Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Gia Đình

Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Gia Đình của tác giả Phan Thúy Hà. Cách viết của “Gia đình” - Nguyễn Lương Hải Khôi Khái niệm trung tâm để chúng ta đọc tác phẩm “Gia đình” của Phan Thúy Hà là “chấn thương”. Nó là sự tiếp nối hai tác phẩm “Đừng kể tên tôi” (2017) và “Tôi là con gái của cha tôi” (2019).  “Đừng kể tên tôi” là tiếng nói của những người lính miền Bắc, còn “Tôi là con gái của cha tôi” là tiếng nói của những người lính miền Nam, tất cả họ, dù bước vào cuộc chiến vì nghĩa vụ hay vì  lý tưởng, đều là những số phận nhỏ bé, bị thời cuộc xé nát trong cuộc chiến Nam Bắc tàn khốc. Còn “Gia đình” là một mảnh của lịch sử cuộc Cách mạng ruộng đất của phong trào cộng sản ở miền Bắc Việt Nam thập niên 1950. Tất cả các nhân chứng trong sách “Gia đình” đều mang một chấn thương tinh thần không thể chữa lành. Nhân chứng Trần Lệ: Mười lăm tuổi, tôi là đứa trẻ sợ hãi. Đêm, bị nhốt trong chuồng trâu. Chân giẫm lên phân. Các thanh chắn chuồng trâu thưa, có thể chui ra ngoài nhưng tôi không dám. Quá nửa đêm, dân quân không canh nữa, tôi vẫn sợ. Tôi đã tiểu ra quần. Nỗi khiếp sợ năm mười lăm tuổi. Nay tám mươi hai tuổi tôi vẫn là ông già sợ hãi. Tôi không dám thắc mắc một điều gì. Muốn viết đôi điều cho con cháu biết về cha ông mình. Cầm bút lên tôi lại run. Nhân chứng Nguyễn Bút: Hai chị dâu con bác kéo xác chị đi chôn. Chôn ở đâu, không ai nhớ nữa. Nỗi khiếp sợ khiến cho các chị không còn nhớ gì nữa. Các chị chỉ nhớ lúc đó không ai còn sức nên không kéo được đi xa, cũng không đào được sâu. Nếu tôi ở lại, chị em dựa vào nhau. Hay tôi cũng chết giống như chị. Chị Loan dằn vặt. Giá hôm đó giữ chị Liên ở lại, đừng để cho chị về thôn Cầu. Nếu lường trước được chuyện xảy ra thì cha mẹ tôi đã bỏ lại tất cả, đưa các con đi khỏi thôn Cầu ngay từ đầu. Nếu, thì, làm sao ra nông nỗi mười một cái chết đau thương như vậy trong nhà bác Cả, bác Hai và nhà tôi. Văn học như là vi-lịch sử Tác giả Phan Thúy Hà chia sẻ rằng trong Lời cuối sách của “Gia đình”, cũng giống như hai tác phẩm trước, các nhân vật đều là người thật, tên của nhân vật cũng là tên người thật, câu chuyện của họ trong tác phẩm là sự thật trong ký ức của họ. Như vậy, ở đây, tác giả không hư cấu mà chỉ viết lại lời kể từ điểm nhìn của nhân chứng. Chị cho biết, có câu chuyện trong tuyển tập này, tuy chỉ dài hai trang nhưng chị phải đi gặp tới bốn người, lắng nghe họ để ráp nối các sự kiện và dựng lại cho câu chuyện được đầy đủ. Như vậy, tác phẩm còn là một công trình khảo sát xã hội nữa. Không phải là khảo sát ở quy mô lớn, mà là khảo sát số phận những con người cụ thể. Bằng cách này, Phan Thúy Hà làm cho nghệ thuật và khoa học của “vi lịch sử” gặp nhau. “Vi lịch sử” (micro history) là một nhánh mới của sử học gần đây. Sử học truyền thống phục dựng thời đại đã qua chủ yếu bằng cách khảo sát những nhân vật lớn, những anh hùng, những nhà tư tưởng, nhà kinh tế lớn, những trận đánh, những hiệp ước xoay chuyển thời đại… Vi lịch sử phục dựng diện mạo của thời đại đã qua bằng cách khảo sát những con người nhỏ bé, những số phận hoàn toàn vô nghĩa, những con người “không tên, không tuổi, không tiền” của những thời đại đã qua. Vi lịch sử chọn cách tiếp cận này vì đối với nó, những số phận nhỏ bé này, những con người bên lề này lại cung cấp những dữ liệu để sử gia nhìn thấy những phiên bản khác của thời đại cũ, những góc khuất của lịch sử mà những “nhân vật lớn” của sử học truyền thống không cho ta thấy được. “Gia đình” (cũng như “Đừng kể tên tôi” và “Tôi là con gái của cha tôi”) của Phan Thúy Hà cũng là một dạng thức nghiên cứu về chấn thương tinh thần của những con người nhỏ bé, đứng bên lề dòng thác khốc liệt của lịch sử, số phận bị quyết định bởi sự lựa chọn lịch sử của những “nhân vật lớn”. Nhưng qua đời sống tinh thần của họ, chúng ta nhìn thấy những đường nét, màu sắc và hình khối khác của bức tranh lịch sử, khác hoàn toàn với những đường nét, màu sắc và hình khối đứng ở trung tâm của bức tranh lịch sử “cỡ lớn” được khắc họa thông qua những nhân vật “lớn”, nhân vật “trung tâm” của thời đại, tức những chính trị gia, những tướng lĩnh quân sự. Thậm chí, những mảng màu trong bức tranh lịch sử được phục dựng từ những con người nhỏ bé này có thể trở thành điểm trung tâm của bức tranh đã qua, tùy theo điểm nhìn của người xem. Viết văn như sắc thuốc: Lịch sử tự cất tiếng nói Viết văn bằng cách kết hợp giữa nghệ thuật và khoa học lịch sử (vi lịch sử), Phan Thúy Hà không phải là, hoặc không chỉ là “nhà văn”. Chị là một “tác giả”. Cách viết của chị khi xây dựng tác phẩm này giống như hái một nắm lá về sắc thuốc. Trong y học cổ truyền, sắc thuốc là cho lá thuốc vào nồi ấm đất, đun sôi để tạo ra nước cốt. Người ta không đun lửa quá to, chỉ đun lửa nhỏ, để nước sôi dần sao cho không bao giờ trào ra khi sôi. Người sắc thuốc không tự tay tạo ra thuốc, không tác động vào nguyên liệu bằng kỹ thuật tinh xảo. Họ chỉ tạo điều kiện để thuốc tự ra đời. Nói như vậy không có nghĩa “Gia đình” không phải là một sáng tạo văn học của tác giả, ngược lại, đó là một sáng tạo độc đáo. Tác giả sử dụng giọng văn triệt tiêu mọi cảm xúc chủ quan của chính mình. Trong “Gia đình”, chúng ta không thấy hình ảnh tác giả hiện lên trong câu chuyện, dù đó là cảm xúc hay quan điểm của chị, mà chỉ có nhân vật người thật đang kể lại những chấn thương tinh thần của họ. Điều đó có nghĩa là, tác giả từ bỏ vai trò của “người sáng tạo” theo cách hiểu của văn học truyền thống, để trở thành một “nền tảng” (“platform”) nơi sự thật tự nó phơi bày, hay, trở thành một cửa ngõ để những mảnh đời sống tinh thần đang ẩn hiện đâu đó trong lòng xã hội được đi qua để hiện diện một cách trực quan và thuần khiết trước mắt cuộc đời. Cánh cửa mở ra, không phải để lôi kéo sự chú ý của người khác đến mình, mà chỉ để những gì đằng sau nó hiện ra trước ánh sáng. Câu chuyện lịch sử diễn ra cách đây bảy thập niên, do đó, không được phản ánh như là nhận thức của tác giả, dù là nhận thức chủ quan hay khách quan, mà chỉ như là những dữ liệu khách quan, cụ thể là những dữ liệu khách quan về những chấn thương còn đọng lại trong tinh thần của những con người nhỏ bé bị cơn cuồng phong đỏ xé nát. Một mảnh nhỏ của lịch sử tự nó cất tiếng nói. Nói cách khác, người sắc thuốc là người vụng về, tác giả không miêu tả tâm lý nhân vât, không sắp xếp câu chuyện bằng những kỹ thuật thời thượng, nhưng cái vụng về này là cái vụng về lớn của tài năng lớn, không để cái tôi của mình đúc khuôn hình ảnh của cuộc đời. Cách viết này không chỉ làm cho nhà văn không tự quyết định cách hiểu của độc giả thông qua thẩm quyền áp đặt của người viết, nó còn làm cho tác phẩm không phải là một thông điệp về giáo dục, đạo đức hay thẩm mỹ. Ở “Gia đình”, tác phẩm không được tạo ra như một khách thể thẩm mỹ (aesthetic object) để người đọc, người xem thưởng thức như một đối tượng tự nó hàm chứa sẵn các thông điệp và giá trị, và do đó, nhiệm vụ của người đọc, người xem cũng không phải là khám phá được các giá trị và thông điệp đó, thông qua việc giải mã các kỹ thuật viết của tác giả. Người đọc không cần có nỗi lo mình không đủ tầm về kinh nghiệm hay tri thức để hiểu tác giả và tác phẩm. Bởi lẽ người đọc không có nhiệm vụ hiểu những thông điệp có sẵn, mà người đọc giống như cái trống, còn tác phẩm như bàn tay vỗ trống. Ý nghĩa và giá trị của tác phẩm thông qua một mảnh lịch sử diễn ra cách đây hơn bảy thập niên giống như âm thanh được tạo ra từ sự tương tác giữa cái trống và bàn bay. Ý nghĩa vốn không có sẵn trong tác phẩm. Mỗi người đọc tạo ra một hình ảnh về lịch sử của riêng mình. Cách viết của “Gia đình”, do đó, làm cho giá trị của nó không dừng lại ở địa hạt văn chương, nói đúng hơn, nó không phải là văn chương theo cách hiểu truyền thống. Chúng tôi không biết tên để gọi thể loại của tác phẩm, chỉ biết rằng, đó là một tác phẩm để chúng ta nhận thức về lịch sử một cách khách quan. Chú thích Một trong những tác phẩm sử học tiên phong của vi lịch sử (micro history) là “Phô mai và côn trùng” (“The