
TÔN TỬ BINH PHÁP - TỪ CHIẾN TRƯỜNG ĐẾN THƯƠNG TRƯỜNG
By Đông A Sáng
Copyring Đông A Sáng
Smashwords Edition.
MỤC LỤC
Chương một: TÔN TỬ VÀ TÔN TỬ BINH PHÁP
Chương hai:TÔN TỬ VÀ TÔN TỬ BINH PHÁP - ỨNG DỤNG VÀO THƯƠNG TRƯỜNG
Chương ba: NHỮNG MẪU CHUYỆN VỀ TÔN TỬ
PHỤ LỤC:TÔN TỬ BINH PHÁP (BẢN PHIÊN ÂM)
SÁCH THAM KHẢO
Chương một:TÔN TỬ VÀ TÔN TỬ BINH PHÁP
I. TÔN TỬ
Tôn Võ tự Trường Khanh, người nước Tề, vào cuối đời Xuân Thu (500 năm trước Công nguyên và sau Công nguyên). Tôn Võ được gọi là Tôn Tử, Tử là tiếng xưng hô, tỏ ý tôn trọng.
Nguyên, tổ tiên là họ Quỳ, người nước Trần ; nước Trần có nội loạn phải chạy sang nước Tề sinh sống và đổi thành họ Điền.
Hơn một trăm năm sống ở nước Tề, họ Điền ngày một đông đảo, nhiều người có tài về quân sự : Điền Vô Vũ (ông cố của Tôn Tử), Điền Thư (ông nội của Tôn Tử, làm đến chức Đại phu), Tôn Phùng (cha của Tôn Tử, làm đến chức Tề khanh), địa vị họ Điền ngày càng hiển hách, trở thành một đại gia tộc ở nước Tề, được vua Tề ban cho họ Tôn.
Dưới thời Tề Trang Công (553 - 548), nước Tề rơi vào cảnh nội loạn, bốn dòng họ lớn là họ Điền, họ Loan, họ Bào và họ Cao mâu thuẫn dữ dội, nên một chi phái họ Điền phải rời khỏi nước Tề sang nước Ngô.
Tôn Tử sống ẩn dật tại một vùng hẻo lánh của nước Ngô. Ngoài việc cày cấy để sinh nhai, ông còn thích nghiên cứu binh thư.
Do dòng họ có truyền thống quân sự, ở trong thời đại chiến tranh liên miên ; hơn nữa nước Ngô là một trong những trung tâm văn hoá, quân sự lúc bấy giờ. Đó là
những điều kiện giúp cho Tôn Tử thực hiện sở thích và nghiên cứu binh thư.
Ông thường dùng dao khắc vào thẻ tre, gỗ hoặc vẽ trên vải về những trận đánh đã xảy ra, vẽ bản đồ các trận đánh, ghi chú nguyên nhân thắng, bại của những trận đánh và những nhận định của mình. Không những vậy, ông còn đi đến những nơi xảy ra chiến tranh để nghiên cứu địa hình.
Suốt 20 năm nghiên cứu không mỏi mệt, dần dần hình thành những tư tưởng quân sự độc đáo, tức cuốn Tôn Tử binh pháp.
Nước Ngô lúc bấy giờ, vốn là kẻ thù truyền kiếp với nước Sở, luôn bị Sở gây hấn, chèn ép. Ngô Vương Hạp Lư mới lên ngôi, người trong nước và chư hầu chưa khâm phục. Hạp Lư là ông vua có chí lớn, muốn đánh bại nước Sở, xây dựng một đất nước hùng mạnh không kém các nước khác ở Trung Nguyên.
Vì vậy, ông sống rất cần kiệm, thi hành nhiều chính sách thu phục dân tâm và đặc biệt chú trọng đến chiêu hiền đãi sĩ. Một trong những người được Ngô Vương tin dùng là Ngũ Tử Tư. Ngũ Tử Tư vốn quen biết và khâm phục Tôn Tử, nên đã dâng binh thư tiến cử Tôn Tử với Ngô Vương.
Ngô Vương xem binh thư rất say mê, hứng thú, khi đến chỗ hay thì vỗ tay, đánh nhịp, khen ngợi hết lời. Ông nôn nóng sai Ngũ Tử Tư đem lễ vật, tỏ lòng tôn trọng, mời ngay Tôn Tử.
Tôn Tử hết sức từ chối nhưng vì nể Ngũ Tử Tư và cũng muốn đem sở học của mình ra thi thố, cuối cùng đã nhận lời Ngô Vương.
Sau mười năm giúp Hạp Lư đánh Sở, xưng hùng thành công, Tôn Tử khẩn khoản xin cáo lui, về ẩn dật tại quê nhà. Về sau, không còn ai biết tung tích.
Có thuyết cho rằng, Tôn Tử thấy Hạp Lư quá tàn bạo và tiên đoán nước Ngô sẽ mất về tay nước Việt, nên thoái ẩn.
Tư Mã Thiên nói : Ngô Vương Hạp Lư biết rõ Tôn Võ là người giỏi dụng binh, nên đã mời ông làm đại tướng.
Dưới sự chỉ huy của Tôn Võ, quân Ngô tiến về tây đánh bại nước Sở, vốn là một cường quốc.
Chỉ năm trận đánh, quân Ngô đã chiếm được Sính Đô làm rung chuyển cả hai nước lớn ở Trung Nguyên nằm về phía bắc là Tề và Tấn. Nhờ đó mà uy danh của nước Ngô nổi bật trong các nước chư hầu.
Tất cả những thành tích đó đều không thể tách rời công lao của Tôn Võ.
Nước Ngô dùng Tôn Võ làm tướng, chấn chỉnh quân pháp, thưởng phạt nghiêm minh, quân lực nhờ đó mà mạnh lên và đã xưng bá trong các nước chư hầu.
II. TÔN TỬ BINH PHÁP
Tôn Tử binh pháp là cuốn binh thư bàn về quân sự xuất hiện sớm nhất và ảnh hưởng sâu xa đối với lịch sử quân sự Trung Hoa và thế giới.
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.