Quảng cáo
Kinh Dịch - Trí huệ và quyền biến (Mưu của người quân tử) - Quyển hạ
QR

Kinh Dịch - Trí huệ và quyền biến (Mưu của người quân tử) - Quyển hạ

Nguồn: dantocking.com

Kinh Dịch xuất hiện từ thời thượng cổ, là cuốn Kinh đứng đầu những cuốn Kinh – quần Kinh chi thủ của Trung Hoa. Từ khi ra đời cho đến nay, Kinh Dịch đã cuốn hút không biết bao nhiêu nhà nghiên cứu thuộc nhiều thế hệ.

Kinh Dịch xuất hiện từ thời thượng cổ, là cuốn Kinh đứng đầu những cuốn Kinh – quần Kinh chi thủ của Trung Hoa.

Từ khi ra đời cho đến nay, Kinh Dịch đã cuốn hút không biết bao nhiêu nhà nghiên cứu thuộc nhiều thế hệ.

Kinh Dịch không chỉ là thế giới hấp dẫn đối với các học giả Trung Quốc, học giả các nước phương Đông như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, mà còn hấp dẫn các nhà nghiên cứu ở các nước phương Tây như Anh, Pháp, Mĩ, Đức. Kinh Dịch bao gồm cả Đạo Trời – Đạo Đất – Đạo Người. Riêng Đạo Người, Kinh Dịch có 64 quẻ, tượng trưng các thời ; 384 hào tượng trưng 384 nhân vật điển hình, thiện có, ác có, sang có, hèn có ; mỗi nhân vật ở trong hoàn cảnh đặc biệt và có thời riêng. Trong thời chung, thời cơ riêng, ở hoàn cảnh đặc biệt, mỗi nhân vật điển hình trong Kinh Dịch thường đứng giữa ranh giới thiện – ác, tối – sáng, hoạ – phúc, thuận – nghịch, lợi – hại, tốt – xấu … chọn hướng nào là ẩn số của bài toán ở đời? Phù hiệu, văn tự của mỗi quẻ, mỗi hào là những dữ kiện của những bài toán ấy. Dịch là biến dịch, biến hoá ; quan trọng của Dịch là chữ Thời. Các nhà nghiên cứu thường dựa vào các dữ kiện tìm ra đáp số là lợi hay hại, thuận hay nghịch, xấu hay tốt.

Kinh Dịch không chỉ là thế giới hấp dẫn đối với các học giả Trung Quốc, học giả các nước phương Đông như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, mà còn hấp dẫn các nhà nghiên cứu ở các nước phương Tây như Anh, Pháp, Mĩ, Đức.

Kinh Dịch bao gồm cả Đạo Trời – Đạo Đất – Đạo Người. Riêng Đạo Người, Kinh Dịch có 64 quẻ, tượng trưng các thời ; 384 hào tượng trưng 384 nhân vật điển hình, thiện có, ác có, sang có, hèn có ; mỗi nhân vật ở trong hoàn cảnh đặc biệt và có thời riêng.

Trong thời chung, thời cơ riêng, ở hoàn cảnh đặc biệt, mỗi nhân vật điển hình trong Kinh Dịch thường đứng giữa ranh giới thiện – ác, tối – sáng, hoạ – phúc, thuận – nghịch, lợi – hại, tốt – xấu … chọn hướng nào là ẩn số của bài toán ở đời? Phù hiệu, văn tự của mỗi quẻ, mỗi hào là những dữ kiện của những bài toán ấy.

Dịch là biến dịch, biến hoá ; quan trọng của Dịch là chữ Thời. Các nhà nghiên cứu thường dựa vào các dữ kiện tìm ra đáp số là lợi hay hại, thuận hay nghịch, xấu hay tốt.

Mở đầu Thượng kinh là hai quẻ Càn – Khôn, mở đầu Hạ kinh là quẻ Hàm, nam – nữ gặp nhau ; thể hiện tam tài Thiên – Địa – Nhân hoặc Thiên – Nhân hợp nhất. Thứ tự quẻ, tự quái giải thích như sau : Đầu tiên có Trời Đất, sau mới có vạn vật, đã có vạn vật, sau mới có trai gái, có trai gái mới có âm dương giao kết mà thành vợ chồng, đã có vợ chồng mới có công sinh dục mới thành cha con. Vậy sau mới thành trật tự loài người, mới sinh ra quân thần, đã có quân thần mới có chế độ mà chia ra trên dưới, đã có trên dưới, vậy sau mới đặt ra lễ nghĩa, mới có chỗ thực hành. (Hữu thiên địa, nhiên hậu hữu vạn vật, hữu vạn vật, nhiên hậu hữu nam nữ, hữu nam nữ, nhiên hậu hữu phu phụ, hữu phu phụ, nhiên hậu hữu phụ tử. Hữu liễu phụ tử nhiên hữu quân thần, hữu liễu quân thần, nhiên hậu hữu thượng hạ, hữu liễu thượng hạ, nhiên hậu lễ nghĩa hữu sở kiến lập, hữu sở thực chi.

Mở đầu Thượng kinh là hai quẻ Càn – Khôn, mở đầu Hạ kinh là quẻ Hàm, nam – nữ gặp nhau ; thể hiện tam tài Thiên – Địa – Nhân hoặc Thiên – Nhân hợp nhất.