Cheese and the Worms”) của Carlo Ginzburg năm 1976. Tác giả nghiên cứu cuộc đời của một người làm phô mai tên là Menocchio (1532–1599), sống ở một ngôi làng hẻo láng và không biết chữ. Tác phẩm khảo sát niềm tin tôn giáo và tưởng tượng của người nông dân làm phô mai về vũ trụ, phác thảo diện mạo của văn hóa đại chúng ở châu Âu đương thời. *** “Gia đình” (Phan Thúy Hà) – Gió bụi một thời ai oán By Chơn Linh Ở thế kỷ 21, khi chứng kiến một cá nhân hay một gia tộc giàu có, đứng đầu một tập đoàn hay sở hữu một khối tài sản khổng lồ, ai trong chúng ta cũng trầm trồ ngưỡng mộ và ao ước một ngày nào đó mình sẽ được vinh hoa phú quý như họ. Nhưng ngược dòng thời gian trở về miền Bắc Việt Nam cách đây tròn 70 năm, nhà cửa, đồn điền, tiền của, vàng bạc hay tài sản trong nhà từng là thứ khiến tầng lớp giàu có thời bấy giờ phải kinh hồn bạt vía đến nỗi họ phải ước ao giá như mình đừng giàu, giá như mình chỉ là thành phần nông dân bần cùng mạt hạng trong xã hội. Đó là câu chuyện có thật nằm trong một góc khuất lịch sử của nước nhà thường ít được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Có thể giống như mình, bạn đã từng loáng thoáng nghe qua về cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam, nhưng còn chi tiết như thế nào thì không phải ai cũng biết và chủ tâm tìm hiểu, nhất là thế hệ trẻ bây giờ. Trong chương trình Lịch sử phổ thông, cải cách ruộng đất là một “khoảng trống” bị bỏ ngỏ trong suốt nhiều năm qua vì những lý do nhạy cảm. Ngay cả trong lĩnh vực xuất bản, những cuốn sách nào đề cập tới mặt trái của cuộc cải cách này cũng gặp phải vấn đề kiểm duyệt và bị thu hồi lại sau khi phát hành, thậm chí nhà văn phải trả giá đắt. Mãi cho đến khi đọc được tác phẩm “Gia đình” của tác giả Phan Thúy Hà, mình mới thấy được những sóng gió kinh hoàng của một thời ai oán. Những thông tin mình sắp chia sẻ không phải là thông tin lịch sử khô khan khó nuốt, mà mình tin ai cũng nên biết tới sự kiện này. Nói đến nạn đói năm Ất Dậu 1944-1945, hầu như chúng ta ai cũng biết vì đó là một thông tin chấn động chúng ta được học trong môn Lịch sử, với gần 2 triệu người Việt Nam chết đói ở miền Bắc Việt Nam do hậu quả của cuộc chiến tranh tại Đông Dương. Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam cũng là một sự kiện chấn động như thế xảy ra trong những năm 1953-1956 do Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện. Mục đích của chương trình là nhằm phân chia lại ruộng đất nông thôn, xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các thành phần phản quốc (theo Pháp, chống đất nước), phản động (chống chính quyền) như địa chủ phản cách mạng, Việt gian, cường hào cộng tác với Pháp,… Những người theo chủ nghĩa cộng sản cho rằng họ phải thực hiện cuộc cải cách này để thiết lập lại trật tự và công bằng trong xã hội, đồng thời thiết lập nền chuyên chính vô sản nhằm tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách nhanh chóng. Chương trình cải cách ruộng đất ở Việt Nam được dựa theo chương trình thổ địa cải cách ở Trung Quốc (1946-1949) với sự cố vấn trực tiếp của các cán bộ đến từ Trung Quốc. Trong 3 năm đầu, cuộc cải cách đã phân chia lại ruộng đất công bằng cho đa số nông dân miền Bắc, xóa bỏ giai cấp địa chủ phong kiến. Nhưng trong giai đoạn sau từ giữa năm 1955, việc vội vã nhân rộng mô hình cải cách tới nhiều địa phương và cuộc “chạy đua KPI” thành tích đã khiến cho việc thi hành trở nên mất kiểm soát và dẫn tới việc xét xử địa chủ vô tội vạ. Hậu quả của việc thi hành sai lầm đó là có hàng loạt địa chủ bị đem ra đấu tố và chết oan, hàng loạt gia đình địa chủ phải tan cửa nát nhà, con em thuộc thành phần địa chủ bị kỳ thị rẻ rúng, cùng vô số câu chuyện bi đát thương tâm mà chúng ta khó có thể tưởng tượng được ở thời hiện đại. Trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng ấy, không khí tang thương và tiếng khóc thê lương bao trùm các vùng nông thôn ở miền Bắc Việt Nam, khiến cho lòng dân phẫn nộ và mất niềm tin vào chính quyền. Kết cục là, đến đầu năm 1956, cuộc cải cách bị đình chỉ và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải tổ chức chiến dịch nhận khuyết điểm và sửa sai. Ngay chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rơi nước mắt khi nói về những sai lầm trong giai đoạn ấy. Mình biết tới tác giả Phan Thúy Hà qua cuốn sách Qua khỏi dốc là nhà mà mình đọc từ cuối năm 2021. Sau đó tác giả có chia sẻ bài review sách của mình trên Facebook cá nhân và mình được một người bạn gửi link cho xem. Từ thời điểm đó, mình mới theo dõi và tìm hiểu thêm về những cuốn sách khác của chị rồi mua luôn đủ bộ 5 cuốn. Đọc sách của chị, mình bị sốc toàn tập, sốc từ cuốn này qua cuốn khác bởi những sự thật trần trụi đến đau đớn. Như cuốn Gia đình này là tập hợp rất nhiều câu chuyện có thật được tác giả ghi chép lại về những nhân chứng sống từng trải qua cuộc cách mạng ruộng đất ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Đây cũng là cuốn sách khiến mình sốc nhiều nhất bởi những câu chuyện quá đỗi thương tâm, đến mức có những lúc tim mình như thắt lại khi đọc sách và phải dừng lại vì không thể đọc tiếp được nữa. Có thể nói tác giả Phan Thúy Hà như một thư ký của lịch sử, người không quản ngại thời gian và công sức đi dọc khắp các nẻo đường đất nước, tìm gặp những nhân vật từng trải qua các giai đoạn lịch sử của nước nhà ở cả hai phía chiến tuyến để ghi chép lại những câu chuyện cho thế hệ sau. Nếu không có tiếng nói của chị, có lẽ những câu chuyện này đã mãi mãi bị chôn vùi trong lớp trầm tích của lịch sử, bao nhiêu người đạp lên nó mà đi tới tương lai nhưng chưa bao giờ ngoảnh lại để thấy những gì cha ông ta đã trải qua. Để biết được tầng lớp địa chủ giàu có một thời đã trải qua những bi kịch thảm khốc như thế nào, mình xin điểm qua một số câu chuyện mình ấn tượng trong sách qua giọng kể của mình để độc giả hình dung (vì trích lại nguyên văn thì khá dài). 1. Một địa chủ bị tịch thu hết gia sản ruộng đất, phải vào rừng chặt nứa để bán kiếm sống qua ngày. Khi gánh nứa trên đường về nhà, trong cơn đói rét bủn rủn chân tay ông ghé nhà một người dân ven đường xin một bát cơm. Do nhà đó mới ăn cơm xong nên họ mới thương tình nấu một nồi cơm mới cho ông. Nhưng xui rủi thay, ông lại vô trúng nhà dân quân đang họp và bị một dân quân phát hiện khi đi ra bếp. Người chủ nhà sợ hãi phải dẹp bỏ nồi cơm và đuổi người địa chủ ra đường ngay lập tức. Sáng hôm sau, người ta phát hiện xác ông nằm chết co quắp bên vệ đường, chỉ cách nhà vài cây số. 2. Một em học sinh học xong cấp ba nộp đơn vào trường Thủy Lợi. Khi giấy gọi đi học gửi về xã, xã ghi lý lịch mật gửi ra tận trường: “Cha làm lý trưởng. Ông làm chánh tổng. Ba đời ôm chân đế quốc. Đề nghị không xét tuyển”. Không được đi học, em phải ở nhà làm nông dân hợp tác xã. Trong một buổi tối sinh hoạt, một người đứng lên chỉ thẳng mặt vào em và người em họ: “Hai đồng chí không được như đống phân. Đống phân còn có giá trị bón ruộng cho lúa tăng năng suất nuôi bộ đội đánh giặc”. Là con địa chủ thời bấy giờ đồng nghĩa với việc bị nhục mạ cũng phải im lặng. Con cái nhà địa chủ mỗi khi ra đường là bị đánh, đi học cũng bị đánh. Con gái thì bị giật tóc, gõ đầu, cấu véo, bị sỉ nhục là con địa chủ. Mỗi buổi đi học của các em đều như địa ngục trần gian, khi tan học là bị rượt đánh đến tận nhà. Một em bị bạn học bắt phải ăn khế chấm phân trâu, không ăn là bị đánh chết. Mạng sống của con em nhà địa chủ lúc bấy giờ không bằng một con chó. 3. Một gia đình thuộc tầng lớp trung nông lớp dưới, tức chưa được xếp vào hàng trung nông và cũng không phải bần nông, nhưng do người cha bị bắt nên cả gia đình cũng bị liên lụy. Dù trong nhà chẳng có của cải gì nhiều nhặn để tịch thu, dân quân thấy trong nồi có cơm nguội cũng vốc ăn hết sạch rồi lấy cả cái sành đựng nước tiểu. Bị tịch thu căn nhà, gia đình này phải phải sống ở một túp lều ven đường tàu, mỗi ngày phải đi hái rau má và bắt cua đi bán kiếm sống. Có lần dân quân bắt gặp người mẹ cầm giỏ cua trên đường, bèn giật lấy, đổ cua ra bên đường rồi giẫm nát. 4. Một địa chủ nổi tiếng nhân