
Kinh Dịch Trọn Bộ – Ngô Tất Tố
Bộ sách Kinh Dịch Trọn Bộ là kết tinh trí tuệ của văn hóa Trung Hoa cổ đại.
Kinh Dịch phát hiện tính quy luật và phương pháp nhận thức, dự đoán, xử lý sự vật, và với ý nghí nghĩa phương pháp luận này, nó có ảnh hưởng quan trọng đối với nhiều lĩnh vực như triết học, khoa học xã hội, văn hóa nghệ thuật… của Trung Hoa từ xưa đến nay.
Lật mở từng trang sách Kinh Dịch, bạn sẽ có cảm giác nhẹ nhàng, khoan khoái, bạn hẳn sẽ không nghĩ rằng quản lý trong học thuật truyền thống lại được viết ra gần gũi, dễ hiểu đến thế.
Ở đó, bạn không hề thấy bất kỳ hơi thở nào mang âm hưởng nghiên cứu Nho giáo, càng không hề thấy chỗ nào khó hiểu cả.
Phong Thủy Huyền Không Phi Tinh Chuyện Tình Qua Nhiều Kiếp Luân Hồi Một Linh Hồn Nhiều Thể XácĐáng quý hơn là, bạn sẽ thấy mỗi một điểm trong cuốn sách này đều liên quan mật thiết đến công việc của bản thân mình. Mỗi một quan điểm, mỗi một kiến giải trong đó đều giúp chúng ta thoát ra khỏi khó khăn và cản trở để trưởng thành trong công việc.
Dịch có bốn điều thuộc về Đạo của thánh nhân: để Nói thì chuộng Lời, để Hành động thì chuộng sự Biến đổi, để chế Đồ đạc thì chuộng Hình tượng, để Bói toán thì chuộng lời Chiêm đoán của nó. Cái lẽ lành, dữ, tiêu, lớn, cái đạo tiến, lui, còn, mất, có đủ ở Lời. Suy Lời xét Quẻ, có thể biến sự Biến đổi, thì sự Chiêm đoán tự nhiên ngụ ở trong đó.
Quân tử khi ở yên thì coi Hình tượng và gẫm Lời lẽ của nó, khi hành động thì coi sự Biến đổi mà gẫm lời suy đoán của nó. Hiểu Lời mà không đạt ý của nó thì có, chứ chưa có ai không hiểu Lời mà thông được Ý của nó bao giờ…” (Hà Nam Trình Di Chính Thúc Tự).
KINH DỊCH TRỌN BỘ
NGÔ TẤT TỐ
(Dịch và chú giải)
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà Xuất Bản
Mục lục
NHỮNG ĐIỀU NÊN BIẾT
TỰA CỦA TRÌNH DI
ĐỒ THUYẾT CỦA CHU HY
DỊCH THUYẾT CƯƠNG LĨNH
CHU DỊCH THƯỢNG KINH
QUẺ KIỀN
QUẺ KHÔN
QUẺ TRUÂN
QUẺ MÔNG
QUẺ NHU
QUẺ TỤNG
QUẺ SƯ
QUẺ TỴ
QUẺ TIỂU SÚC
QUẺ LÝ
QUẺ THÁI
QUẺ BĨ
QUẺ ĐỒNG NHÂN
QUẺ ĐẠI HỮU
QUẺ KHIÊM
QUẺ DỰ
QUẺ TÙY
QUẺ CỔ
QUẺ LÂM
QUẺ QUÁN
QUẺ PHỆ HẠP
QUẺ BÍ
QUẺ BÁC
QUẺ PHỤC
QUẺ VÔ VỌNG
QUẺ ĐẠI SÚC
QUẺ DI
QUẺ ĐẠI QUÁ
QUẺ TẬP KHẢM
QUẺ LY
CHU DỊCH HẠ KINH
QUẺ HÀM
QUẺ HẰNG
QUẺ ĐỘN
QUẺ ĐẠI TRÁNG
QUẺ TẤN
QUẺ MINH DI
QUẺ GIA NHÂN
QUẺ KHUÊ
QUẺ KIỂN
QUẺ GIẢI
QUẺ TỔN
QUẺ ÍCH
QUẺ QUẢI
QUẺ CẤU
QUẺ TỤY
QUẺ THĂNG
QUẺ KHỐN
QUẺ TỈNH
QUẺ CÁCH
QUẺ ĐỈNH
QUẺ CHẤN
QUẺ CẤN
QUẺ TIỆM
QUẺ QUI MUỘI
QUẺ PHONG
QUẺ LỮ
QUẺ TỐN
QUẺ ĐOÁI
QUẺ HOÁN
QUẺ TIẾT
QUẺ TRUNG PHU
QUẺ TIỂU QUÁ
QUẺ KÝ TẾ
QUẺ VỊ TẾ