Thứ tự quẻ, tự quái giải thích như sau : Đầu tiên có Trời Đất, sau mới có vạn vật, đã có vạn vật, sau mới có trai gái, có trai gái mới có âm dương giao kết mà thành vợ chồng, đã có vợ chồng mới có công sinh dục mới thành cha con. Vậy sau mới thành trật tự loài người, mới sinh ra quân thần, đã có quân thần mới có chế độ mà chia ra trên dưới, đã có trên dưới, vậy sau mới đặt ra lễ nghĩa, mới có chỗ thực hành.

(Hữu thiên địa, nhiên hậu hữu vạn vật, hữu vạn vật, nhiên hậu hữu nam nữ, hữu nam nữ, nhiên hậu hữu phu phụ, hữu phu phụ, nhiên hậu hữu phụ tử. Hữu liễu phụ tử nhiên hữu quân thần, hữu liễu quân thần, nhiên hậu hữu thượng hạ, hữu liễu thượng hạ, nhiên hậu lễ nghĩa hữu sở kiến lập, hữu sở thực chi.

Xem trước nội dung

KINH DỊCH - TRÍ HUỆ VÀ QUYỀN BIẾN (QUYỂN HẠ)

By Đông A Sáng

Copyring Đông A Sáng

Smashwords Edition.

T

MỤC LỤC:

Phần ba :KINH DỊCH (HẠ KINH - QUẺ 31 - 64)

Phần bốn :TRUYỆN

SÁCH THAM KHẢO

AUTHOR

Phần ba : :KINH DỊCH (HẠ KINH - QUẺ 31 - 64)

31. TRẠCH SƠN HÀM TÊN QUẺ

Kinh Dịch gồm có 64 quẻ, 30 quẻ đầu gọi là Thượng kinh, 34 quẻ còn lại gọi là Hạ kinh.

Mở đầu Thượng kinh là hai quẻ Càn – Khôn, mở đầu Hạ kinh là quẻ Hàm, nam – nữ gặp nhau ; thể hiện tam tài Thiên – Địa – Nhân hoặc Thiên – Nhân hợp nhất.

Thứ tự quẻ, tự quái giải thích như sau : Đầu tiên có Trời Đất, sau mới có vạn vật, đã có vạn vật, sau mới có trai gái, có trai gái mới có âm dương giao kết mà thành vợ chồng, đã có vợ chồng mới có công sinh dục mới thành cha con. Vậy sau mới thành trật tự loài người, mới sinh ra quân thần, đã có quân thần mới có chế độ mà chia ra trên dưới, đã có trên dưới, vậy sau mới đặt ra lễ nghĩa, mới có chỗ thực hành.

(Hữu thiên địa, nhiên hậu hữu vạn vật, hữu vạn vật, nhiên hậu hữu nam nữ, hữu nam nữ, nhiên hậu hữu phu phụ, hữu phu phụ, nhiên hậu hữu phụ tử. Hữu liễu phụ tử nhiên hữu quân thần, hữu liễu quân thần, nhiên hậu hữu thượng hạ, hữu liễu thượng hạ, nhiên hậu lễ nghĩa hữu sở kiến lập, hữu sở thực chi.

HÌNH QUẺ

Dưới Cấn - sơn, trên Đoài - trạch, gọi là Trạch Sơn Hàm.

Dưới là Cấn, thuộc quẻ dương, tượng trưng cho biết dừng, tri chỉ, là thiếu nam ; trên là Đoài, thuộc quẻ âm, tượng trưng hoà duyệt, vui vẻ, là thiếu nữ, là sự chuyên nhất.

Dương cảm ứng với âm ; thiếu nam biết dừng, biết cung kính, tìm thiếu nữ ; thiếu nữ cảm động, hoà duyệt, vui vẻ mà chuyên nhất với thiếu nam ; nam nữ tâm đầu ý hợp, rất mực chung tình.

Dưới Cấn - núi, thuộc dương cương ; trên Đoài - đầm, thuộc âm nhu. Đầm có tính chảy xuống, thấm nhuần xuống dưới ; núi nhận được sự thấm, nhuận.

Núi làm cho nước chằm thêm đẹp, nước chằm làm cho núi tươi nhuận, hai khí âm dương giao lưu với nhau, cảm thông tương ứng, hoà hợp với nhau, gọi là hàm.

Chữ hàm còn có những nghĩa sau :

Chữ hàm, có chữ tâm, gần với chữ cảm , có bộ tâm ; hàm là cảm ứng vô tâm, là chân cảm, phát sinh tự nhiên từ khí, và đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu, là hợp với Thiên đạo ; cảm là giao cảm hữu tâm, là tư tâm, không hợp với Thiên đạo.

Tạp quái truyện giải thích : Hàm là nhanh (hàm tốc giả). Do tính khác nhau, dị tính, nên thanh niên nam nữ gặp nhau cảm ứng một cách nhanh chóng, theo lẽ tự nhiên.

Khổng Sơ giải thích, chữ cảm ở đây có nghĩa là hoà hợp (hoà).

SOÁN TỪ

Hàm, hanh, lợi trinh, thủ (thú) nữ cát.

Hàm là cảm ứng, cảm ứng nên hanh thông (hàm hanh) ; vì cảm ứng theo Thiên đạo, nên trinh chính, không tà vạy, nên lợi (lợi trinh) như việc lấy vợ, gặp được vợ cũng trinh chính, là tốt lành (thú nữ cát).

Nếu trai gái, vợ chồng, trên dưới, mọi mối quan hệ giao cảm với nhau, theo tư tâm, không trinh chính, thì chưa chắc đã được hanh thông (hanh), chưa chắc có lợi (lợi) và chưa chắc đã tốt lành (cát).

SOÁN TRUYỆN

Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.

Quảng cáo
Quảng cáo