hậu trong vùng có đất đai ruộng vườn cò bay thẳng cánh. Vào năm cải cách ruộng đất, ông bị bắt giam, bị treo ngược chỏng đầu rồi bị dọng đầu ầm ầm xuống đất. Họ dọng như thế từ sáng tới trưa, từ trưa đến tối, với lý do nếu ông có nuốt vàng trong bụng thì sẽ nhả ra. Sau đó ông bị bắt bỏ tù, về sau bệnh mà chết. Những năm nạn đói trước đó, chính ông là người cứu giúp người dân trong vùng qua cơn đói, nhưng cũng chính những người dân ấy sau này lại tham gia đấu tố và chỉ trích ông trong cuộc cải cách ruộng đất. Câu chuyện này được người cháu của ông kể lại. Sau khi gia đình ông bị tịch thu hết tài sản ruộng đất, hai mẹ con người cháu này phải vào núi ở và tự khai khẩn làm ruộng kiếm miếng ăn qua ngày. Khi ruộng lúa đã gần đến ngày thu hoạch, sáng sớm người mẹ ra ruộng coi có thể gặt được chưa thì sững sờ phát hiện ai đó đã tháo đập và nước dâng lên thành hồ, dìm hết mớ lúa chìm trong biển nước. Hóa ra người ta vẫn luôn theo dõi gia đình họ và chỉ chờ đến ngày này, khi lúa sắp thu hoạch mới ra tay. Tại sao họ lại nhẫn tâm dồn những gia đình địa chủ vào đường cùng đến thế? 5. Trong cải cách ruộng đất có một hoạt động gọi là đấu tố địa chủ. Các địa chủ trong làng sẽ bị bắt ra giữa làng hay sân đình, bị trói vào cột hay bị chôn dưới hố, dưới sự chứng kiến của các cán bộ cải cách cùng người dân trong làng. Mỗi người dân khi đó sẽ tham gia tố khổ, kể rằng đời sống của họ đã khó khăn khổ sở ra sao trong khi tầng lớp địa chủ sung sướng ăn trắng mặc trơn thế nào. Có những cuộc đấu tố thậm chí người tố khổ còn nhổ nước bọt hay ném đá địa chủ, để rồi kết cục sau cùng là địa chủ đó sẽ bị dân quân xử bắn nếu tội lỗi bị tố chất chồng. Chuyện tố khổ không chỉ có ở người lớn, mà còn được đưa vào môi trường học đường. Mỗi tổ trong lớp vừa là tổ học tập vừa là tổ tố khổ. Vào giờ sinh hoạt, mỗi em học sinh phải nghĩ ra nỗi khổ trong gia đình mình để quy tội cho giai cấp địa chủ. Thời đó thì nhà nào cũng đói cũng rét, kể mãi cũng chỉ có nhiêu đó chuyện thì bị cán bộ hiệu đoàn kiểm điểm là thiếu nghiêm túc. Cực chẳng đã, có những em phải kiếm chuyện để tố như: “Mẹ tôi chết là do ra ruộng định vớt trứng ếch lại vớt nhầm trứng cóc luộc ăn ngộ độc chết. Tội này do địa chủ độc ác gây ra”. Thậm chí, hiệu đoàn còn chuẩn bị sẵn những bài tố khổ để “bồi dưỡng” cho các em học sinh học thuộc lòng. 6. Ông nội một nhân vật là một vị quan đại thần triều Nguyễn, vốn nổi tiếng thanh liêm và từng bênh vực cho rất nhiều người nghèo trong những vụ kiện tụng. Trước khi mất, ông có được đúc tượng và bức tượng đó về sau được đặt trên bàn thờ kèm theo một nhành mai bằng bạc. Đó là nhành mai do vua ban cho ông vào năm ông đỗ tiến sĩ. Trong cuộc cải cách ruộng đất, bức tượng bị tịch thu và đem ra triển lãm như một thắng lợi của chiến dịch. Các bác các chú và cả gia đình nhân vật cho tới tận bây giờ vẫn còn ăn năn day dứt và cảm thấy có lỗi với tổ tiên mình khi để mất bức tượng thờ đó. 7. Cha một nhân vật từ một người làng chài tay trắng làm nên mà gây dựng cả sản nghiệp cho gia đình và trở thành một hộ giàu có trong vùng. Khi cải cách ruộng đất diễn ra, gia đình người này bị tịch thu hết ruộng đất tài sản. Người cha phải quỳ gối giữa trời mưa cho từng người nông dân lên đấu tố, trong đó có những người từng chịu ơn ông. Ngay cả bà nội của nhân vật đã 92 tuổi cũng bị phạt đứng cúi đầu cả ngày và bị bỏ đói mấy ngày liền khiến cho thần kinh đờ đẫn. Trước đây, mỗi năm nhà có giỗ, gia đình ông thường mổ bò, mổ lợn mời cả làng tới ăn. Nhưng giờ đây tới ngày giỗ, ông thậm chí còn không thể làm một bát cơm cúng cho bố của mình. Phẫn uất và bất mãn, ông quyết định treo cổ tự vẫn. Trên đây chỉ là một số câu chuyện điển hình trong vô vàn những câu chuyện đã bị lãng quên trong lịch sử. Đã có không biết bao nhiêu địa chủ, quan lại thời phong kiến, tầng lớp trung nông giàu có thời bấy giờ gánh chịu nỗi oan khiên lịch sử, mất hết tất cả của cải tài sản mà cả đời tích lũy, mất hết cả những đất đai nhà cửa của tổ tiên bao đời, đến ngay cả nhà thờ họ hay bàn thờ tổ tiên cũng bị tàn phá hay chẻ ra làm củi, bị đem ra lợp mái chuồng bò chuồng lợn. Cho đến tận hôm nay, chưa có một con số thống kê chính thức nào được đưa ra về con số nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất, nhưng qua một số tài liệu của các học giả nước ngoài nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thì ước tính nó lên tới hàng ngàn cho đến chục ngàn trường hợp. Hỡi ôi, sự vinh hoa phú quý giàu sang tột bậc với những nhà cao cửa rộng sơn son thếp vàng, ruộng đồng cò bay thẳng cánh, đất đai bạc ngàn, thóc lúa đầy kho, vàng bạc đầy rương, người ở đầy nhà,… của một thời quá vãng và cũng là những thứ mà biết bao nhiêu người thời nay tới nằm mơ cũng ao ước có được, vậy mà chỉ là một cuộc phù du khói bụi khốc liệt ở một điểm đen của lịch sử. Vậy mới thấy, sự giàu sang ở mỗi thời đoạn lịch sử cũng mỗi khác và không ai biết được sự giàu có khi nào là họa hay là phước. Có biết bao người ở trên đỉnh giàu sang hôm trước mà hôm sau đã kẻ khóc người cười tử biệt sinh ly hay vướng vào vòng lao lý chôn vùi cả kiếp người về sau. “Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ,  Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây” (Truyện Kiều – Nguyễn Du) P/S 1: Bộ sách của tác giả Phan Thúy Hà hiện rất khó tìm trên các trang thương mại điện tử. Bạn đọc có thể liên hệ trực tiếp tác giả để đặt sách hoặc mua đủ bộ tại Sách Khai Minh. P/S 2: Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về những góc khuất của cuộc cải cách ruộng đất, bạn có thể tìm đọc/nghe những tác phẩm sau: Audiobook “Điện cô Tám” – Bùi Ngọc Phúc Sách “Đất mồ côi” – Cổ Viên (bút danh khác của Tạ Duy Anh) Sách “Đội gạo lên chùa” – Nguyễn Xuân Khánh Sách “Chuyện làng Cuội” – Lê Lựu Sách “Thời của thánh thần” – Hoàng Minh Tường Sách “Dưới chín tầng trời” – Dương Hướng Sách “Nước mắt một thời” – Nguyễn Khoa Đăng Sách “Biết đâu địa ngục thiên đường” – Nguyễn Khắc Phê … Mời các bạn mượn đọc sách Gia Đình của tác giả Phan Thúy Hà.

Nguồn: dtv-ebook.com

Đọc Sách

Côn Trùng
Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay của tác giả Lê Thị Hiệu (Hiệu Constant). Côn Trùng - một lối viết độc đáo về nhân tình cuộc sống và những mảng đời thực ngoài xã hội. Truyện giãi bày một cách xót xa và nuối tiếc, một cách dũng cảm và day dứt về một mối tình không bao giờ tàn lụi. Vẻ đẹp của mối tình không bao giờ được xã hội công nhận này vừa như ánh sáng lung linh soi rọi, vừa như loài côn trùng rỉ rả gặm nhấm; vừa làm hồi sinh cõi sống tinh thần, vừa làm héo úa vẻ đẹp của hạnh phúc. Truyện được chia làm 2 mảng: kể chuyện và tự sự. Tuy là tác phẩm đầu tay, nhưng tác giả đã chứng tỏ bút lực của mình tương đối rộng và hấp dẫn người đọc. Có lẽ có được bút lực này một phần là nhờ tác giả đã là một dịch giả trẻ, môi trường sống xê dịch từ Việt Nam sang Pháp và từ Pháp theo đường bay thường xuyên về quê nhà Việt Nam. Gia tài dịch của Lê Thị Hiệu với bút danh Hiệu Constant là chị đã dịch được một số những tác phẩm thời thượng, được bạn đọc trong nước đón nhận. (Nhà văn Võ Thị Xuân Hà giới thiệu) *** Tôi phải kể ra đây với bà, bởi câu chuyện mà tôi sắp kể thì không thể không kể ra được bà ạ. Từ lâu rồi nó cứ gậm nhấm tâm hồn tôi, nó cứ rỉ rả suốt đêm ngày. Tôi day dứt. Tôi bối rối. Đôi lúc tôi còn cảm thấy cả sự ân hận, hối lỗi đối với những người xung quanh. Nhất là đối với mẹ tôi giờ đang ở cõi vĩnh hằng, nhưng tôi biết, đêm đêm, bà vẫn về bên tôi, vẫn chăm sóc tôi như ngày xưa. Vì tôi vốn là đứa con cưng nhất của- bà. Thưa bác sĩ, nhưng tôi không biết bắt đầu câu chuyện này từ đâu? Nhìn ánh mắt khuyến khích của bà, tôi thấy an tâm hơn. Tôi chắc bà sẽ hiểu tôi, vì đây là nghề của bà. Tôi đã đọc rất nhiều sách và nghe rất nhiều những câu chuyện nói về ngành nghề của bà. Ngày xưa đôi lúc tôi còn chế giễu những người phải tìm đến các bác sĩ tâm lý, là vì dạo ấy tôi không bao giờ có ý nghĩ rằng một ngày nào đó tôi lại phải tìm đến những phòng mạch như của bà đây để điều trị. Đúng là ở đời, nói trước bước không qua. Trong