Trong lĩnh vực khảo cứu, dịch thuật, Ngô Tất Tố là người có những công trình nghiêm túc, như bộ Việt Nam văn học (Tập I - Lý, Tập II - Trần), các bộ Hoàng Lê nhất thống chí, Đường Thi, Lão Tử, Mặc Tử, Kinh dịch… đều được ông dịch và chú giải rõ ràng. Trong Kinh dịch các yếu tố duy vật, tiến bộ của học thuyết Mặc Địch, các triết lý nhân sinh trong Kinh dịch được Ngô Tất Tố trình bày một cách khách quan khoa học. Ông cho rằng, đây là một cuốn sách lạ trong văn học giới của nhân loại, là bộ sách cổ triết học phương Đông. Nhưng Kinh dịch không như Kinh Thi, Kinh Thư; nó là thứ sách nói hết sự lý vô cùng, vô tận của thiên hạ đời sau, chỉ một hai chữ đã là một cái đạo lý…
Giới thiệu Kinh dịch của Ngô Tất Tố, chúng tôi mong cung cấp một cuốn sách khảo sát giúp bạn đọc hiểu thêm về văn học cổ Trung Hoa từ thời Phục Hy tới Xuân Thu, Hán, Đường… cũng đồng thời giúp các nhà nghiên cứu Hán Nho, bộ sách cổ xưa ẩn khuât bao niềm triết lý về tu, tề, trị, bình và cách xem hình tượng, chiêm đoán để tham khảo, ngẫm suy lẽ hay.
NHỮNG ĐIỀU NÊN BIẾT
(Lời người dịch)
1- LAI LỊCH CỦA KINH DỊCH
Cứ như Tiên nho - từ Hán nho đến Minh nho, đã nói thì Kinh dịch bắt đầu ra đời từ vua Phục Hy, một ông vua về đời thần thoại trong sử Tàu, cũng gọi Bào Hy, không
biết cách đây mấy nghìn hay mấy vạn năm. Lúc ấy Hoàng Hà có con long mã[1] hiện hình lưng nó có khoáy thành đảm, từ một đến chín, vua ấy coi những khoáy đó, mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch ra thành nét. Đầu tiên vạch một nét liền, tức là “vạch lẻ” để làm phù hiệu cho khí Dương, và một nét đứt, tức là “vạch chẵn” để làm phù hiệu cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là hai Nghi. Trên mỗi Nghi thêm một nét nữa, thành ra bốn cái “hai vạch”, gọi là bốn Tượng. Trên mỗi Tượng lại
vạch thêm một vạch nữa, thành ra tám cái “ba vạch”, gọi là tám Quẻ[2]. Sau cùng, vua ấy lại đem Quẻ nọ chồng lên Quẻ kia, điên đảo khắp lượt, thành ra sáu mươi tư
cái “sáu vạch”, gọi là sáu mươi tư Quẻ[3]. Từ thời Phục Hy đến cuối nhà Thương,
Kinh dịch vẫn chỉ là một mớ vạch liền, vạch đứt, chưa có tên hiệu chữ nghĩa gì cả[4].
Sang đầu nhà Chu (Trước lịch Tây độ hơn nghìn năm), Văn Vương mới đem những quẻ của Phục Hy mà đặt từng tên và diễn thêm lời ở dưới mỗi quẻ để nói về sự lành dữ của cả quẻ, như chữ 元亨利貞(Nguyên hanh lợi trinh) ở quẻ Kiền, hay chữ 元亨 利牝馬之負 (nguyên hanh lợi tẩn mã chi trịnh) ở quẻ Khôn v.v… Lời đó vẫn gọi là
Lời Quẻ 卦辭 (quái tử) hay Lời Thoán 彖辭 (Thoán từ)[5].
Kế đó, Cơ Đán, tức Chu Công, con trai thứ Văn Vương, lại theo số vạch của các quẻ mà chia mỗi quẻ ra làm sáu phần, mỗi phần gọi là một hào, và dưới mỗi hào đều có thêm một hoặc vài câu, để nói về sự lành dữ của từng hào, như câu 初九:潜龍勿用: (Sơ Cửu: tiềm long vật dụng) hay câu 九二:克龍在田 (Cửu Nhị hiện long tại điền),
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.