ý Và Tình là một tiểu thuyết của nhà văn Hồ Biểu Chánh, được xuất bản năm 1936. Tác phẩm kể về cuộc đời và sự nghiệp của nhân vật Xuân, một thanh niên trí thức có chí hướng lớn. Xuân, Triều, và Quan là ba người bạn thân cùng học chung trường. Mỗi người có một chí hướng riêng: Triều muốn về quê lập gia đình và sống cuộc đời nông dân; Quan muốn thi đậu rồi kiếm việc làm rồi lập gia đình; còn Xuân mơ ước làm chuyện lớn nên quyết chí học cho tới nơi tới chốn. Triều và Quan đều thi đậu tú tài và có được cuộc sống như mong muốn. Triều về quê lập gia đình và trở thành một nông dân mẫu mực. Quan được bổ nhiệm làm quan và sống trong vinh hoa phú quý. Xuân thi rớt tú tài nhưng vẫn quyết chí đi Tây học để tiếp tục học hành. Trong thời gian Xuân học ở Pháp thì Quế, một cô thợ may mà Xuân quen biết, và Quan yêu nhau và lấy nhau. Sau khi học xong và lấy được bằng bác vật nông học, Xuân về nước và tìm cách giúp đỡ nông dân. Tuy nhiên, Xuân gặp phải nhiều khó khăn và thất bại. Anh nhận ra rằng, chỉ có lý thuyết thôi là chưa đủ, cần phải có thực tế mới có thể giúp ích cho người dân. Cuối cùng, Xuân quyết định trở về quê và giúp đỡ Triều phát triển ruộng vườn. Xuân cũng nhận ra rằng, tình yêu và hạnh phúc gia đình cũng là một điều quan trọng trong cuộc sống. Cảm nhận Ý Và Tình là một tiểu thuyết có giá trị nhân văn sâu sắc. Tác phẩm đã phản ánh chân thực cuộc sống của những người trí thức trong xã hội phong kiến. Tiểu thuyết cũng mang đến nhiều thông điệp sâu sắc về cuộc sống, về tình yêu, và tình cảm gia đình. Tác giả Hồ Biểu Chánh đã phê phán mạnh mẽ xã hội phong kiến với những hủ tục lạc hậu, những bất công, áp bức. Đồng thời, tác giả cũng ca ngợi tình yêu chân thành, thủy chung, và tình cảm gia đình thiêng liêng. Tác phẩm được viết bằng ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, nhưng vẫn mang đậm chất Nam Bộ. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật của Hồ Biểu Chánh cũng rất thành công. Đánh giá Ý Và Tình là một tiểu thuyết xuất sắc của Hồ Biểu Chánh. Tác phẩm đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả. Tiểu thuyết được đánh giá 4/5* vì những điểm mạnh sau: Giá trị nhân văn sâu sắc Mang đến nhiều thông điệp sâu sắc về cuộc sống, về tình yêu, và tình cảm gia đình Ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật thành công Tuy nhiên, tác phẩm cũng có một số hạn chế sau: Cốt truyện khá đơn giản, chưa có nhiều điểm nhấn Kết thúc truyện có phần hơi dễ đoán Mời các bạn mượn đọc sách Ý Và Tình của tác giả Hồ Biểu Chánh.