đầu tôi hiện giờ đang bùng nhùng biết bao ý nghĩ. Những ý nghĩ đó cứ đan xen, hòa trộn lẫn nhau. Vâng, chuyện quan trọng nhất tôi sẽ kể cho bà nghe ngay đây. Đấy, bà lại có điện thoại rồi, và tiếng chuông điện thoại đã làm tôi hoảng loạn và câu dạo đầu đầu tiên mà tôi muốn bắt đầu đã lại tan biến đi mất. Tôi phải nói cho bà biết ngay rằng, chuyện tôi sắp kể là một câu chuyện tình. Bà làm ơn có thể tắt điện thoại đi được không, vì điện thoại sẽ làm ngắt mạch câu chuyện của tôi và tôi sẽ lại khó bắt đầu lại từ đầu. Vâng, đây là một câu chuyện tình chẳng giống như bất kỳ một câu chuyện tình nào khác. Và chính nó đã làm tôi trở nên trầm cảm từ bấy lâu nay. Chuyện của tôi đã bắt đầu từ nhiều năm rồi. Chuyện của tôi và người ấy ấy mà. Tôi có buộc phải nói tên người ta ra không? Có à? Có nói ra thì lòng tôi sẽ thanh thản hơn để giãi bày à? Đúng thế, đúng là nghề nghiệp của bà có khác. Mới bắt đầu thì đã thấy có hiệu nghiệm rồi, bởi tôi cứ lấy kinh nghiệm từ mình mà ra. Nếu một ngày tôi cố gắng gọi dù chỉ là gọi thầm tên của người ta thì cả ngày hôm đó tôi sẽ cảm thấy thanh thản và chịu hơn, còn nếu như tôi cứ bắt mình phải quên đi và sống trong sự kìm nén thì tôi sẽ cảm thấy rất ngột ngạt, khó thở. Vâng, anh ấy tên N.V . Nhưng chỉ có điều, bà biết không, khi gọi tên anh ấy ra như vậy thì tim tôi lại thổn thức, cả người tôi như có một luồng điện chạy qua vậy, các mạch máu dường như lưu thông nhanh hơn, hơi thở của tôi gấp gáp, các tế bào trên cơ thể tôi lại căng ra, chúng như muốn đón nhận nơi anh từng cử chỉ, vuốt ve, từng ánh mắt, thậm chí chúng còn muốn hít thở hơi thở của anh. Đã bao đêm tôi tập ngồi thiền. Tôi không dám nghĩ về anh bất kỳ lúc nào. Thì tôi đã nói với bà lúc nãy, khi bà đang tra những bệnh án của tôi. Tôi yêu anh ấy, yêu say mê, cuồng nhiệt. Tôi yêu anh bằng con tim run rẩy trắng trong của mình. Khoảng cách xa xôi càng làm cho tình yêu của tôi tăng dần lên theo năm tháng. Mỗi mùa đến rồi lại qua. Mỗi năm đến rồi lại đi. Mỗi mùa đem đến cho tôi những thứ tình cảm khác nhau dành cho anh. Bản chất anh trầm ngâm, chắc anh thích mùa thu. Bây giờ Paris đang là mùa thu, bà thấy đó. Cảnh tượng đẹp thiên thần ngoài kia. Ban nãy, trước khi đến phòng khám của bà, tôi đã đạp xe trên kè sông Seine. Anh sáng vàng xộm, xiên qua những kẽ lá đâm thẳng xuống mặt dường nhựa, chiếu lên những chiếc lá rụng lao xao chạy dọc theo những ngọn gió. Tôi còn thấy những con tàu mousse chạy lờ lững trên dòng sông nổi tiếng toàn cầu, chạy xuyên qua thành phố trái tim của thế giới. Khách du lịch đến từ khắp nơi đều thích dạo dọc sông Seine trên những con tàu mang tầm lịch sử. Dạo sông Seine và ngắm những tòa nhà chọc trời đổ bóng xuống lòng sông! Còn gì đẹp và lãng mạn hơn. Khi đi qua công viên Luxembourg cũng thế, tôi nhìn vào và thấy rất nhiều người đi dạo. Đầu thu rồi nhưng những đám cỏ vẫn xinh xắn, vẫn xanh ngắt. Chúng mới đẹp làm sao khi điểm những chiếc lá vàng vừa rơi từ những cây dẻ xuống đậu là là trên bề mặt. Cuộc đời con người cũng vậy, cũng mong manh quá, cũng như chiếc lá đang rơi kia. Tôi giơ tay ra và bắt được một chiếc. Trên đó cũng có những đường gân chạy ngang dọc như những đường chỉ trong tay tôi đây, hay như trong tay bà vậy. Hai chiếc lá là hai bộ gân khác nhau, cũng như tay tôi khác tay bà. Chiếc lá tôi đang cầm là màu vàng nâu, và đã khô đi. Vậy là nó kết thúc cuộc đời một cách tốt đẹp. Nó đã sản sinh ra bao lượng ô-xi cho chúng ta và đã hút đi bao lượng các-bon-nic để cho trái đất xanh này bớt đi ô nhiễm? Và kia kìa, xa chỗ tôi đứng một chút, có một chiếc lá xanh vừa rụng xuống. Đúng thế, nó còn xanh lắm vậy mà đã phải lìa khỏi cành. Bà thấy cảm cảnh à? Tôi cũng vậy, nhưng trong cuộc đời này còn biết bao điều hệ trọng hơn như thế xảy ra mỗi ngày. Đối với chính loài người chúng ta. Nào tai nạn giao thông. Nào thiên tai. Nào bệnh tật... Và còn chiến tranh nữa. Nhiều vô cùng. Nhưng tôi lan man rồi. Không đi vào câu chuyện chính của mình. Không sao à? Bà ở đây là để nghe tôi nói sao? Và tôi có quyền được kể ra, được nói ra tất cả những gì ẩn chứa trong lòng? Ngay cả những điều mà tôi không dám thổ lộ với ai, kể cả những người thân của mình? Ngày xưa, nếu mẹ tôi còn sống, có lẽ bà sẽ cho tôi những lời khuyên bổ ích. Hay cả người anh trai lớn nhất của tôi nữa. Anh ấy đã ra đi khi còn quá trẻ và đã có những lúc tôi oán thán anh ấy. Rằng nếu anh còn sống, cuộc sống của tôi có lẽ sẽ thanh thản hơn. Anh cũng sẽ cho tôi rất nhiều lời khuyên. Anh ấy thông minh, kiên nhẫn và hình như chưa tạt tai tôi bao giờ. Bà thấy đấy, khi còn bé, dù là con gái đi nữa, nhưng ai mà chẳng có lúc làm những điều bậy bạ, nghịch ngợm, nhưng anh ấy đã ân cần giảng giải cho tôi. Tôi nhớ rất rõ những lần anh giúp tôi làm bài tập hóa. Trong tất cả các môn, tôi dốt môn này nhất. Khi phải cân bằng những phương trình hóa học là tôi chết tắp lự. Đấy là tôi nói những phương trình khó thôi, còn nếu không thì điểm trung bình môn hóa của tôi cũng đạt được trên trung bình khá kia đấy. Hôm đó, hồi tôi học lớp mười một bà ạ, anh đang say sưa giảng cho tôi về các hợp chất a-xit, hợp chất khí, hay các loại muối, kiềm thì tôi bất chợt hỏi tại sao con người lại cứ gây chiến tranh để tạo ra những cái chết vô nghĩa lý... Anh trai tôi nhìn xuống, lúc ấy tôi chắc phải kinh khủng lắm, như thoát thiền vậy. Ánh mắt tôi xa xăm, nhìn ra ngoài sân lúc ấy cũng đang là mùa thu, ánh nắng cũng lao xao, vài tia nắng len lỏi qua các kẽ ngói chiếu thẳng xuống mặt bàn tôi đang ngồi làm bài tập. Những hạt bụi nhỏ li ti chạy nhảy huyên náo trong đám nắng dệt lên tấm lưới vô hình giăng giăng. Ngày đó trong đầu tôi đã nảy sinh ý nghĩ về sống chết vô thường. Con người sinh ra để yêu thương nhau nhưng rồi cũng để chém giết lẫn nhau. Hồi đó, anh trai cả tôi vừa xuất ngũ. Anh đi làm nghĩa vụ quân sự đúng vào thời kỳ quân Tàu giở mặt tấn công vào biên giới phía bắc Việt Nam. Chắc anh hiểu được nỗi niềm của tôi, bởi những lần anh về phép, tôi hay bắt anh kể cho nghe chuyện binh đao, khói lửa. Anh toàn kể chuyện vui, nhưng có một lần tôi nghe lỏm được, khi đang ngồi học bài sau tấm liếp. Tôi vốn không tò mò, nhưng khi nghe anh đang nói chuyện với mẹ mà lại khóc ấm ức. Anh mà lại khóc ư, chuyện thật lạ! Giỏng tai nghe ngóng, tôi nghe thấy anh kể cho mẹ nghe về chuyện một người bạn thân của anh tháng trước đã tử trận. Anh ấy mới hai mươi tuổi. Chưa một lần có bạn gái, chưa được cầm tay người phụ nữ nào. Trong cuốn nhật ký của anh chỉ có những dòng anh gửi cho một người tên Liên, mà anh tôi vừa đi gặp chiều nay. Buồn quá phải không bà, khi chúng ta đang sổng trong thời đại Internet, hòa mạng chỉ trong giây lát là có thể nói chuyện với người ở bên nửa kia của trái đất. Con gái con trai mới mười hai, mười ba tuổi đầu đã có bạn khác giới xí xa xí xớn rồi đấy. Còn tôi, mấy ngày trước đó, trong giờ học, bọn tôi, hay đúng ra là mấy thằng Hùng, Tiến, Cần, Trường... chúng nó chẳng chịu học, sau đó lại còn vẽ bậy hết lên mặt, viết những câu không thể nghe nổi như mẹ ơi con muốn chết, hận đời và khát máu, khiến thầy giận quá. Chúng nó thì làm gì mà đã biết những dư vị đó, trẻ con, vớ vẩn, tự nhiên tôi thấy ghét chúng nó thế, mặc dù thằng Hùng vốn cũng rất tử tế và học giỏi. Hôm đó, thầy đã không dạy mà nói chuyện thâm tình với chúng tôi, như những người bạn, người em. Thầy kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện cũng đại loại như của anh trai tôi. Ngày trước, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, thầy cũng có một người bạn chết trận như vậy, rằng người con trai ấy tên là Tâm, chết ngay trên cánh tay của thầy tôi. Trước khi chết chỉ nói được mỗi câu “Cậu mang về cho mẹ tớ cái khăn có thêu con chim hòa bình nhé”. Tất cả những câu chuyện như vậy gieo rắc trong tâm hồn tôi những gì mong manh, dễ vỡ, nên tôi sợ bà ạ. Nhưng rồi những gì tôi sợ cũng xảy ra. Anh tôi mất đột ngột trong một tai nạn hết sức thông thường. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn không tin đó là sự thật.   Mời các bạn đón đọc Côn Trùng của tác giả Hiệu Constant.
