
LIỆT TỬ - XUNG HƯ CHÂN KINH
沖虛真經 - 列子
沖虛真經:《沖虛真經》即《列子》,戰國時列禦寇著。唐玄宗於天寶元年詔封列子為「沖 虛真人」,尊其書為《沖虛真經》。道教奉為「四子」真經之一。該書多為寓言故事,大旨 宣揚道家清虛無為思想。 Sách Liệt Tử còn được tôn xưng là Xung Hư Chân Kinh, tương truyền do một người thuộc phái đạo gia là Liệt Ngự Khấu (430-349 trước CN).Liệt Ngự Khấu, sinh khoảng năm 430 (Khảo Vương) mất khoảng 349 (Hiển Vương) đời nhà Chu (TQ) soạn ra, nhưng truyền thuyết này còn bị đặt nhiều nghi vấn. Có lẽ nó là một công trình của tập thể nhiều thế hệ, đến đời Tấn (thế kỷ IV) được Trương Trầm sưu tập và chú giải, tôn là một kinh quan trọng của "Tứ Tử" . Bản lưu truyền đến nay gồm 8 thiên, trình bày tư tưởng Đạo gia qua nhiều truyền thuyết, huyền thoại, ngụ ngôn… có ý nghĩa hàm súc, tế nhị.
XUNG HƯ CHÂN KINH
《沖虛真經》
*** Gồm 8 chương: I. Thiên thuỵ 天瑞 II. Hoàng Đế 黃帝 III. Chu Mục vương 周穆王 IV. Trọng Ni 仲尼 V. Thang vấn 湯問 VI. Lực mệnh 力命
VI. Dương Chu 楊朱 VIII. Thuyết phù 說符
CHƯƠNG I
THIÊN THỤY
《沖虛真經》
天瑞 第一 子列子居鄭圃,四十年人無識者。 國君卿大夫視之,猶眾庶也。 國不足,將嫁於衛。 弟子曰:「先生往無反期,弟子敢有所謁;先生將何以教?先生不聞壺丘子林之言乎?」 子列子笑曰: 「壺子何言哉?雖然,夫子嘗語伯昏瞀人,吾側聞之,試以告女。其言曰:有生不生,有化 不化。不生者能生生,不化者能化化。生者不能不生,化者不能不化,故常生常化。常生常 化者,無時不生,無時不化。陰陽爾,四時爾,不生者疑獨,不化者往復。往復,其際不可 終;疑獨,其道不可窮。 《黃帝書》曰:「穀神不死,是謂玄牝。玄牝之門,是謂天地之根。綿綿若存,用之不勤。 」故生物者不生,化物者不化。自生自化,自形自色,自智自力,自消自息。謂之生化、形 色、智力、消息者,非也。」 Thầy Liệt Tử ở một khu vườn nước Trịnh, bốn chục năm mà không ai nghe danh, từ vua tới các quan khanh, đại phu đều coi thầy như người dân thường. Năm đó đói kém, thầy tính di cư qua nước Vệ. Đệ tử hỏi: - Thầy đi không biết bao giờ mới về. Bọn đệ tử chúng con muốn xin hỏi thầy: thầy có điều gì dạy chúng con không? Thầy đã được nghe Hồ Khâu Tử Lâm nói gì không? Thầy Liệt Tử cười mà đáp: - Thầy Hồ có nói gì đâu! Nhưng thầy có lần nói chuyện với Bá Hôn Mâu Nhân, ta đứng bên được nghe lóm, nay thử kể lại cho các anh. Thầy Hồ nói:
"Có một vật sinh ra các vật khác mà không được vật nào sinh ra cả, biến hoá các vật khác mà tự nó không biến hoá. Vậy cái không được sinh ra có thể sinh (làm chủ tể) các vật được sinh ra, cái không biến hoá có thể biến hoá (làm chủ tể) các vật biến hoá. Mà cái được sinh ra không thể không sinh cái khác, cái được biến hoá không thể không biến hoá; do đó mà sinh sinh, hoá hoá hoài, không thời nào không sinh. Do đó có âm dương, bốn mùa. Cái không được sinh ra, có thể là duy nhất, vô thuỷ vô chung; cái không biến hoá thì qua lại không cùng; cái đạo của cái duy nhất không thể dò được. Sách Hoàng Đế có câu: "Thần hang bất tử , gọi là Huyền tẫn. Cửa của Huyền tẫn là gốc của trời đất, dằng dặc như bất tuyệt, tạo thành mọi vật mà không mệt". Vì vậy mà vật nào sinh ra các vật khác thì không được sinh ra; vật nào biến hoá các vật khác thì không biến hoá. Nó tự sinh, tự hoá, tự thành hình, tự thành sắc, sáng suốt, tự có sức mạnh, tự tăng giảm. Nó tự nhiên như vậy, chứ không phải cố ý mà sinh hoá, thành hình, thành sắc, sáng suốt, có sức mạnh, tăng giảm. 子列子曰: 「昔者聖人因陰陽以統天地。夫有形者生於無形,則天地安從生? 故曰:有太易,有太初,有太始,有太素。太易者,未見氣也:太初者,氣之始也;太始者 ,形之始也;太素者,質之始也。 氣形質具而未相離,故曰渾淪。 渾淪者,言萬物相渾淪而未相離也。 視之不見,聽之不聞,循之不得,故曰易也。易無形埒,易變而為一,一變而為七,七變而 為九。 九變者,究也,乃複變而為一。 一者,形變之始也。清輕者上為天,濁重者下為地,沖和氣者為人;故天地含精,萬物化生 。」 Thầy Liệt Tử bảo:
- Các thánh nhân đời xưa cho rằng âm dương điều hoà trời đất (tức vũ trụ). Cái hữu hình từ cái vô hình mà ra, vậy thì trời đất ở đâu mà ra? Cho nên bảo rằng có cái Thái Dịch, cái Thái Sơ, cái Thái Thuỷ, cái Thái Tố. Cái Thái Dịch (cái Biến đổi lớn) là các (trạng thái) chưa thành khí; khi khí bắt đầu thành thì là cái Thái Sơ; khi hình bắt đầu thành thì là cái Thái Thuỷ, khi chất bắt đầu thành thì là cái Thái Tố.
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.