Chỉ Một Tình Yêu
Một tác phẩm của Johanna Lindsey Câu chuyện xoay quanh những thân phận giả mạo, bí mật gia đình và một tình yêu vượt qua mối thù truyền kiếp 50 năm tại vùng đất hùng vĩ Montana trong những năm 1880. “Nhiều quý cô trẻ tuổi kết hôn vì tiền và địa vị xã hội, chỉ một vài trong số họ may mắn kết hôn vì tình yêu – nhưng Tiffany Warren sẽ kết hôn để hoá giải một mối cừu thù. Phải thực hiện giao ước của mẹ, Tiffany miễn cưỡng đi về miền Tây để gặp người cha chưa từng gặp mặt và con trai kẻ thù của ông, Hunter Callahan. Khi nhà Warren và Callahan được hợp nhất bằng một cuộc hôn nhân, cả hai gia tộc sẽ dừng cuộc tranh chấp dải đất từ bao lâu nay. Sự hỗn loạn của cuộc cướp tàu đã trao cho Tiffany một cơ hội quý báu. Giả danh người quản gia mà cha nàng thuê, nàng có thể sống với người cha nàng chưa từng biết để hiểu về con người ông và cả gã cao bồi hàng xóm mà nàng đã được đính ước. Nhưng rồi nàng muộn màng nhận ra mối thù giữa hai gia tộc lại càng sâu sắc hơn khi nhà Callahan cướp người quản gia của nhà Warren ngay khi nàng bước xuống tàu! Và nàng, Tiffinay, dưới thân phận của Jennifer Fleming, phải sống trong ngôi nhà của kẻ thù, cùng với hôn phu của mình. Để rồi nàng biết được rằng, chàng là một người đẹp trai, quyến rũ và ngọt ngào, người khiến nàng luôn phải cưỡng lại vì không thể rời mắt – và rời tay – khỏi Jennifer. Khi bị lật tẩy, Tiffany từ chối cưới Hunter để  hàn gắn mối thù. Trong lúc Hunter đi đòi lại cô dâu chính thức của mình, chàng hiểu rằng mặc dù chàng yêu hai người phụ nữ – một Tiffany chuẩn mực, thanh nhã, hay một Jennifer sôi nổi, nồng nàn – chàng chỉ có duy nhất một trái tim để chinh phục.” *** Johanna Lindsey, tên thật là Johanna Helen Howard, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1952 tại Đức, nhưng lại là một trong những nhà văn nổi tiếng ở Mỹ. Bà được mệnh danh là một trong những tác giả thành công nhất trên thế giới về tiểu thuyết lịch sử lãng mạn. Các tác phẩm của bà thường xuyên lọt vào danh sách bán chạy nhất do New York Times bình chọn.   Lindsey xuất bản cuốn sách đầu tay vào năm 1977, với tựa đề Captive Bride, và ngay lập tức đưa tên tuổi của bà đến với các độc giả yêu văn học. Đó chính là độc lực để bà tiếp tục cho ra đời rất nhiều cuốn tiểu thuyết ăn khách khác.   Tính đến năm 2006, những tác phẩm của bà đã bán được trên năm mươi tám triệu ấn bản và dịch ra mười hai ngôn ngữ trên toàn thế giới.   Bằng lối kể chuyện hài hước song cũng không kém phần lãng mạn và bất ngờ, Johanna đã không hề khiến người đọc thất vọng với những câu chuyện của mình. Bà đã gắn kết những con người với hoàn cảnh và số phận hoàn toàn khác biệt, tưởng chừng như không bao giờ có thể ở bên nhau, và cho hộ một kết thúc viên mãn.   Không chỉ có vậy, giọng văn tinh tế và vô cùng đặc trưng của Johanna cũng là điều luôn hấp dẫn độc giả. Mỗi nhân vật của bà luôn được khắc họa với cá tính nổi bật. Ngoài ra, chính sự kiên cường của họ trong tình yêu cũng góp phần tạo ra nét đặc sắc cho ngòi bút của bà.   Mời độc giả đọc các tác phẩm của Johanna Lindsey đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Ma lực tình yêu (2012), Nàng công chúa lưu lạc (2012), Gã cướp biển quý tộc (2012), Em là của anh (2012), Hãy nói yêu em (2013), Người thừa kế (2015), Ngôi Sao Lạc Loài Chỉ Một Lần Yêu Nơi Em Thuộc Về Trái Tim Hoang Dã Yêu Lầm Anh? Tình Yêu Tìm Thấy Chỉ Một Tình Yêu The devil who tamed her, A rogue of my own, Let love find you. *** Rose Warren đã ngừng khóc trước khi con gái bà, Tiffany, mở cửa chính ngôi nhà sơn màu nâu trong thành phố, nhưng vẫn không thể dứt ra khỏi đầu câu nói đã làm bà phải rơi lệ. Đi cùng con bé đi, Rose. Đã mười lăm năm rồi, em hành hạ chúng ta như vậy còn chưa đủ hay sao? Bà thường cho phép cô con gái mới bước sang tuổi mười tám tháng trước đọc những lá thư của Franklin Warren. Frank thường giữ cho nội dung thư không quá riêng tư, để bà có thể đọc cùng với con gái của họ. Nhưng lần này thì không, bà vò lá thư lại rồi nhét vội vào túi áo khi nghe tiếng Tiffany vang lên trong sảnh. Con bé không hề biết lý do thật sự khiến cha mẹ không sống cùng nhau. Đến cả Frank cũng không biết lý do thật sự bà bỏ đi. Sau chừng ấy năm, tốt nhất là cứ để nó như thế thôi. “Tiffany, vào phòng khách với mẹ đi con!” Rose gọi trước khi Tiffiny bước lên phòng bà. Nắng chiều làm ánh lên mái tóc nâu đỏ của Tiffany khi nàng cởi mũ. Nàng rũ chiếc áo khoác mỏng ngắn ra khỏi vai khi bước vào phòng khách. Trời quá ấm áp để phải mặc áo khoác, nhưng một tiểu thư ở thành phố New York thì phải ăn mặc đứng đắn khi đi ra ngoài. Khi Rose nhìn Tiffany, bà từng tự nhắc mình rằng con gái bé bỏng của bà đã không còn bé nữa. Ngay cả khi Tiffany bước sang tuổi mười tám, Rose cũng đã từng hơn một lần ước con gái bà đừng lớn lên. Con bé đã cao hơn một mét bảy và thường xuyên phàn nàn vì chuyện đó. Tiffany thừa hưởng chiều cao của cha, Franklin, và cả đôi mắt màu xanh lục bảo nữa. Chỉ là, con bé vẫn không biết điều đó. Con bé có dáng người thanh nhã của Rose, nên lại càng xinh đẹp, nhưng màu tóc đỏ thì chỉ giống phần nào thôi. Màu tóc Tiffany nghiêng về ánh đồng hơn. “Mẹ mới nhận được thư của cha con.” Lặng thinh. Trước đây Tiffany rất thích đọc thư của Frank, nhưng đã từ lâu lắm rồi, kể từ khi con bé không hỏi khi nào cha đến thăm con nữa. Trái tim Rose tan vỡ khi thấy sự thờ ơ trong tình cảm của con gái bà với cha nó. Bà biết Tiffany không có kỷ niệm nào với cha. Con bé còn quá nhỏ khi cùng Rose rời khỏi Nashart, Montana. Rose biết lẽ ra bà phải để cha con họ gặp nhau trong những năm qua. Frank đã rất cao thượng khi cho phép các con trai về thăm bà, mặc dù bà thừa biết ông làm vậy là để làm bà cảm thấy day dứt vì đã không tạo điều kiện hay cho phép con gái họ gặp cha. Bà đã luôn lo sợ Frank không cho con gái quay về với bà nữa. Đó không chỉ là nỗi sợ mơ hồ, mà là cơn ác mộng khủng khiếp nhất của bà. Ông đã từng giận dữ đe dọa sẽ giữ lại con gái của họ. Ông đã mang vô số thứ ra để uy hiếp bà, hòng giữ cho gia đình của ông được đoàn tụ. Và bà không thể oán trách ông! Nhưng cũng không thể ngăn được điều đó, không thể được. Giờ đây bà phải đối mặt với nỗi sợ lớn nhất trong đời: một khi Tiffany đến Montana, Rose sẽ không bao giờ được gặp lại con nữa. Đáng lẽ ra bà phải kiên quyết bắt hôn phu của Tiffany đến New York đón con bé. Nhưng đó sẽ là giọt nước tràn ly đối với Frank. Ông đã tôn trọng ý muốn của Rose và tránh mặt trong suốt mười lăm năm trời, nhưng đây là thời điểm bà đã hứa để Tiffany quay về với vòng tay của ông. Lương tâm của bà không cho phép hai cha con chia cắt lâu hơn nữa. Tiffany dừng lại trước bà và chìa tay ra để đòi thư. Rose chỉ về phía ghế sofa. “Ngồi xuống đây con.” Tiffany nhướng mày khi mẹ không đưa bức thư cho nàng, nhưng cũng ngồi xuống cạnh Rose. Căn phòng rất lớn. Thành phố cũng rất lớn. Cha mẹ Rose là một gia đình giàu có đến từ cựu thế giới, toàn bộ tài sản của họ hiện giờ là của bà. Khi Rose từ Montana quay trở về cùng với cô con gái ba tuổi, bà mới biết rằng trong năm năm vắng nhà, mẹ bà đã trải qua nhiều trận ốm liên tiếp và bị liệt. Mẹ Rose chỉ sống được thêm bốn năm nữa, nhưng ít ra Tiffany cũng được biết bà ngoại của mình. Đó là một quãng thời gian đau khổ trong cuộc đời Rose. Bà đã phải từ bỏ chồng và ba con trai, và rồi sau đó lại mất luôn người mẹ của mình. Nhưng ít nhất bà còn có Tiffany. Bà hẳn đã phát điên vì thống khổ nếu bà cũng từ bỏ Tiffany. Nhưng ngày đó rồi cũng đã đến... “Lại đến lúc Nói Phải Quấy rồi hả mẹ?” Tiffany chán chường hỏi. “Con bắt đầu xấc xược từ lúc sang tuổi mới rồi đấy,” Rose cảnh cáo. “Nếu đó là cách mẹ muốn nói về sự oán giận vẫn đang gặm nhấm con thì cũng được thôi. Đó là xấc xược đấy.” “Tiffany-“ “Con không đến Montana đâu, mẹ. Con không quan tâm điều đó dẫn đến một cuộc đổ máu đâu. Con không quan tâm chuyện con cũng sẽ không bao giờ được gặp lại anh em con nữa. Con từ chối kết hôn với một người con chưa từng gặp.” Tiffany khoanh tay trước ngực và hất cằm thách thức. “Đó, con đã nói lời cuối cùng rồi và con sẽ không đổi ý đâu.” “Mẹ đồng ý với con.” Tiffany mở to mắt trước khi reo lên nhẹ nhõm. “Cảm ơn mẹ! Mẹ không biết được con đã đau khổ thế nào trước viễn cảnh –“ “Để mẹ nói hết đã. Mẹ đồng ý con sẽ không cưới một người không quen biết. Con sẽ đến Montana để gặp cậu ta. Con sẽ có vài tháng để hiểu về cậu ta. Nếu lúc đó con vẫn không thấy thích cậu ta, thì, mẹ đồng ý, con có thể hủy hôn và trở về New York trước khi thời tiết xấu đi. Mẹ hứa với con điều đó, Tiffany.” “Tại sao mẹ không hề cho con biết rằng con có quyền quyết định trong hôn ước mà cha mẹ sắp đặt cho con từ khi con còn là một đứa bé chứ?” “Vì mẹ đã hy vọng con sẽ thực hiện hôn ước đó một cách tự nguyện. Mẹ muốn con lớn lên và quen với ý nghĩ đó, mẹ hy vọng con có thể mong chờ điều đó.” “Nhưng Montana* thậm chí còn chưa phải là một nơi văn minh nữa kìa!” “Mình có thể nói chuyện mà không hét vào nhau không con?” Rose nói và khẽ cười, “Hạt Montana không hoang sơ như con nghĩ đâu. Mẹ cho là các anh con đã làm rõ điều đó cho con rồi chứ. Đó là một trong những nơi đẹp nhất mẹ đã từng thấy. Con chắc sẽ thích được ở đó mà.” “Con thích ở đây, nơi con lớn lên, nơi có bạn bè con, nơi con sống,” Tiffany lầm bầm, rồi cao giọng hơn, “nơi đàn ông không đeo súng ở hông bởi vì chẳng có gì, chẳng có người nào cần bắn cả. Sao mà mẹ có thể chấp nhận một thỏa thuận như thế chứ, mẹ?” “Mẹ là người đưa ra thỏa thuận đó.” Bà chưa bao giờ nói cho con gái biết điều đó, và thấy Tiffany mở to đôi mắt ngọc lục bảo, bà ước mình có thể giải thích bằng cách khác. Nhưng chẳng có cách nào cả. “Hóa ra mẹ là người ném con cho bầy sói à?” “Ôi trời ạ, Tiff, đừng thống thiết như thế chứ. Đó là điều duy nhất mẹ có thể nghĩ ra để chấm dứt mối thù giữa nhà Callahan và nhà Warren. Dải đất gần nguồn nước nằm giữa hai điền trang thậm chí cũng không phải nguyên nhân sâu xa, nhưng cả hai bên đều dùng nó để tiếp tục gây hấn với nhau, cả hai đều tranh giành nó về mình. Mẹ chưa bao giờ thấy cái gì ngu ngốc như thế, cả hai bên. Bất kỳ khi nào họ đến gần nguồn nước cùng lúc là có súng nổ. Nếu có con bò lạc nào đi đến gần, họ sẽ đuổi nó quay trở lại, chỉ để gây thêm nhiều vụ nổ súng hơn nữa. Hôn ước của con và Hunter Callahan sẽ chấm dứt sự tranh chấp đó.” “Vậy là mẹ gánh lấy trách nhiệm hóa giải mối thù mà mẹ không gây nên bằng cách hy sinh đứa con gái duy nhất của mình sao?” Rose cáu kỉnh. “Cho con biết, nhóc, Zachary Callahan là một trong những người đẹp trai nhất mẹ từng gặp. Và nhìn vào người vợ xinh xắn của ông ta, mẹ không nghi ngờ gì là những cậu con trai lớn lên cũng sẽ đẹp như thế. Mẹ không nghĩ con là vật hy sinh, mẹ chắc rằng con có thể e ngại vì lấy một người nhà Callahan làm chồng. Nhưng là người ngoài cuộc, mẹ nhìn nhận mọi việc theo cách khác. Những người cao bồi thường hiếu thắng, thậm chí độc đoán, đúng vậy, nhưng mẹ không nghĩ điều đó là lạ ở vùng đất ấy. Frank và Zachary chỉ là hai người đàn ông cứng đầu, mà không ai trong hai người muốn nhân nhượng nhau một inch nào. Mọi chuyện bắt nguồn từ một quá khứ đau buồn, và nguồn nước ở ranh giới hai miếng đất không giúp nó được kết thúc. Mẹ nhận định rằng gia đình Callahan không phải là những người xấu. Zachary có thể là một chủ trang trại hiếu thắng và bẳn tính, nhưng ông ta cũng nổi tiếng là một người chồng tận tụy và là một người cha tốt. Vậy đã là quá đủ cho một gia đình rồi.” “Mẹ không phải là người có thể kết thúc mối thù đó, mẹ. Tại sao mẹ còn thử chứ?” Mời các bạn đón đọc Chỉ Một Tình Yêu của tác giả Johanna Lindsey.
Quy Luật Hấp Dẫn
Tên truyện: Quy Luật Hấp Dẫn Tựa gốc: Rules of Attraction Tác giả: Simone Elkeles Dịch: An, Dzungnguyen 1102, Lana Biên tập: Sa Bìa: Lynn Ebook: K “Quy luật hấp dẫn” là cuốn tiểu thuyết thứ 2 trong loạt truyện Perfect Chemistry gồm 3 quyển kể về 3 anh em Fuentes của nhà văn Simone Elkeles. Xúc tác hoàn hảo – Perfect Chemistry #1 Phản ứng dây chuyền – Perfect Chemistry #3 Giới thiệu:  Carlos Fuentes không muốn dựa dẫm vào người anh trai Alex của mình, và cậu đã nói điều đó với Alex khi ở Boulder, Colorado. Cậu ấy muốn sống một cuộc sống không tầm thường và tạo ra con đường riêng cho mình – giống như Alex đã từng làm. Thật không may, mối liên hệ của cậu với một băng đảng ở Mexico không dễ mất đi, và Carlos nhanh chóng nhận ra mình đang trong tầm ngắm của một ông trùm ma túy. Khi Alex thu xếp cho Carlos đến sống cùng với cựu giáo sư đại học và gia đình của ông để cậu không phải vào tù, Carlos cảm thấy lạc lõng tại nơi đây. Cậu thậm chí còn bị đè nén bởi những cảm xúc mạnh mẽ của mình đối với con gái của giáo sư – Kiara, người không giống những cô gái mà cậu thường bị thu hút. Nhưng Alex và Kiara sớm nhận ra những vấn đề của trái tim, những quy luật hấp dẫn vượt ra khỏi những khác biệt xã hội ngăn cách họ. Khi mà những mối đe dọa với Carlos ngày càng lớn hơn, cậu đã vô cùng kinh ngạc khi phát hiện rằng gia đình người Mỹ này dường như có thể cứu cậu. Nhưng liệu Carlos có dám mạo hiểm sự an toàn của họ để có được cơ hội sống một cuộc sống mà cậu thậm chí chưa từng dám mơ? 23 chương đầu là bản dịch của bạn Dzungnguyen 1102 đã đăng ở Kites và mình đã nhận được sự đồng ý của bạn ấy cũng như của Kites để đăng lên nhà (có chỉnh sửa so với bản bên Kites). Rainy sẽ dịch tiếp từ chương 24 trở đi. *** Bộ truyện Perfect Chemistry gồm 3 quyển kể về 3 anh em Fuentes của nhà văn Simone Elkeles. Quyển 1: Xúc Tác Hoàn Hảo – Perfect Chemistry #1 Quyển 2: Quy luật hấp dẫn – Perfect Chemistry #2 Quyển 3: Phản ứng dây chuyền – Perfect Chemistry #3  *** Tác giả    Simone Elkeles sinh ra và lớn lên tại Chicago, Hoa Kỳ. Bà là tác giả của những đầu sách cho teen bán chạy nhất theo xếp hạng của New York Times và USA Today.   Siome Elkeles cùng các tác phẩm hay nhất của bà, Xúc tác hoàn hảo, đã được vinh danh ở rất nhiều giải thưởng sách văn học khác nhau và đáng kể nhất là giải RITA 2010, giải thưởng hàng năm danh giá dành cho tác phẩm văn học lãng mạn xuất sắc nhất nước Mỹ. *** Tôi muốn sống theo cách của riêng mình. Tuy nhiên tôi là người Mexico, nên gia đình tôi luôn chỉ dẫn tôi làm mọi việc, dù tôi có muốn hay không đi chăng nữa. Thôi được rồi, chỉ dẫn thì chưa đúng, ra lệnh thì đúng hơn. Mẹ tôi đã không hỏi tôi xem là liệu tôi có muốn rời khỏi Mexico và chuyển đến Colorado để sống cùng với anh trai Alex trong năm cuối trung học phổ thông hay không. Bà đã quyết định gửi tôi về Mỹ, “vì muốn tốt con thôi” – theo ý của bà, chứ không phải tôi. Khi phần lớn các thành viên trong gia đình ủng hộ bà, quyết định được đưa ra. Họ thực sự nghĩ rằng gửi tôi về Mỹ sẽ làm cho cuộc đời tôi không kết thúc dưới những nấm mồ hoặc trong nhà tù sao? Kể từ khi tôi bị sa thải khỏi nhà máy đường hai tháng trước, tôi đã sống một cuộc sống điên rồ. Không có gì có thể thay đổi được điều này. Tôi nhìn ra ô cửa sổ bé bé khi chiếc máy bay bay qua ngọn Rockies phủ tuyết. Tôi chắc chắn rằng mình không ở Atencingo bao lâu nữa, và tôi cũng không ở ngoại ô Chicago, nơi mà tôi đã sống nhiều năm trước khi mẹ bắt chúng tôi thu dọn và chuyển đến Mexico trong năm hai trung học. Khi máy bay hạ cánh, nhìn những hành khách khác chen lấn để xuống máy bay, tôi ở lại và đợi cho tình cảnh này kết thúc. Tôi sắp gặp lại anh trai của mình lần đầu tiên trong vòng gần hai năm. Chết tiệt, tôi thậm chí còn không biết là liệu tôi có muốn gặp lại anh ấy hay không nữa. Hầu hết mọi người đã xuống máy bay nên tôi không thể trì hoãn thêm nữa. Tôi lấy ba lô của mình và làm theo các biển chỉ dẫn ở khu vực nhận hành lý. Khi vừa ra khỏi cửa an ninh, tôi trông thấy ông anh Alex đang đợi bên ngoài các thanh rào chắn. Tôi nghĩ tôi có thể không nhận ra anh ấy, hoặc cảm thấy như chúng tôi là những người xa lạ chứ không phải một gia đình. Tuy nhiên, không có bất kỳ sự nhầm lẫn nào xảy ra cả bởi khuôn mặt chúng tôi giống y như nhau. Tôi hơi hài lòng rằng bây giờ tôi đã cao hơn anh ấy, và tôi không còn là đứa trẻ gầy gò bị anh ấy bỏ lại phía sau nữa. “Chào mừng đến với Colorado.” Anh ấy vừa nói vừa ôm lấy tôi. Khi anh ấy thả tôi ra, tôi nhìn thấy những vết sẹo mờ trên lông mày và bên tai. Tôi đã không nhìn thấy nó vào lần cuối chúng tôi gặp nhau. Anh ấy trông có vẻ chững chạc hơn, nhưng anh không còn giữ ánh mắt đề phòng mà anh luôn mang bên mình như chiếc khiên che chắn nữa. Tôi nghĩ là sự đề phòng của tôi được thừa hưởng từ anh. “Cảm ơn.” Tôi nói dứt khoát. Anh ấy biết rằng tôi không muốn đến đây. Chú Julio đứng cạnh tôi cho đến lúc chú ấy tống khứ tôi lên máy bay. Và sau đó chú còn đe dọa rằng sẽ ngồi ở sân bay cho đến khi chú ấy biết chắc rằng tôi đã cất cánh. “Còn nói được tiếng Anh chứ?” Anh trai tôi hỏi khi chúng tôi đi lấy hành lý. Tôi trợn tròn mắt: “Chúng ta chỉ sống ở Mexico có hai năm thôi, Alex. Nói đúng hơn là chỉ có mẹ, em và Luis chuyển đến Mexico. Anh đã bỏ rơi mọi người.” “Anh không bỏ rơi mọi người. Anh chỉ sắp học đại học và bởi vậy anh có thể làm điều gì đó thiết thực với cuộc sống của mình. Em cũng nên thỉnh thoảng thử làm điều gì đó thiết thực đi.” “Thôi khỏi, cảm ơn anh. Em cảm thấy ổn với cuộc sống không mấy thiết thực của mình.” Tôi lấy chiếc túi vải len của mình ra khỏi băng chuyền và theo Alex rời khỏi sân bay. “Em đang đeo cái gì ở cổ đấy?” Anh ấy hỏi tôi. “Nó là cái chuỗi hạt.” Tôi trả lời, chỉ tay vào dấu chữ thập đính cườm trắng đen “Em đã chuyển sang tôn giáo khác từ lần cuối chúng ta gặp nhau.” “Tôn giáo gì chứ, anh không tin. Anh biết nó là biểu tượng của một băng đảng,” anh nói khi chúng tôi tiến đến chiếc xe Beemer mui trần màu bạc. Anh trai tôi không thể nào mua nổi chiếc xe đó, chắc hẳn là anh ấy mượn từ cô bạn gái Brittany. “Vậy thì sao chứ ?” Alex đang ở trong một băng đảng ở Chicago. Trước đây bố tôi cũng là thành viên của một băng đảng. Cho dù Alex có muốn thừa nhận điều đó hay không thì tôi cũng kế thừa sự xấu xa đó. Tôi đã cố gắng sống theo luật pháp. Tôi chưa bao giờ than phiền khi tôi làm ra ít hơn 50 peso mỗi ngày và làm việc liên tục sau giờ học ở trường. Sau khi bị sa thải và bắt đầu làm việc với băng Guerreros del barrio, tôi kiếm được hơn 1000 peso mỗi ngày. Nó có thể bị xem là thứ tiền dơ bẩn, nhưng nó giúp tôi đủ ăn. “Em có học được gì từ sai lầm của anh không đấy?” Anh ấy hỏi. Khỉ thật, khi Alex ở trong băng Latino Blood ở Chicago, tôi đã từng tôn thờ anh ấy. “Anh hẳn không muốn nghe câu trả lời đâu.” Lắc đầu thất vọng, Alex lấy chiếc tủi vải ra khỏi tay tôi và quăng nó vào sau xe. Vậy nếu anh ấy rời khỏi Latino Blood thì chuyện gì sẽ xảy ra nhỉ? Anh ấy sẽ phải mang những hình xăm ấy trong suốt quãng đời còn lại. Dù sao đi nữa thì anh ấy sẽ luôn dính líu đến Latino Blood cho dù có hoạt động hay không hoạt động trong băng đảng ấy. Tôi nhìn anh trai của mình hồi lâu. Anh ấy chắc chắn đã thay đổi. Tôi đã cảm nhận được điều này ngay từ phút đầu tiên tôi trông thấy anh. Anh ấy có lẽ trông giống như Alex Fuentes, nhưng tôi có thể nói rằng anh ấy đã mất đi tinh thần chiến đấu mà Alex Fuentes từng có. Giờ anh ấy học đại học và suy nghĩ rằng anh ấy có thể tuân  theo luật pháp và biến thế giới trở thành một nơi tươi đẹp hơn để sống. Thật ngạc nhiên khi anh ấy nhanh chóng quên đi rằng chúng tôi đã từng sống trong khu ổ chuột ở vùng Ngoại ô Chicago một thời gian cách đây không lâu lắm. Có một số thứ trong thế giới này không thể tươi sáng, dù bạn có cố đánh bóng nó thế nào đi chăng nữa. “Mẹ thế nào rồi?” Anh ấy hỏi. “Mẹ ổn.” “Thế còn Luis?” “Cũng vậy. Cậu em trai nhỏ của chúng ta thông minh gần bằng anh rồi, Alex. Nó nghĩ rằng nó sẽ trở thành một phi hành gia như Hernández.” Alex gật đầu như một người cha đầy tự hào, và tôi nghĩ anh ấy thực sự tin rằng Luis có thể đạt được ước mơ của mình. Cả hai người họ đều hoang tưởng… Cả hai người anh em của tôi đều là những kẻ mộng mơ. Alex nghĩ rằng anh ấy có thể cứu thế giới bằng cách tạo ra các loại thuốc chữa bệnh, còn Luis thì lại nghĩ rằng nó có thể rời khỏi thế giới này và thám hiểm một thế giới khác. Khi chúng tôi đi lên đường cao tốc, tôi trông thấy những dãy núi ở xa xa. Nó làm tôi nhớ về địa hình hiểm trở ở Mexico. “Nó được gọi là Front Range.” Alex nói với tôi. “Trường đại học nằm ở chân núi.” Anh ấy chỉ sang trái. “Chúng được gọi là Flatirons bởi những tảng đá ở đây phẳng như những tấm bảng bằng sắt vậy. Thỉnh thoảng anh sẽ đưa em tới đó. Brit và anh thường đi dạo ở đó khi rời khỏi ký túc xá.” Anh ấy liếc nhìn tôi và bắt gặp tôi đang nhìn anh ấy với vẻ không thể tin nổi. “Sao nào?” Anh ấy đang nói chơi đúng không? “Anh đang đùa em à?”? Tôi chỉ đang tự hỏi anh là ai và anh đã làm chuyện quái quỷ gì với anh trai của tôi. Anh trai Alex của tôi đã từng là một kẻ nổi loạn, và giờ thì anh ấy lại đang nói về những ngọn núi, bảng sắt và đi dạo với bạn gái. “Thế em thích anh nói về chuyện say xỉn và gây rắc rối chắc?” “Đúng vậy!” Tôi nói và hành động như thể là tôi đang cực kì hứng thú. “Rồi sau đó anh có thể nói cho em biết nơi mà em có thể say xỉn và gây rắc rối, bởi em sẽ không thể sống nếu không dùng một vài loại chất cấm.” Tôi nói dối. Có thể mẹ tôi đã nói với anh ấy rằng bà nghi ngờ tôi sử dụng thuốc nên tôi cứ làm như thể là tôi dùng chúng vậy. “Được thôi. Thế cứ nói với mẹ về những thứ điên rồ đó đi, Carlos. Anh không còn làm những thứ mà em làm đâu.” Tôi gác chân mình lên bộ phận điều khiển xe. “Anh còn không có bằng chứng.” Alex đẩy chân tôi xuống. “Không phiền chứ? Xe của Brittany đấy.” “Anh thực sự bị mê hoặc rồi. Đến lúc nào thì anh mới bỏ quách cái loại con gái rẻ tiền đó đi và bắt đầu trở thành một anh chàng sinh viên đại học bình thường – ngủ với hàng tá cô gái?” Tôi hỏi anh ấy. “Britany và anh không hẹn hò với người khác.” “Tại sao lại không?” “Người ta gọi đó là bạn trai và bạn gái.” “Có mà hèn nhát ấy. Một chàng trai chỉ ở cùng với một cô gái thì không bình thường chút nào cả, Alex. Em là một người tự do và em sẽ sống độc thân mãi mãi”. “Vậy là đã rõ, Quý ngài tự do, ngài sẽ không ngủ với bất kỳ ai trong căn nhà của tôi.”   Mời các bạn đón đọc Quy Luật Hấp Dẫn của tác giả Simone Elkeles.
Những Người Sống Và Những Người Chết
Những người sống và những người chết (tiếng Nga: Живые и мёртвые) là tác phẩm đầu tiên trong bộ ba tiểu thuyết (Những người sống và những người chết, Người ta sinh ra không phải đã là lính, Mùa hè cuối cùng) về đề tài Chiến tranh Vệ quốc (1941 - 1945) của nhà văn Konstantin Simonov. Hai phần đầu tiên của cuốn tiểu thuyết được xuất bản vào các năm 1959 và 1962, phần thứ ba vào năm 1971. Tác phẩm được sáng tác theo hơi hướng sử thi, toàn bộ cốt truyện trải dài theo trình tự từ tháng 6 năm 1941 cho đến tháng 7 năm 1944. Theo các nhà phê bình văn học Soviet, đây là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất về đề tài Chiến tranh Vệ quốc. *** 'Tôi có cảm giác chung với tiểu thuyết Liên xô thời kỳ chống phát xít, đó là mỗi khi đọc xong một cuốn sách, bỗng chợt thấy tất cả nhân vật trong đó, những anh dép, lép, nhép, nốp, lốp, xốp… như trở thành đồng đội của mình, hoặc đúng hơn, thấy mình trở thành một người trong số họ. Tôi đã theo anh phóng viên quân đội Xintxốp suốt những trận chiến đấu, phá vây, chia tay và gặp lại, tôi đã gặp Xerpilin, Tanhia, Dôlôtarép… Tôi cũng gặp những kẻ còn sống mà như đã chết, hèn nhát mạt hạng như gã Thượng úy Kruchikốp, sống bấu víu bằng cách tự lừa mình rằng còn có kẻ còn hèn nhát hơn mình, hoặc dối trá hơn mình, và mình sẽ vạch mặt kẻ đó. Lúc ấy mình sẽ là người hùng. Lúc ấy mình sẽ yên tâm tin rằng mình không hèn nhát. Cỗ máy chiến tranh xay nghiền những thanh niên, trung niên, phụ nữ và trẻ em trong ánh chớp số phận. Thật trớ trêu, những ánh chớp số phận ở đây, hóa ra lại là ánh lửa lóe lên khi mỗi viên đạn bay ra khỏi nòng súng. Sau đó là những người sống và những người chết. Dù kẻ bị nhắm bắn có trúng đạn hay không, anh ta cũng đã bị chiến tranh quẳng ngoéo đi xa khỏi con đường anh vẫn đi trước đó. Nếu anh trúng đạn, chết ngay, hoặc tử thương, đã đành đi một nhẽ, thế là chấm hết một đời. Nhưng nếu viên đạn chỉ làm anh bị thương đâu đó, cho anh một vết sẹo, hoặc biến anh trở thành tàn phế, anh có thể tiếp tục chiến đấu, hoặc dưỡng thương một thời gian rồi tiếp tục chiến đấu, hoặc thậm chí không bao giờ chiến đấu được nữa. Anh phải sống và đối mặt với một cuộc đời khác hẳn. Thậm chí ngay cả khi viên đạn đó tránh khỏi anh, biết đâu đấy, anh lại trở thành một Valentin Hauder, anh chàng trong Ba người bạn của Erich Maria Remarque, ngày ngày say khướt uống mừng mình thoát chết. Không chỉ là chiến tranh, vấn đề đặt ra còn là giữa một con người và một tờ giấy, người ta coi trọng cái nào hơn cái nào. Đến bao giờ người ta mới biết cách tin vào con người ? Tôi không muốn dành nhiều lời xưng tụng cho một tác phẩm để dụ dỗ người khác đến với nó. Chỉ biết rằng Simonov đã viết một cách đầy tiết chế, sự tiết chế của một người đã thực sự trải qua chiến tranh với tất cả sự khốc liệt của nó. Mỗi nhân vật thoáng qua dù chỉ một lần cũng khiến người đọc thấy được dù anh ta sẽ sống hoặc sẽ chết thế nào, anh ta cục cằn, thô lỗ, nóng nảy hay mơ mộng thế nào, và anh ta cũng là một mắt xích không thể thiếu trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Chừng nào một đất nước còn những con người như Malinin, Xintxốp, Xerpilin, Masa…, đất nước đó sẽ không bao giờ chấp nhận quỳ gối trước quân xâm lược' . *** Cạnh đường có hai chiếc xe tăng Đức đang đứng như hai cái đài kỷ niệm khiến Malinin không thể nào nhầm được: nòng đại bác của chiếc này chĩa vào chòi súng của chiếc kia. Đây chính là những chiếc xe tăng mà hôm qua, khi đi ngang qua đó, ông có kể lại rằng bọn lính xe tăng Đức đã phải dốc hết xăng ra cho bọn bộ binh. Nghĩa là họ đã đi trở lại được khoảng hai chục cây số. Dù sao chăng nữa, kể từ sáng hôm qua đến giờ, tiểu đoàn đã tiến được khá xa về phía trước... Nghĩ đoạn ông bèn hỏi Karaulốp xem Riáptrenkô đã chỉ định ai làm trung đội trưởng thay anh ta, và khi nghe anh ta trả lời đúng cái tên mà ông dự đoán: «Xintxốp», thì ông lại bực mình sực nhớ ra rằng thế là mình vẫn chưa kịp nói với Xintxốp về lá thư mình gửi lên phòng chính trị. Bây giờ, khi lại một lần nữa nghĩ tới lá thư này, ông vẫn không biết rằng tình trạng chậm trễ ấy không phải là do lỗi của đảng ủy sư đoàn như ông đã kết luận : đảng ủy sư đoàn chẳng liên quan gì đến việc này cả. Số là một đồng chí trợ lý của phòng chính trị tập đoàn quân sau khi đọc đến họ tên của Xintxốp thì chợt nhớ tới một tài liệu trước đây đã đi qua tay mình. Tài liệu đã qua tay anh đó chỉ vẻn vẹn là một tờ giấy xé từ quyển vở học sinh viết đầy một thứ chữ to tướng của con nhà lính : chiến sĩ hồng quân Dôlôtarép vượt khỏi vòng vây ở khu vực mặt trận của tập đoàn quân đã viết giấy lên phòng chính trị trình bày hoàn cảnh mà chính trị viên I. P. Xintxốp đã hy sinh và đề nghị rằng nếu có thể thì báo cho gia đình đồng chí Xintxốp biết. Đồng chí cán bộ phòng chinh trị ấy chưa có thời gian để làm một việc gì theo yêu cầu của lá thư này, nhưng anh cũng không nỡ đang tay xé nó đi, bới thế bây giờ nó đang nằm cùng trong một tập hồ sơ bên cạnh lá đơn của hạ sĩ Xintxốp xin được phục hồi đảng tịch. Mặc dầu trên tập hồ sơ ấy có ghi mấy chữ «để báo cáo», nhưng lúc đó chẳng có ai để mà báo cáo cả; trận tấn công đã bắt đầu và chính ủy trung đoàn Mácximốp, chủ nhiệm chính trị tập đoàn quân, đã ra hỏa tuyến hơn hai ngày nay rồi. — Thế nghĩa là đã có Xintxốp thay cậu rồi đấy hả? Được ! — sau giây lát lặng thinh, Malinin nói với Karaulốp như vậy. Ông nói tựa hồ như mình vẫn còn đang trong tiểu đoàn và tựa hồ như việc đó vẫn phải có sự đồng ý của ông thì mới được. — Vậy tiểu đoàn trưởng vẫn từ chối không chịu chuyển về hậu phương hả? — Đời nào ông ấy chịu! — Karaulốp nói với vẻ tán thành. — Máy bay nào thế nhỉ?—nghe có tiếng máy bay bắt đầu ầm ì trên bầu trời và cảm thấy chú bé ngồi đằng sau mình giật thót người, Malinin liền hỏi vậy. — Máy bay ta, — Karaulốp nói. Bốn phi dội máy bay ném bom của ta, mỗi phi đội chín chiếc nối đuôi nhau bay qua đầu đoàn thương binh, từ phía đông sang phía tây, thong thả rạch ngang bầu trời đông trắng đục. Chiếc xe trượt tuyết liền dừng lại và các chiếc đi sau cùng dừng lại, suýt nữa húc phải nhau. Cả chú bé đánh xe lẫn Karaulốp và Malinin đều nhìn lên trời với cùng một niềm sung sướng và biết ơn. — Sao, bay khuất rồi hả, không thấy nữa rồi hả?—Malinin hỏi, khi không còn nghe thấy ầm ì nữa và không đủ sức để chống tay nhỏm dậy dõi theo bóng máy bay. — Không, vẫn còn thấy, nhưng bây giờ thì gần như không thấy nữa, bay khuất rồi, — Karaulốp trông theo hút những chấm đen nhỏ bẻ đến tận chân trời và đáp lại như vậy. Tiểu đoàn Riáptrenkô đã tiến được mười cây số kể từ chiếc lán mà đêm qua Malinin đã ngất đi và cách xa cái nơi mà bây giờ đoàn xe trượt tuyết chở đầy thương binh loại nặng về hậu cứ là ba chục cây sồ, tiểu đoàn đang tiến về phía tây trong làn tuyết dày, mừng rỡ vì cuối cùng bão tuyết đã tan. Giờ đây sau khi chiếm được ga Vôxkrêxenxkôiê, những trung đoàn khác của Xerpilin ít bị tiêu hao trong trận đánh hôm qua, đang xông được lên phía trước và từ sáng đến giờ tiểu đoàn vẫn cứ tiến mãi mà không phải nổ một phát súng nào, chỉ thỉnh thoảng lại đụng phải những chiếc xe quân Đức bỏ lại trong tuyết và xác những tên lính bị chết cóng hoặc bị giết. Hiện tượng tiến quân mà không phải nổ súng này cố nhiên chỉ là tạm thời, bởi vì cả bên trái lẫn bên phải họ, tiếng gầm của đại bác vẫn liên tiếp theo gió vọng lại, còn ở ngay phía chân trời thì trong nửa giờ vừa qua đã lại thấy bập bùng khói lửa của những làng mạc bị đốt cháy. Xintxốp, Kômarốp và hai chiến sĩ tiểu liên nữa, — tất cả quân số còn lại của trung đội, — đang nối nhau đi theo sau con ngựa do Riáptrenkô cưỡi. Lẽ ra Riáptrenkô phải sang đội điều trị từ lâu để chữa vết thương, nhưng anh vẫn không chịu thua, vẫn cứ cưỡi ngựa bằng cách bỏ cái bàn chân tê cóng ra khỏi bàn đạp và buộc một chiếc gậy đầu cong do tay anh đẽo gọt lấy hôm qua vào phía sau yên để phòng khi phải xuống ngựa. — Hạ sĩ ơi, theo cậu thì liệu đơn vị mình có sắp được bổ sung thêm quân số không? Kômarốp tiền len ngang với Xintxốp rồi đi bên cạnh anh. — Tớ làm sao mà biết được? — Xintxốp nhún vai, nhưng anh nghĩ thầm trong bụng rằng trong lúc mình chưa dừng lại, chưa chạm trán với quân Đức ở một nơi nào đó, thì chưa làm gì có bổ sung được đâu: tuyết dày như thế này không thể chở quân số bổ sung bằng xe ôtô được, còn như đi bộ thì chẳng ai đuổi kịp được mình, nếu mình cứ đi liên miên không nghỉ như hôm nay. Kômarốp buồn bã thấy trung đội mình bị thương vong nhiều đến như vậy, anh bèn đến tìm một lời an ủi ở người tiểu đội trưởng bây giờ đã trở thành trung đội trưởng của mình, nhưng Xintxốp thì lại nghĩ thầm rằng nếu đêm hôm qua Kômarốp không đến cứu mình ở cạnh lán, không quạt lia lịa thẳng vào tên Đức đang nhảy vọt ra trong giây phút cuối cùng ấy thì anh đã đi đời nhà ma, và bây giờ đã không còn gì để suy nghĩ nữa, dù là chỉ suy nghĩ rằng hôm nay có đánh nhau không và liệu mình có được lành lặn trong trận đánh này không. Nhưng giờ đây anh không muốn dùng lời để nói về tất cả những điều đó, anh chỉ nói bằng mắt, bằng cách yên lặng nhìn vào mắt Kômarốp với lòng biết ơn. —Thế nào, theo ý cậu thì hôm nay cánh mình có đuổi kịp được bọn Đức không? — Kômarốp hỏi. Xintxốp bèn nhìn vào mặt anh ta và hiểu rằng bây giờ Kômarốp cũng đang có những cảm nghĩ giống hệt như mình, vừa muốn tiếp tục đuổi kịp quân Đức, lại vừa tiếc rẻ phải từ biệt giờ phút nghỉ ngơi lấy sức mới được hưởng sau trận chiến đấu hôm qua. — Có lẽ đuổi kịp đấy,—anh cố nén cái ý nghĩ ấy trong lòng, dấn bước đi lên, rồi đáp vậy, — bởi vì ta lại trông thấy khói kia rồi! Đằng kia, ở nơi tuyết phủ, nơi mà họ đang rảo bước tiến đến đám khói từ một xóm làng bị cháy vẫn bốc lên mỗi lúc một cao. Tiểu đoàn trưởng Riáptrenkô cưỡi ngựa đi đằng trước Xintxốp, có lúc người anh che khuất đám khói ấy, có lúc nó lại lộ ra, mỗi khi con ngựa bước lệch đường sang bên cạnh. — Kômarốp, Kômarốp ơi! — Gì thế? — Cho xin điếu thuốc! — Đang đi sao lại hút thuốc thế? — À thì tự nhiên thấy thèm... — Xintxốp không giải thích tại sao lại thèm. Nhưng anh thèm thuốc, bởi vì giờ đây khi nhìn vào đám khói ở đằng xa phía trước mặt, anh cố buộc mình phải quen với ý nghĩ gay cấn: mặc dù đã trải qua biết bao nhiêu chặng đường, nhưng phía trước vẫn còn cả một cuộc chiến tranh.. ... Mời các bạn đón đọc Những Người Sống Và Những Người Chết của tác giả Konstantin Simonov.